0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c33f522897d-Cơ-sở-lý-thuyết-về-hiệu-quả-hoạt-động-công-ty-đầu-tư-vốn-nhà-nước-.jpg.webp

Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động công ty đầu tư vốn nhà nước

2.1. Các khái niệm liên quan

2.1.1. Quỹ đầu tư quốc gia trên thế giới

 Có nhiều định nghĩa cho công ty đầu tư vốn nhà nước, trên thế giới gọi là Quỹ đầu tư quốc gia SWF (Sovereign Wealth Fund), nên không có định nghĩa nào được chấp nhận hoàn toàn, sau đây là một số định nghĩa SWF: Theo Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Quỹ đầu tư quốc gia là những quỹ đầu tư công thuộc quyền sở hữu và quản lý của Nhà nước, quản lý và đầu tư tài sản tài chính trong dài hạn, chiến lược đầu tư hướng đến những mục tiêu kinh tế vĩ mô. Theo “Nguyên tắc Santiago” của Diễn đàn SWF quốc tế (IWG – International Working Group on SWF), Quỹ đầu tư quốc gia được định nghĩa như những quỹ đầu tư thuộc định chế công có mục tiêu hoạt động xác định rõ ràng của quốc gia đó.

Nhìn chung Quỹ này có những đặc điểm chính như sau: Quỹ đầu tư quốc gia (SWF) là quỹ do nhà nước sở hữu, đầu tư vào các tài sản thực và tài sản tài chính, như cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, kim loại quý và các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tư nhân. Ngoài các tài sản trong nước, các SWF có thể đầu tư trên khắp thế giới. Hầu hết các SWF được tài trợ bởi các nguồn thu từ xuất khẩu hàng hóa hoặc từ nguồn dự trữ ngoại hối tại ngân hàng trung ương. Ngoài ra, cũng có các trường hợp SWF được tài trợ bằng các nguồn là thặng dư ngân sách chính phủ hoặc các nguồn quỹ hưu trí (Butt và cộng sự, 2008). Các nguồn dự trữ này được dành riêng cho mục đích đầu tư nhằm làm lợi cho nền kinh tế của một quốc gia và dân chúng. Tính từ năm 2005 cho đến nay, có hơn 40 SWF được thành lập và số vốn được quản lý bởi các SWF trong năm 2019 lên đến hơn 3.400 tỷ USD (SWFI).

SWF đã hoạt động trên 5 thập kỷ, trong vài năm gần đây các SWF đã gia tăng mạnh về số lượng cũng như hoạt động đầu tư. SWF có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí: mục tiêu hoạt động, nguồn hình thành quỹ hay mức độ minh bạch. Theo tổ chức SWFI, mỗi SWF có mục tiêu riêng, nhưng nhìn chung có thể tóm thành một số mục tiêu sau: (1) Tài trợ cho các dự án xã hội hay kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng và giải quyết việc làm; (2) Tăng quyền lực chính trị cho các chính trị gia và tăng khả năng nhận phiếu bầu của cử tri; (3) Tạo điều kiện cho vốn tăng trưởng cho các doanh nghiệp trong nước; (4) Bảo vệ nền kinh tế khỏi sự biến động quá mức do doanh thu hoặc xuất khẩu; (5) Cung cấp sự ổn định chống biến động giá dầu.

Nếu căn cứ vào nguồn hình thành quỹ, SWF có thể chia làm 2 loại. Trong nhóm đầu tiên là các quỹ có nguồn tài trợ từ doanh thu xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo, đặc biệt là dầu khí và các quỹ có được tài sản của các quỹ thông qua thuế thu được của chính phủ. Nhóm thứ hai bao gồm các quốc gia tài trợ cho SWF của họ bằng cách cho phép SWF được quản lý một phần dự trữ ngoại hối như Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc. Đây cũng là lý do các quỹ này được gọi là các quỹ đầu tư vốn nhà nước phi hàng hóa (non-commodity SWF). Về mức độ minh bạch, mức minh bạch của các quỹ đầu tư nhà nước khác nhau. Một số rất minh bạch và các quỹ này công bố thông tin về nắm giữ cổ phiếu vào mỗi quý, trong khi các quỹ khác không công bố thông tin này.

Một số quỹ quan trọng suất sinh lời hơn thanh khoản và do đó có thể chấp nhận rủi ro cao hơn so với các Quỹ dự trữ ngoại hối truyền thống (theo SWFI). Ngoài ra, mức độ rủi ro có thể được chấp nhận bởi SWF cũng sẽ khác nhau tùy theo quốc gia. Các quốc gia có quan ngại về thanh khoản chỉ đầu tư vào các công cụ nợ thanh khoản cao. Ngoài ra, SWF trong một số trường hợp có đầu tư vào các doanh nghiệp trong nước. 

 Một cách khái quát SWF là những quỹ đầu tư thuộc quyền sở hữu và quản lý của Nhà nước, đầu tư vào tài sản tài chính và chính sách đầu tư của SWF hướng đến những mục tiêu kinh tế vĩ mô.

Tóm lại, từ nghiên cứu trên cho thấy SCIC ở Việt Nam có các đặc điểm là một SWF phi hàng hóa (non-commodity SWF), đây là yếu tố quan trọng làm cơ sở để tác giả chọn các SWF trên thế có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam cùng loại để so sánh khi nghiên cứu với SCIC.

Theo: Nguyễn Thanh Đoàn

Link luận án: Tại đây

 

avatar
Nguyenmaihuong
869 ngày trước
Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động công ty đầu tư vốn nhà nước
2.1. Các khái niệm liên quan2.1.1. Quỹ đầu tư quốc gia trên thế giới Có nhiều định nghĩa cho công ty đầu tư vốn nhà nước, trên thế giới gọi là Quỹ đầu tư quốc gia SWF (Sovereign Wealth Fund), nên không có định nghĩa nào được chấp nhận hoàn toàn, sau đây là một số định nghĩa SWF: Theo Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Quỹ đầu tư quốc gia là những quỹ đầu tư công thuộc quyền sở hữu và quản lý của Nhà nước, quản lý và đầu tư tài sản tài chính trong dài hạn, chiến lược đầu tư hướng đến những mục tiêu kinh tế vĩ mô. Theo “Nguyên tắc Santiago” của Diễn đàn SWF quốc tế (IWG – International Working Group on SWF), Quỹ đầu tư quốc gia được định nghĩa như những quỹ đầu tư thuộc định chế công có mục tiêu hoạt động xác định rõ ràng của quốc gia đó.Nhìn chung Quỹ này có những đặc điểm chính như sau: Quỹ đầu tư quốc gia (SWF) là quỹ do nhà nước sở hữu, đầu tư vào các tài sản thực và tài sản tài chính, như cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, kim loại quý và các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tư nhân. Ngoài các tài sản trong nước, các SWF có thể đầu tư trên khắp thế giới. Hầu hết các SWF được tài trợ bởi các nguồn thu từ xuất khẩu hàng hóa hoặc từ nguồn dự trữ ngoại hối tại ngân hàng trung ương. Ngoài ra, cũng có các trường hợp SWF được tài trợ bằng các nguồn là thặng dư ngân sách chính phủ hoặc các nguồn quỹ hưu trí (Butt và cộng sự, 2008). Các nguồn dự trữ này được dành riêng cho mục đích đầu tư nhằm làm lợi cho nền kinh tế của một quốc gia và dân chúng. Tính từ năm 2005 cho đến nay, có hơn 40 SWF được thành lập và số vốn được quản lý bởi các SWF trong năm 2019 lên đến hơn 3.400 tỷ USD (SWFI).SWF đã hoạt động trên 5 thập kỷ, trong vài năm gần đây các SWF đã gia tăng mạnh về số lượng cũng như hoạt động đầu tư. SWF có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí: mục tiêu hoạt động, nguồn hình thành quỹ hay mức độ minh bạch. Theo tổ chức SWFI, mỗi SWF có mục tiêu riêng, nhưng nhìn chung có thể tóm thành một số mục tiêu sau: (1) Tài trợ cho các dự án xã hội hay kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng và giải quyết việc làm; (2) Tăng quyền lực chính trị cho các chính trị gia và tăng khả năng nhận phiếu bầu của cử tri; (3) Tạo điều kiện cho vốn tăng trưởng cho các doanh nghiệp trong nước; (4) Bảo vệ nền kinh tế khỏi sự biến động quá mức do doanh thu hoặc xuất khẩu; (5) Cung cấp sự ổn định chống biến động giá dầu.Nếu căn cứ vào nguồn hình thành quỹ, SWF có thể chia làm 2 loại. Trong nhóm đầu tiên là các quỹ có nguồn tài trợ từ doanh thu xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo, đặc biệt là dầu khí và các quỹ có được tài sản của các quỹ thông qua thuế thu được của chính phủ. Nhóm thứ hai bao gồm các quốc gia tài trợ cho SWF của họ bằng cách cho phép SWF được quản lý một phần dự trữ ngoại hối như Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc. Đây cũng là lý do các quỹ này được gọi là các quỹ đầu tư vốn nhà nước phi hàng hóa (non-commodity SWF). Về mức độ minh bạch, mức minh bạch của các quỹ đầu tư nhà nước khác nhau. Một số rất minh bạch và các quỹ này công bố thông tin về nắm giữ cổ phiếu vào mỗi quý, trong khi các quỹ khác không công bố thông tin này.Một số quỹ quan trọng suất sinh lời hơn thanh khoản và do đó có thể chấp nhận rủi ro cao hơn so với các Quỹ dự trữ ngoại hối truyền thống (theo SWFI). Ngoài ra, mức độ rủi ro có thể được chấp nhận bởi SWF cũng sẽ khác nhau tùy theo quốc gia. Các quốc gia có quan ngại về thanh khoản chỉ đầu tư vào các công cụ nợ thanh khoản cao. Ngoài ra, SWF trong một số trường hợp có đầu tư vào các doanh nghiệp trong nước.  Một cách khái quát SWF là những quỹ đầu tư thuộc quyền sở hữu và quản lý của Nhà nước, đầu tư vào tài sản tài chính và chính sách đầu tư của SWF hướng đến những mục tiêu kinh tế vĩ mô.Tóm lại, từ nghiên cứu trên cho thấy SCIC ở Việt Nam có các đặc điểm là một SWF phi hàng hóa (non-commodity SWF), đây là yếu tố quan trọng làm cơ sở để tác giả chọn các SWF trên thế có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam cùng loại để so sánh khi nghiên cứu với SCIC.Theo: Nguyễn Thanh ĐoànLink luận án: Tại đây