0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c36f010e8cf-Cơ-sở-lý-luận-về-vai-trò-của-hương-ước-đối-với-quản-lý-nhà-nước-tại-nông-thôn.jpg.webp

Cơ sở lý luận về vai trò của hương ước đối với quản lý nhà nước tại nông thôn

2.1. Hương ước trong đời sống thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam

2.1.1. Thôn, làng và tự quản của thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam

2.1.1.1. Quan niệm về thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam

Làng Việt được hình thành từ cuối thời nguyên thủy một cách tự nhiên, do yêu cầu nội tại từ đời sống chung của cộng đồng mà không có sự can thiệp của các thế lực bên ngoài. Thời kỳ Bắc thuộc, chính quyền tìm mọi cách vươn xuống tận cơ sở để nắm lấy và sử dụng làng Việt truyền thống như một công cụ phục vụ cho mưu đồ thống trị và đồng hóa của chúng. Đầu thế kỷ thứ VII, chính quyền đô hộ đã thiết lập chính quyền cấp cơ sở là “xã”, mỗi xã tương ứng với một làng, xuất hiện cách gọi chung “làng, xã” và kéo dài đến tận ngày nay. Đầu thế kỷ thứ X, chính quyền tự chủ họ Khúc từng bước tiến hành cải cách hành chính, chia cả nước thành năm cấp hành chính: lộ, phủ, châu, xã, giáp. Khi cấp xã được nhà nước chính thống hóa trở thành đơn vị hành chính cấp cơ sở thì cấp “thôn” cũng dường như đồng thời xuất hiện với tư cách là đơn vị hành chính cấp cơ sở, tương đương với xã (tư liệu lịch sử sớm nhất mà hiện nay biết được có nói đến “thôn” là bài minh khắc trên quả chuông đồng có niên đại Mậu Thân, niên hiệu Càn Hòa thứ 6, năm 948, được lưu giữ tại nhà thờ Đức thánh Trần, thôn Nhật Tảo, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội, ngay tại dòng đầu ghi rõ “Giao chỉ huyện, Hạ Liêm thôn”. Theo tài liệu này, “thôn” được hiểu là đơn vị hành chính cấp cơ sở, tương đương với “xã”). Như vậy, có thể nói trong thời kỳ Lý - Trần - Lê, “xã”, “thôn” là những cách gọi khác nhau của đơn vị hành chính cấp cơ sở, trong đó, “xã”, “thôn” đều được tổ chức tương ứng với đơn vị tụ cư tự nhiên của dân cư, đó là “làng”. Đến triều Nguyễn, việc tổ chức bộ máy hành chính có sự cải tổ lại, thôn không còn tương ứng với xã, mà có vẻ thôn là đơn vị hành chính dưới cấp xã. Nhà nước thông qua xã để quản lý dân làng, nhưng xã để làm tốt chức năng quản lý hành chính của mình đã thiết lập ra cấp thôn. Thôn vì thế đã trở thành đầu mối kết nối và điều hòa hai hệ thống quản lý: hành chính (xã) và tự quản (làng), tạo nên mô hình quản lý “xã thôn” theo khái niệm Giáo sư Nguyễn Hồng Phong đã sử dụng trong tác phẩm “Xã thôn Việt Nam”. Mô hình xã - thôn được duy trì trong suốt các triều đại phong kiến, cho đến khi thực dân Pháp chiếm được nước ta, chúng đã tìm mọi cách để duy trì hiện trạng này. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị hành chính cấp xã dần được mở rộng. Mới đầu có thể vài ba làng hình thành lên một xã, dần dần, xã tiếp tục mở rộng hơn, và cho đến nay, một xã có thể có địa giới tương ứng với địa vực của hàng chục làng (tất nhiên bên cạnh đó vẫn tồn tại một số xã chỉ có địa bàn tương ứng một làng). Ngày nay, nhà nước vẫn tiếp tục thừa nhận sự tồn tại của thôn, làng. Nghị định số 29/1998/NĐ-CP của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Điều 13 quy định như sau: “Thôn, làng, ấp, bản không phải là một cấp chính quyền, nhưng là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư”. Như vậy, với những kết quả nghiên cứu về tổ chức chính quyền cơ sở của Nhà nước Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử cho thấy, việc phân định rạch ròi ba khái niệm “thôn”, “làng”, “xã” là điều không dễ; tùy từng giai đoạn lịch sử khác nhau chúng có thể có những cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, xét một cách chung nhất, có thể hiểu: “Làng” là khái niệm chỉ hình thức tụ cư tự nhiên, cộng đồng tự quản của người dân; “Xã” là khái niệm chỉ đơn vị hành chính lãnh thổ, một cấp chính quyền nhà nước; “Thôn” là khái niệm được dùng trong quản lý hành chính (và cả trong văn tế), nó có thể được xem như là một “đơn vị hành chính - lãnh thổ” dưới cấp xã. Trong lịch sử, thôn có thể có phạm vi không gian trùng hợp với làng, hoặc nhỏ hơn làng. Dưới chế độ mới, đa số thôn có phạm vi không gian trùng với làng, vì vậy cách nói mới “thôn, làng” đã xuất hiện. Hiện nay, Nhà nước Việt Nam có chủ trương sáp nhập thôn nhằm mục đích giảm bớt số người hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước như trưởng thôn, bí thư chi bộ; theo đó, thôn có thể có phạm vi không gian rộng hơn làng, tương ứng với phạm vi không gian của một số làng, tuy vậy, cách nói “thôn, làng” vẫn được sử dụng, kể cả trong văn bản hành chính. Do nhu cầu của quản lý, xã và thôn có thể có nhiều biến đổi, nhưng làng vẫn luôn bền vững, thậm chí đến mức “siêu ổn định”.

Làng ở đồng bằng Bắc Bộ có những nét đặc thù so với “làng” ở đồng bằng Nam Bộ. Các khóm, ấp ở Nam Bộ có tính mở nhiều hơn, thường kéo dài hai bên bờ sông hoặc hai bên đường lớn, chứ không bị bao vây khép kín bởi lũy tre làng như làng ở đồng bằng Bắc Bộ. Các khóm, ấp ở Nam Bộ được thành lập do sự quy tụ, tập hợp tự nhiên của những con người phiêu tán, nên dân số có thể tăng giảm tùy theo tình hình sản xuất và đời sống. Người dân nếu thấy dễ sinh sống thì ở lại, thấy khó làm ăn thì chuyển đi nơi khác. Do đó, kết cấu khóm, ấp ở Nam Bộ không thể chặt chẽ như làng ở đồng bằng Bắc Bộ, thậm chí lúc đầu không có hương ước, lệ làng và tộc ước như các làng miền Bắc.

Trên phương diện quản lý nhà nước, có thể thấy làng Việt truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ có những đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, làng là đơn vị kinh tế xã hội dựa trên sự liên kết các gia đình. Vai trò của dòng họ với tư tưởng “tộc quyền” chiếm vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội - chính trị - pháp lý của người dân. Nó chi phối cách thức xử sự của các thành viên cùng huyết thống, thậm chí còn tác động, ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức quyền lực và quản lý xã hội của nhà nước. Với tư tưởng tộc quyền, các dòng họ đều sử dụng tối đa tinh thần “đi việc làng để giữ lấy họ”. Điều này lý giải thực tế ở nhiều địa phương, việc tranh giành quyền lực không chỉ diễn ra giữa các làng, mà còn diễn ra giữa các dòng họ trong một làng.

Thứ hai, mỗi làng là một đơn vị xã hội có tính địa vực và dân cư mang nặng tính cục bộ, bản vị. Làng là một cơ chế khép kín, một cộng đồng độc lập, tự quản, mặc cho những biến động của xã hội, của đất nước, dân làng luôn biết cách làm giảm sự can thiệp từ bên ngoài, kể cả sự can thiệp của nhà nước để tiếp tục cuộc sống với nhịp điệu riêng của mình.

Thứ ba, trong phạm vi làng, tính chất tự quản luôn song hành cùng quản lý nhà nước. Khi hệ thống quản lý hành chính cấp xã xuất hiện, hệ thống tự quản vẫn còn rất mạnh và giữ vị trí chi phối đời sống dân làng. Trong quá trình vận hành, không phải lúc nào hai hệ thống này cũng thống nhất, mà nhiều khi chúng còn mâu thuẫn, thậm chí trái ngược và đối lập nhau. Tuy nhiên, theo xu hướng càng ngược về thời kỳ xa xưa thì tính tự quản càng mạnh, trái lại, yếu tố quản lý hành chính nhà nước càng gần với ngày nay càng chiếm ưu thế hơn.

Thứ tư, đặc điểm nổi bật của văn hóa làng là tính cộng đồng và cộng cảm. Đây là đặc tính của cư dân nông nghiệp và là nền tảng cho thôn, làng ổn định, phát triển hàng nghìn năm. Tính cộng đồng, cộng cảm này làm cho “mỗi cá nhân thuộc về làng trước khi thuộc về chính bản thân mình. Hay nói cách khác, điểm đặc trưng nổi bật của làng Việt là tính liên kết chặt chẽ của những con người cùng chung sống trong một địa vực.

Ngày nay, đời sống kinh tế - xã hội có sự phát triển vượt bậc, làng Việt truyền thống cũng có sự vận động biến đổi. Người làng ngày nay đi làm ăn sinh sống ở khắp nơi trên cả nước, thậm chí cả ở nước ngoài, giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội vì vậy mở rộng rất nhiều. Yếu tố chính cư, ngụ cư không còn đậm đặc như trước mà có sự đan xen giữa những người từ làng khác, thậm chí xã khác. Các hộ gia đình trong làng dần chuyển ra sinh sống bám mặt đường lớn, yếu tố cố kết trong làng không còn chặt chẽ như trước, yếu tố “tộc quyền, huyết thống” cũng lỏng lẻo hơn. Đời sống kinh tế văn hóa, xã hội, trình độ dân trí… của cư dân trong làng được nâng cao đáng kể.

Tuy nhiên, dù đời sống kinh tế xã hội có biến đổi như thế nào thì một điều có thể dễ nhận thấy là ranh giới giữa nông thôn và đô thị vẫn chưa bị xóa bỏ, làng Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ với những dấu vết truyền thống vẫn còn tồn tại, văn hóa làng Việt với những giá trị đã được khẳng định qua thời gian vẫn còn tồn tại với sức sống mạnh mẽ của nó. Trong xã hội hiện đại, với triết lý quản lý nhà nước “xã hội to, nhà nước bé”, nhất là trong điều kiện cần có sự tự quản của cộng đồng thì vai trò của thôn, làng càng cần phải được khẳng định.

2.1.1.2. Tính tự quản của thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam

Từ điển tiếng Việt giải thích:”tự quản” là “tự mình trông coi, quản lý với nhau công việc của mình, không cần có ai điều khiển” [159, tr. 1670]. Theo quan niệm về tự quản địa phương được nêu tại Hiến chương Châu Âu của chính quyền tự quản địa phương năm 1985 thì, tự quản của thôn, làng có thể được hiểu là: quyền và khả năng thực sự của thôn, làng được quyết định và quản lý một phần lớn các công việc xã hội, trong khuôn khổ pháp luật và phải chịu trách nhiệm nhằm phục vụ lợi ích của dân cư địa phương (Hiến chương Châu Âu về chính quyền tự quản địa phương, Hội đồng Châu Âu, 1985 định nghĩa “Tự quản địa phương được hiểu là quyền và khả năng thực sự của cơ quan tự quản địa phương được quyết định và quản lý một phần lớn các công việc xã hội, trong khuôn khổ pháp luật và phải chịu trách nhiệm nhằm phục vụ lợi ích của dân cư địa phương”), theo đó, “tự quản” là một sản phẩm hình thành của sự tự nguyện.

Nhìn từ góc độ cộng đồng, đó là sự tự nguyện xác định những công việc thuộc khách thể của sự quản lý tập thể. Cùng với đó là sự tự nguyện thỏa thuận những biện pháp quản lý như: xác định những điều khoản thưởng, phạt, tự nguyện đóng góp các nguồn tài chính cho tập thể để thực hiện các công việc chung.

Nhìn từ góc độ cá nhân, đó là sự tự nguyện của người dân trong việc tham gia hay ủy nhiệm cho người khác tham gia vào quản lý có tính chất tập thể, mỗi hoạt động của thành viên sẽ trở thành đối tượng quản lý của tập thể.

Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, đó là sự tự nguyện của nhà nước nhường quyền tự điều chỉnh một số vấn đề thuộc phạm vi nội bộ cho cộng đồng.

Hình thức tự quản của cộng đồng thôn, làng người Việt đã hình thành từ lâu trong lịch sử, có thể kể đến những nguyên nhân sau:

Một là, lịch sử đã chứng tỏ, nhà nước ở phương Đông nói chung, ở nước ta nói riêng đều ra đời trên cơ sở tập hợp các công xã nông thôn, tức nhà nước xuất hiện là tổ chức liên làng, siêu làng. GS. Hà Văn Tấn cho rằng, từ mối liên hệ siêu làng mà hình thành ý thức cộng đồng siêu làng, rồi từ ý thức cộng đồng siêu làng tiền dân tộc hình thành ý thức cộng đồng siêu làng dân tộc. Điều đó có nghĩa là trước khi nhà nước ra đời, làng đã tồn tại như một thực thể riêng biệt với các thành viên, bộ máy quản lý, ý thức cộng đồng.

Hai là, ngay cả trong điều kiện xã hội có giai cấp và nhà nước, làng với tư cách là tập hợp của các cá nhân, tổ chức trên cùng một đơn vị cư trú (như: tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức quân sự); với sự đan xen của các mối quan hệ đa dạng (huyết thống, họ hàng, xóm, giáp, phường hội); sự dung hợp các hệ tư tưởng và tôn giáo, cùng với đặc trưng văn hóa tâm lý cộng đồng, đã tạo nên một thiết chế xã hội có “nội lực” mạnh mẽ, có thể duy trì được tính tự quản của mình để chống lại mọi sự thâm nhập từ bên ngoài. Nói cách khác, bản thân làng đã luôn có sự độc lập tương đối, kể cả với nhà nước.

Theo: Lại Thị Phương Thảo

Link luận án: Tại đây

avatar
Nguyenmaihuong
872 ngày trước
Cơ sở lý luận về vai trò của hương ước đối với quản lý nhà nước tại nông thôn
2.1. Hương ước trong đời sống thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam2.1.1. Thôn, làng và tự quản của thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam2.1.1.1. Quan niệm về thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt NamLàng Việt được hình thành từ cuối thời nguyên thủy một cách tự nhiên, do yêu cầu nội tại từ đời sống chung của cộng đồng mà không có sự can thiệp của các thế lực bên ngoài. Thời kỳ Bắc thuộc, chính quyền tìm mọi cách vươn xuống tận cơ sở để nắm lấy và sử dụng làng Việt truyền thống như một công cụ phục vụ cho mưu đồ thống trị và đồng hóa của chúng. Đầu thế kỷ thứ VII, chính quyền đô hộ đã thiết lập chính quyền cấp cơ sở là “xã”, mỗi xã tương ứng với một làng, xuất hiện cách gọi chung “làng, xã” và kéo dài đến tận ngày nay. Đầu thế kỷ thứ X, chính quyền tự chủ họ Khúc từng bước tiến hành cải cách hành chính, chia cả nước thành năm cấp hành chính: lộ, phủ, châu, xã, giáp. Khi cấp xã được nhà nước chính thống hóa trở thành đơn vị hành chính cấp cơ sở thì cấp “thôn” cũng dường như đồng thời xuất hiện với tư cách là đơn vị hành chính cấp cơ sở, tương đương với xã (tư liệu lịch sử sớm nhất mà hiện nay biết được có nói đến “thôn” là bài minh khắc trên quả chuông đồng có niên đại Mậu Thân, niên hiệu Càn Hòa thứ 6, năm 948, được lưu giữ tại nhà thờ Đức thánh Trần, thôn Nhật Tảo, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội, ngay tại dòng đầu ghi rõ “Giao chỉ huyện, Hạ Liêm thôn”. Theo tài liệu này, “thôn” được hiểu là đơn vị hành chính cấp cơ sở, tương đương với “xã”). Như vậy, có thể nói trong thời kỳ Lý - Trần - Lê, “xã”, “thôn” là những cách gọi khác nhau của đơn vị hành chính cấp cơ sở, trong đó, “xã”, “thôn” đều được tổ chức tương ứng với đơn vị tụ cư tự nhiên của dân cư, đó là “làng”. Đến triều Nguyễn, việc tổ chức bộ máy hành chính có sự cải tổ lại, thôn không còn tương ứng với xã, mà có vẻ thôn là đơn vị hành chính dưới cấp xã. Nhà nước thông qua xã để quản lý dân làng, nhưng xã để làm tốt chức năng quản lý hành chính của mình đã thiết lập ra cấp thôn. Thôn vì thế đã trở thành đầu mối kết nối và điều hòa hai hệ thống quản lý: hành chính (xã) và tự quản (làng), tạo nên mô hình quản lý “xã thôn” theo khái niệm Giáo sư Nguyễn Hồng Phong đã sử dụng trong tác phẩm “Xã thôn Việt Nam”. Mô hình xã - thôn được duy trì trong suốt các triều đại phong kiến, cho đến khi thực dân Pháp chiếm được nước ta, chúng đã tìm mọi cách để duy trì hiện trạng này. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị hành chính cấp xã dần được mở rộng. Mới đầu có thể vài ba làng hình thành lên một xã, dần dần, xã tiếp tục mở rộng hơn, và cho đến nay, một xã có thể có địa giới tương ứng với địa vực của hàng chục làng (tất nhiên bên cạnh đó vẫn tồn tại một số xã chỉ có địa bàn tương ứng một làng). Ngày nay, nhà nước vẫn tiếp tục thừa nhận sự tồn tại của thôn, làng. Nghị định số 29/1998/NĐ-CP của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Điều 13 quy định như sau: “Thôn, làng, ấp, bản không phải là một cấp chính quyền, nhưng là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhằm giải quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư”. Như vậy, với những kết quả nghiên cứu về tổ chức chính quyền cơ sở của Nhà nước Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử cho thấy, việc phân định rạch ròi ba khái niệm “thôn”, “làng”, “xã” là điều không dễ; tùy từng giai đoạn lịch sử khác nhau chúng có thể có những cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, xét một cách chung nhất, có thể hiểu: “Làng” là khái niệm chỉ hình thức tụ cư tự nhiên, cộng đồng tự quản của người dân; “Xã” là khái niệm chỉ đơn vị hành chính lãnh thổ, một cấp chính quyền nhà nước; “Thôn” là khái niệm được dùng trong quản lý hành chính (và cả trong văn tế), nó có thể được xem như là một “đơn vị hành chính - lãnh thổ” dưới cấp xã. Trong lịch sử, thôn có thể có phạm vi không gian trùng hợp với làng, hoặc nhỏ hơn làng. Dưới chế độ mới, đa số thôn có phạm vi không gian trùng với làng, vì vậy cách nói mới “thôn, làng” đã xuất hiện. Hiện nay, Nhà nước Việt Nam có chủ trương sáp nhập thôn nhằm mục đích giảm bớt số người hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước như trưởng thôn, bí thư chi bộ; theo đó, thôn có thể có phạm vi không gian rộng hơn làng, tương ứng với phạm vi không gian của một số làng, tuy vậy, cách nói “thôn, làng” vẫn được sử dụng, kể cả trong văn bản hành chính. Do nhu cầu của quản lý, xã và thôn có thể có nhiều biến đổi, nhưng làng vẫn luôn bền vững, thậm chí đến mức “siêu ổn định”.Làng ở đồng bằng Bắc Bộ có những nét đặc thù so với “làng” ở đồng bằng Nam Bộ. Các khóm, ấp ở Nam Bộ có tính mở nhiều hơn, thường kéo dài hai bên bờ sông hoặc hai bên đường lớn, chứ không bị bao vây khép kín bởi lũy tre làng như làng ở đồng bằng Bắc Bộ. Các khóm, ấp ở Nam Bộ được thành lập do sự quy tụ, tập hợp tự nhiên của những con người phiêu tán, nên dân số có thể tăng giảm tùy theo tình hình sản xuất và đời sống. Người dân nếu thấy dễ sinh sống thì ở lại, thấy khó làm ăn thì chuyển đi nơi khác. Do đó, kết cấu khóm, ấp ở Nam Bộ không thể chặt chẽ như làng ở đồng bằng Bắc Bộ, thậm chí lúc đầu không có hương ước, lệ làng và tộc ước như các làng miền Bắc.Trên phương diện quản lý nhà nước, có thể thấy làng Việt truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ có những đặc trưng sau đây:Thứ nhất, làng là đơn vị kinh tế xã hội dựa trên sự liên kết các gia đình. Vai trò của dòng họ với tư tưởng “tộc quyền” chiếm vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội - chính trị - pháp lý của người dân. Nó chi phối cách thức xử sự của các thành viên cùng huyết thống, thậm chí còn tác động, ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức quyền lực và quản lý xã hội của nhà nước. Với tư tưởng tộc quyền, các dòng họ đều sử dụng tối đa tinh thần “đi việc làng để giữ lấy họ”. Điều này lý giải thực tế ở nhiều địa phương, việc tranh giành quyền lực không chỉ diễn ra giữa các làng, mà còn diễn ra giữa các dòng họ trong một làng.Thứ hai, mỗi làng là một đơn vị xã hội có tính địa vực và dân cư mang nặng tính cục bộ, bản vị. Làng là một cơ chế khép kín, một cộng đồng độc lập, tự quản, mặc cho những biến động của xã hội, của đất nước, dân làng luôn biết cách làm giảm sự can thiệp từ bên ngoài, kể cả sự can thiệp của nhà nước để tiếp tục cuộc sống với nhịp điệu riêng của mình.Thứ ba, trong phạm vi làng, tính chất tự quản luôn song hành cùng quản lý nhà nước. Khi hệ thống quản lý hành chính cấp xã xuất hiện, hệ thống tự quản vẫn còn rất mạnh và giữ vị trí chi phối đời sống dân làng. Trong quá trình vận hành, không phải lúc nào hai hệ thống này cũng thống nhất, mà nhiều khi chúng còn mâu thuẫn, thậm chí trái ngược và đối lập nhau. Tuy nhiên, theo xu hướng càng ngược về thời kỳ xa xưa thì tính tự quản càng mạnh, trái lại, yếu tố quản lý hành chính nhà nước càng gần với ngày nay càng chiếm ưu thế hơn.Thứ tư, đặc điểm nổi bật của văn hóa làng là tính cộng đồng và cộng cảm. Đây là đặc tính của cư dân nông nghiệp và là nền tảng cho thôn, làng ổn định, phát triển hàng nghìn năm. Tính cộng đồng, cộng cảm này làm cho “mỗi cá nhân thuộc về làng trước khi thuộc về chính bản thân mình”. Hay nói cách khác, điểm đặc trưng nổi bật của làng Việt là tính liên kết chặt chẽ của những con người cùng chung sống trong một địa vực.Ngày nay, đời sống kinh tế - xã hội có sự phát triển vượt bậc, làng Việt truyền thống cũng có sự vận động biến đổi. Người làng ngày nay đi làm ăn sinh sống ở khắp nơi trên cả nước, thậm chí cả ở nước ngoài, giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội vì vậy mở rộng rất nhiều. Yếu tố chính cư, ngụ cư không còn đậm đặc như trước mà có sự đan xen giữa những người từ làng khác, thậm chí xã khác. Các hộ gia đình trong làng dần chuyển ra sinh sống bám mặt đường lớn, yếu tố cố kết trong làng không còn chặt chẽ như trước, yếu tố “tộc quyền, huyết thống” cũng lỏng lẻo hơn. Đời sống kinh tế văn hóa, xã hội, trình độ dân trí… của cư dân trong làng được nâng cao đáng kể.Tuy nhiên, dù đời sống kinh tế xã hội có biến đổi như thế nào thì một điều có thể dễ nhận thấy là ranh giới giữa nông thôn và đô thị vẫn chưa bị xóa bỏ, làng Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ với những dấu vết truyền thống vẫn còn tồn tại, văn hóa làng Việt với những giá trị đã được khẳng định qua thời gian vẫn còn tồn tại với sức sống mạnh mẽ của nó. Trong xã hội hiện đại, với triết lý quản lý nhà nước “xã hội to, nhà nước bé”, nhất là trong điều kiện cần có sự tự quản của cộng đồng thì vai trò của thôn, làng càng cần phải được khẳng định.2.1.1.2. Tính tự quản của thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt NamTừ điển tiếng Việt giải thích:”tự quản” là “tự mình trông coi, quản lý với nhau công việc của mình, không cần có ai điều khiển” [159, tr. 1670]. Theo quan niệm về tự quản địa phương được nêu tại Hiến chương Châu Âu của chính quyền tự quản địa phương năm 1985 thì, tự quản của thôn, làng có thể được hiểu là: quyền và khả năng thực sự của thôn, làng được quyết định và quản lý một phần lớn các công việc xã hội, trong khuôn khổ pháp luật và phải chịu trách nhiệm nhằm phục vụ lợi ích của dân cư địa phương (Hiến chương Châu Âu về chính quyền tự quản địa phương, Hội đồng Châu Âu, 1985 định nghĩa “Tự quản địa phương được hiểu là quyền và khả năng thực sự của cơ quan tự quản địa phương được quyết định và quản lý một phần lớn các công việc xã hội, trong khuôn khổ pháp luật và phải chịu trách nhiệm nhằm phục vụ lợi ích của dân cư địa phương”), theo đó, “tự quản” là một sản phẩm hình thành của sự tự nguyện.Nhìn từ góc độ cộng đồng, đó là sự tự nguyện xác định những công việc thuộc khách thể của sự quản lý tập thể. Cùng với đó là sự tự nguyện thỏa thuận những biện pháp quản lý như: xác định những điều khoản thưởng, phạt, tự nguyện đóng góp các nguồn tài chính cho tập thể để thực hiện các công việc chung.Nhìn từ góc độ cá nhân, đó là sự tự nguyện của người dân trong việc tham gia hay ủy nhiệm cho người khác tham gia vào quản lý có tính chất tập thể, mỗi hoạt động của thành viên sẽ trở thành đối tượng quản lý của tập thể.Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, đó là sự tự nguyện của nhà nước nhường quyền tự điều chỉnh một số vấn đề thuộc phạm vi nội bộ cho cộng đồng.Hình thức tự quản của cộng đồng thôn, làng người Việt đã hình thành từ lâu trong lịch sử, có thể kể đến những nguyên nhân sau:Một là, lịch sử đã chứng tỏ, nhà nước ở phương Đông nói chung, ở nước ta nói riêng đều ra đời trên cơ sở tập hợp các công xã nông thôn, tức nhà nước xuất hiện là tổ chức liên làng, siêu làng. GS. Hà Văn Tấn cho rằng, từ mối liên hệ siêu làng mà hình thành ý thức cộng đồng siêu làng, rồi từ ý thức cộng đồng siêu làng tiền dân tộc hình thành ý thức cộng đồng siêu làng dân tộc. Điều đó có nghĩa là trước khi nhà nước ra đời, làng đã tồn tại như một thực thể riêng biệt với các thành viên, bộ máy quản lý, ý thức cộng đồng.Hai là, ngay cả trong điều kiện xã hội có giai cấp và nhà nước, làng với tư cách là tập hợp của các cá nhân, tổ chức trên cùng một đơn vị cư trú (như: tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức quân sự); với sự đan xen của các mối quan hệ đa dạng (huyết thống, họ hàng, xóm, giáp, phường hội); sự dung hợp các hệ tư tưởng và tôn giáo, cùng với đặc trưng văn hóa tâm lý cộng đồng, đã tạo nên một thiết chế xã hội có “nội lực” mạnh mẽ, có thể duy trì được tính tự quản của mình để chống lại mọi sự thâm nhập từ bên ngoài. Nói cách khác, bản thân làng đã luôn có sự độc lập tương đối, kể cả với nhà nước.Theo: Lại Thị Phương ThảoLink luận án: Tại đây