0888889366
timeline_post_file628ef1254bd0a-businessman-checking-documents-table.jpg.webp

Đặc điểm pháp lý của khu công nghiệp theo luật đầu tư

Khái niệm khu công nghiệp

Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP quy định v ề quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế thì: 

l. Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lỷ xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này. Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hô trợ, khu công nghiệp sinh thái (sau đây gọi chung là Khu công nghiệp, trừ trường hợp có quy định riêng đối với từng loại hình)....”

Từ đó, ta có thể rút ra khái niệm: 

Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được quy hoạch tại những vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, trong đó, tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Khu công nghiệp là công cụ của chính sách công nghi ệp nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, đồng thời cũng là địa b àn để thực hiện chiến lược công ngiệp hóa, hiện đại hóa trên phạm vi lãnh thổ nhất định.

Phân loại khu công nghiệp

Khu công nghiệp bao gồm: 

+ Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; 

+ Khu công nghiệp hỗ trợ là khu công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. 

+ Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp.

Đặc điểm pháp lý của khu công nghiệp

Về không gian

Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các vùng lãnh thổ khác và thường không có dân cư sinh sống. 

+ Về mặt địa lý: 

Khu công nghiệp có hệ thống hàng rào khu công nghiệp, phân biệt với các vùng còn lại thuộc lãnh thổ quốc gia. Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh bên trong hàng rào đó, không chỉ được điều chỉnh bởi quy định pháp luật hiện hành, mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng dành cho khu công nghiệp và được hưởng nhiều với mức ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác. Sự phân định ranh giới này còn là điều kiện để xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan hoạt động trong khu công nghiệp đối với các chủ thể khác. Để tạo điều kiện thu hút đầu tư, Nhà nước thực hiện các phương án đầu tư phát triển hạ tầng bên trong hàng rào khu công nghiệp như giải quyết vấn đề mặt bằng, cầu đường, điện nước, kho bãi, nhà xưởng, hệ thống xử lý chất thải... Các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng nêu trên được thực hiện từ khi thành lập khu công nghiệp nhằm giúp các nhà đầu tư có thể thực hiện dự án đầu tư kịp tiến độ, tránh mất thời gian, sức lực vào chuẩn bị mặt bằng, kết cấu cơ sở hạ tầng. 

+ Về vấn đề dân cư trong khu công nghiệp, do liên quan đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam quy định không có khu dân cư sinh sống trong khuôn khổ các khu công nghiệp được thành lập theo quy hoạch. Việc quy định như này sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư phát triển hạ tầng, thực hiện triệt để việc bảo vệ môi trường và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng.

Về chức năng hoạt động 

Khu công nghiệp là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Ví dụ như sản xuất, lắp ráp điện tử, ô tô, dệt may,... Cho dù các tổ chức kinh tế được thành lập có thể thuộc mọi hình thức sở hữu khác nhau thì lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp này là sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Vì vậy, trong khu công nghiệp không có các hoạt động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho các loại hình sản xuất này.

Về thủ tục thành lập

 Khu công nghiệp không phải là khu vực được thành lập tự phát mà được thành lập theo quy định của Chính phủ, tên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt. Khu công nghiệp không đơn thuần chỉ là khu vực tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp mà đó là mô hình kinh tế có sự đầu tư từ phía nhà nước nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Để phát triển các khu công nghiệp, Nhà nước phải thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi, bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế chính sách toàn diện. Vì vậy, Nhà nước xây dựng quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, thẩm định kỹ trước khi thành lập và triển khai xây dựng chúng. Trên cơ sở quy ho ạch đã phê duyệt, dự án đầu tư đã được thẩm định bởi các cấp có thẩm quyền thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh sẽ ban hành Quyết định thành lập khu công nghiệp. Trình tự quy hoạch, thành lập, mở rộng khu công nghiệp đã được quy định tại Điều 4 Nghị định số 82/2018/NĐ- CP về quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế:

“Điều 4. Trình tự quy hoạch, thành lập, mở rộng khu công nghiệp 

1. Hồ sơ, thủ tục điều chỉnh quy hoạch, bổ sung khu công nghiệp vào quy hoạch phát triển khu công nghiệp theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10 và Điều 11 của Nghị định này. Trường hợp điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khu công nghiệp nằm trong khu kinh tế thì thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế theo quy định pháp luật về xây dựng.

2. Trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đổi với dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, bao gồm cả khu công nghiệp trong khu kinh tế thực hiện theo quy định pháp luật về đầu tư, trừ các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp sử dụng vổn đầu tư công thực hiện theo quy định pháp luật về đầu tư công. 

3. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp thực hiện theo pháp luật đầu tư. 

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định thành lập khu công nghiệp, khu công nghiệp mở rộng theo quy định tại Điều 13 Nghị định này.” 

Về đầu tư cho xuất khẩu

Theo quy định c ủa pháp luật hiện hành, trong khu công nghiệp có thể có khu vực hoặc doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu, được gọi là khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất. Cụ thế , được quy định điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP về quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế: “...Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hô trợ, khu công nghiệp sinh thái (sau đây gọi chung là Khu công nghiệp, trừ trường hợp có quy định riêng đối với từng loại hình). 

Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này. 

Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;...” Trong phạm vi khu công nghiệp có thể thành lập khu vực riêng, gọi là khu chế xuất, chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và c ác dịch vụ thu ngoại tệ. Khác với mục đích của khu công nghiệp thông thường là đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phục vụ chủ yếu nhu cầu tiêu dùng trong nước thì mục đích của khu chế xuất là sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ phục vụ sản xuất để xuất khẩu ra nước ngoài. Khu chế xuất có ranh giới địa lý phân biệt với các khu vực còn lại của khu công nghiệp và áp dụng quy chế pháp lý riêng.

Lâm Sơn
192 ngày trước
Đặc điểm pháp lý của khu công nghiệp theo luật đầu tư
Khái niệm khu công nghiệpTheo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP quy định v ề quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế thì: “l. Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lỷ xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này. Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hô trợ, khu công nghiệp sinh thái (sau đây gọi chung là Khu công nghiệp, trừ trường hợp có quy định riêng đối với từng loại hình)....”Từ đó, ta có thể rút ra khái niệm: Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được quy hoạch tại những vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, trong đó, tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Khu công nghiệp là công cụ của chính sách công nghi ệp nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, đồng thời cũng là địa b àn để thực hiện chiến lược công ngiệp hóa, hiện đại hóa trên phạm vi lãnh thổ nhất định.Phân loại khu công nghiệpKhu công nghiệp bao gồm: + Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; + Khu công nghiệp hỗ trợ là khu công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. + Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp.Đặc điểm pháp lý của khu công nghiệpVề không gianKhu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các vùng lãnh thổ khác và thường không có dân cư sinh sống. + Về mặt địa lý: Khu công nghiệp có hệ thống hàng rào khu công nghiệp, phân biệt với các vùng còn lại thuộc lãnh thổ quốc gia. Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh bên trong hàng rào đó, không chỉ được điều chỉnh bởi quy định pháp luật hiện hành, mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng dành cho khu công nghiệp và được hưởng nhiều với mức ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác. Sự phân định ranh giới này còn là điều kiện để xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan hoạt động trong khu công nghiệp đối với các chủ thể khác. Để tạo điều kiện thu hút đầu tư, Nhà nước thực hiện các phương án đầu tư phát triển hạ tầng bên trong hàng rào khu công nghiệp như giải quyết vấn đề mặt bằng, cầu đường, điện nước, kho bãi, nhà xưởng, hệ thống xử lý chất thải... Các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng nêu trên được thực hiện từ khi thành lập khu công nghiệp nhằm giúp các nhà đầu tư có thể thực hiện dự án đầu tư kịp tiến độ, tránh mất thời gian, sức lực vào chuẩn bị mặt bằng, kết cấu cơ sở hạ tầng. + Về vấn đề dân cư trong khu công nghiệp, do liên quan đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam quy định không có khu dân cư sinh sống trong khuôn khổ các khu công nghiệp được thành lập theo quy hoạch. Việc quy định như này sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư phát triển hạ tầng, thực hiện triệt để việc bảo vệ môi trường và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng.Về chức năng hoạt động Khu công nghiệp là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Ví dụ như sản xuất, lắp ráp điện tử, ô tô, dệt may,... Cho dù các tổ chức kinh tế được thành lập có thể thuộc mọi hình thức sở hữu khác nhau thì lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp này là sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Vì vậy, trong khu công nghiệp không có các hoạt động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho các loại hình sản xuất này.Về thủ tục thành lập Khu công nghiệp không phải là khu vực được thành lập tự phát mà được thành lập theo quy định của Chính phủ, tên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt. Khu công nghiệp không đơn thuần chỉ là khu vực tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp mà đó là mô hình kinh tế có sự đầu tư từ phía nhà nước nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Để phát triển các khu công nghiệp, Nhà nước phải thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi, bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế chính sách toàn diện. Vì vậy, Nhà nước xây dựng quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, thẩm định kỹ trước khi thành lập và triển khai xây dựng chúng. Trên cơ sở quy ho ạch đã phê duyệt, dự án đầu tư đã được thẩm định bởi các cấp có thẩm quyền thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh sẽ ban hành Quyết định thành lập khu công nghiệp. Trình tự quy hoạch, thành lập, mở rộng khu công nghiệp đã được quy định tại Điều 4 Nghị định số 82/2018/NĐ- CP về quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế:“Điều 4. Trình tự quy hoạch, thành lập, mở rộng khu công nghiệp 1. Hồ sơ, thủ tục điều chỉnh quy hoạch, bổ sung khu công nghiệp vào quy hoạch phát triển khu công nghiệp theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10 và Điều 11 của Nghị định này. Trường hợp điều chỉnh, bổ sung quy hoạch khu công nghiệp nằm trong khu kinh tế thì thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế theo quy định pháp luật về xây dựng.2. Trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đổi với dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, bao gồm cả khu công nghiệp trong khu kinh tế thực hiện theo quy định pháp luật về đầu tư, trừ các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp sử dụng vổn đầu tư công thực hiện theo quy định pháp luật về đầu tư công. 3. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp thực hiện theo pháp luật đầu tư. 4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định thành lập khu công nghiệp, khu công nghiệp mở rộng theo quy định tại Điều 13 Nghị định này.” Về đầu tư cho xuất khẩuTheo quy định c ủa pháp luật hiện hành, trong khu công nghiệp có thể có khu vực hoặc doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu, được gọi là khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất. Cụ thế , được quy định điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP về quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế: “...Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hô trợ, khu công nghiệp sinh thái (sau đây gọi chung là Khu công nghiệp, trừ trường hợp có quy định riêng đối với từng loại hình). Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này. Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;...” Trong phạm vi khu công nghiệp có thể thành lập khu vực riêng, gọi là khu chế xuất, chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và c ác dịch vụ thu ngoại tệ. Khác với mục đích của khu công nghiệp thông thường là đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phục vụ chủ yếu nhu cầu tiêu dùng trong nước thì mục đích của khu chế xuất là sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ phục vụ sản xuất để xuất khẩu ra nước ngoài. Khu chế xuất có ranh giới địa lý phân biệt với các khu vực còn lại của khu công nghiệp và áp dụng quy chế pháp lý riêng.