Những phương diện thể hiện vai trò của hương ước đối với quản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
2.2.3. Những phương diện thể hiện vai trò của hương ước đối với quản lý nhà nước tại thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
2.2.3.1. Hương ước giúp nhà nước xử lý hài hòa mối quan hệ giữa nhà nước và thôn, làng
Như đã đề cập, Việt Nam là một quốc gia được hình thành từ sự liên kết các làng. Xuất phát từ thực tế đó, điều tự nhiên đặt ra trong quản lý nhà nước là phải đảm bảo hài hòa mối quan hệ giữa cộng đồng quốc gia (nhà nước là đại diện) và cộng đồng thôn, làng, đảm bảo vừa xây dựng một quốc gia hùng mạnh, vừa tạo điều kiện để cộng đồng thôn, làng giữ gìn, phát huy những thế mạnh của mình. Có thể nói, sự thành công hay không thành công của thể chế chính trị quốc gia đôi khi phụ thuộc nhiều vào việc nhận thức và xử lý mối quan hệ giữa nhà nước và thôn, làng. Khả năng kiểm soát mối quan hệ qua lại giữa chính quyền nhà nước và thôn, làng gắn liền với khả năng đảm bảo việc thực thi luật lệ và chính sách của nhà nước tại địa bàn thôn, làng.
Trong bối cảnh đó, hương ước với tư cách là văn bản thỏa thuận, thống nhất ý chí của người dân thôn, làng cùng với sự phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là một công cụ hữu hiệu để giải quyết bài toán về mối quan hệ hai chiều giữa nhà nước và thôn, làng.
Về phía nhà nước, chấp nhận hương ước là thể hiện sự tôn trọng, sự tin tưởng của nhà nước với thôn, làng, đó là việc nhà nước thừa nhận quyền tự quản trong phạm vi nhất định của thôn, làng mà không can thiệp quá sâu vào thôn, làng. Chấp nhận hương ước là chấp nhận kiểu quản lý phi quan phương khiến kết cấu quyền lực ở thôn, làng trở thành kiểu kết cấu có tính nhị nguyên, kết hợp giữa quản lý nhà nước và tự quản thôn, làng, giữa kết cấu quan phương và kết cấu phi quan phương, thể hiện mong muốn của nhà nước đối với sự hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ đối với thôn, làng.
Ở góc độ thôn, làng, việc nhà nước chấp nhận sự tồn tại của hương ước chính là biểu hiện “nhân nhượng” của chính quyền trung ương với thôn, làng. Thông qua hương ước, làng vẫn tự quản được những công việc nhất định của mình mà không quá phụ thuộc vào chính quyền nhà nước. Trong những trường hợp đó, những thế mạnh về kinh tế, văn hóa của thôn làng, cá tính riêng của thôn, làng vẫn được biểu hiện chứ không đến mức bị mờ nhòe đi trước pháp luật của nhà nước. Từ đó, người dân thôn, làng thêm tin tưởng nhà nước, đồng hành, hợp tác với nhà nước, tạo nên sự ổn định và phát triển mạnh mẽ đối với thôn làng.
Tuy nhiên, hương ước dù là sự thể hiện thống nhất ý chí của người dân trong thôn, làng nhưng vẫn phải có sự phê duyệt của chính quyền cấp trên, điều này cho thấy thôn, làng không thể “tùy ý, tự tung, tự tác” theo ý của mình. Thông qua việc thừa nhận hương ước, một mặt thể hiện sự tôn trọng, phát huy tinh thần tự quản của thon, làng, nhưng mặt khác, nhà nước luôn hướng thôn, làng theo quĩ đạo của nhà nước, dùng hương ước để hỗ trợ việc quản lý nhà nước. Khi đó, hương ước như là sợi dây “lạt mềm buộc chặt”, xử lý hài hòa mối quan hệ cá nhân - làng - nước. Nhờ đó, ngăn ngừa được sự xung đột nếu có giữa thôn, làng với nhà nước. Ngược lại, nếu nhà ước bỏ qua hương ước, sẽ có thể dẫn đến tính trạng ý chí chung của thôn, làng vẫn tồn tại nhưng dưới hình thức “ngấm ngầm”, không chính thức mà nhà nước khó có thể kiểm soát được. Trong điều kiện đó, một số cá nhân có “máu mặt” trong làng có thể tự tung tự tác, khuynh đảo, lũng đoạn dân làng, dẫn đến những bàn bạc, thỏa thuận trái pháp luật, kể cả trái ý chí số đông dân làng, nhưng vì “thấp cổ bé họng” mà nhiều người không dám nói ra. Lợi dụng điều đó, các thế lực chống đối từ bên ngoài sẽ tìm cách can thiệp, tạo ra khoảng cách, mâu thuẫn giữa dân làng với nhà nước, thậm chí là sự chống đối, phản kháng, đối đầu giữa thôn, làng với chính quyền nhà nước.
Nhìn vào chiều dài lịch sử của Việt Nam, có thể nhận thấy mối quan hệ giữa nhà nước và thôn, làng có những thăng trầm. Có những triều đại phong kiến đã tỏ ra yếu kém trong việc quản lý và kiểm soát làng xã (triều Lý, Trần [88, tr. 103]), hoặc thậm chí có triều đại, nhà nước trung ương đã bị mất hoàn toàn quyền kiểm soát làng xã, (như nhà Trịnh vào năm Long Đức (1732) và Vĩnh Hựu (1735) đã buộc phải đi đến quyết định phó mặc cho làng xã tự duy trì chế độ tự quản của mình miễn sao không thách thức chính quyền nhà nước [88, tr. 244]). Nhưng cũng có triều đại không chấp nhận được sự độc lập của làng xã mà quyết tâm nắm lấy làng xã, với mục đích kiểm soát nhân lực và ruộng đất, giữ vững thế ổn định về quyền lực chính trị (như triều đại Lê Thánh Tông [88, tr. 104]). Như vậy, có thể nói, dưới thời phong kiến, có hai xu hướng về mối quan hệ giữa nhà nước với thôn, làng. Có những triều đại không chấp nhận nhu cầu tự quản của thôn, làng - đồng nghĩa với việc đẩy thôn, làng vào thế đối lập với nhà nước. Trái lại, có những triều đại buông xuôi, phó mặc cho thôn, làng tùy tiện vận hành theo hương ước, tục lệ của làng, từ bỏ quyền quản lý thôn, làng.
Khi thực dân Pháp đặt nền đô hộ ở nước ta, nhà cầm quyền đã rất coi trọng chính quyền cấp xã và vấn đề quản trị làng xã. Piere Pasquier - Toàn quyền Đông Dương (Pierre Marie Antoine Pasquier, hay thường được biết với tên Pierre Pasquier (6/2/1877 - 15/01/1934) là Toàn quyền Đông Dương từ năm 1928 đến 1934) nhận định “xã họp thành một khối, hoàn bị đến nỗi người ta không thể sửa một điểm nhỏ nào. Chúng ta không có ích lợi gì mà đả phá trực tiếp hoặc gián tiếp một cơ quan hiện là một lợi khí mầu nhiệm, ta nên để nó nguyên vẹn và tôn trọng các hình thức của nó” . Thực hiện chủ trương này, thực dân Pháp đã lợi dụng truyền thống quản lý làng xã thông qua hương ước, đưa luật pháp nhà nước bảo hộ vào hương ước để hương ước hóa phép nước, đồng thời khuôn tất cả các hương ước vào một khuôn mẫu chung có lợi cho thực dân Pháp và buộc các làng phải nghiêm túc thực hiện. Có thể nói, với công cuộc cải lương hương chính, thực dân Pháp đã phần nào xác định được quyền cai quản của mình với nông thôn.
Sau cách mạng Tháng Tám, bộ máy chính quyền cũ bị xóa bỏ, chính quyền mới từng bước thực hiện việc quản lý một cách trực tiếp các mặt của đời sống thôn, làng, hương ước vì thế mất dần cơ sở để tồn tại. Việc quản trị các công việc nhà nước tại cơ sở do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đảm nhiệm, trên cơ sở pháp luật. Tuy nhiên, điều đáng nói là mặc dù những cơ sở vật chất của xã hội làng xã không còn nhưng tinh thần của nó vẫn còn tồn tại, nó vẫn có tác động rất lớn đến tâm thức của người dân trong làng, điều chỉnh nhiều mối quan hệ xã hội trong thôn, làng. Dưới hình thức này hay hình thức khác, ở mức độ này hay mức độ khác vẫn dễ nhận thấy dấu ấn của lệ làng truyền thống.
Ngày nay, quan điểm chỉ đạo của Đảng khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thiết chế chính trị nông thôn từng bước thay đổi, cấp thôn được tái lập, hệ thống quan phương ở xã thôn (gồm các tổ chức Đảng, chính quyền, hợp tác xã, Mặt trận Tổ quốc) từng bước được đổi mới, dần dần trở về với đúng vị trí, chức năng của nó trong hệ thống chính trị ở nông thôn; hệ thống bán quan phương, phi quan phương, nhiều hội dân sự được tái lập ở các làng quê, đi liền với đó là sự tái lập hương ước mới ở các thôn, làng với vai trò là công cụ cần thiết để hỗ trợ nhà nước trong việc quản lý thôn, làng.
Theo: Lại Thị Phương Thảo
Link luận án: Tại đây