Một số nhận xét về các mô hình của Quỹ đầu tư chứng khoán
2.2. Một số nhận xét về các mô hình của Quỹ đầu tư chứng khoán
Qua tìm hiểu các dạng mô hình QĐTCK của một số nước, nghiên cứu sinh rút ra các nhận xét sau:
Một là, lịch sử phát triển của các QĐTCK cho thấy mô hình đầu tiên là các QĐTCK tập thể chưa phải là pháp nhân (tín thác hoặc hợp đồng). Tiếp đến là thời kỳ phát triển của các QĐTCK dưới dạng pháp nhân (công ty). Bởi vì, thị trường ổn định thì mô hình công ty cần phát triển và mở rộng để phù hợp với tiêu chí hội nhập và hợp tác quốc tế. Điều này được lý giải dựa trên lý thuyết doanh nghiệp (Ronald Coase, 1937), vấn đề giảm chi phí giao dịch khi các thành viên tập hợp lại với nhau để chung vốn, chung sức cạnh tranh, thành lập doanh nghiệp.
Trong một nước, thường cùng tồn tại dạng Quỹ mô hình pháp nhân với quỹ mô hình dạng tín thác hoặc với quỹ mô hình dạng hợp đồng.
Hai là, có sự hiện diện của chủ thể đặc biệt tham gia trong quá trình quản lý QĐTCK – đó là CTQLQ. Và dù ở mô hình nào, QĐTCK không đảm nhận việc mua bán chứng chỉ quỹ hay cổ phiếu trực tiếp tới công chúng, chức năng này do CTQLQ hoặc Công ty chứng khoán thực hiện.
Ba là, các quyền của NĐT tham gia vào từng mô hình khác nhau.
+ Nhà đầu tư theo mô hình tín thác được quyền nắm giữ đơn vị tín thác, được quyền sa thải công ty quản lý quỹ nếu công ty không thành công khi thực hiện những quyền hạn mà quỹ yêu cầu và được quy định trong điều lệ quỹ. Vì vậy, nhiệm vụ của người được ủy thác rất nặng, vừa với tư cách Hội đồng quản trị Quỹ đầu tư dạng công ty, vừa chịu trách nhiệm đối với các NĐT của quỹ.
+ Quyền của các NĐT vào quỹ dạng công ty cũng tương tự như các quyền của cổ đông của công ty khác, mặc dù các NĐT vào quỹ thường được trao thêm quyền và được yêu cầu biểu quyết về việc phát hành bổ sung, những yêu cầu quy định theo Luật công ty.
Bốn là, bản chất mối quan hệ và cơ sở pháp lý liên quan đến quá trình hình thành QĐTCK theo mô hình khác nhau sẽ khác nhau: Mô hình tín thác và hợp đồng (quan hệ ủy thác, hợp đồng, chứng chỉ quỹ); Mô hình công ty (quan hệ sở hữu, quản trị công ty, cổ phiếu).
Năm là, mỗi mô hình QĐTCK đều có những ưu điểm và nhược điểm, nhưng tất cả các QĐTCK cùng có một điểm chung, đều là những NĐT chuyên nghiệp.
Quỹ đầu tư dạng hợp đồng (mô hình tín thác đầu tư): Với mô hình này, công ty quản lý quỹ đứng ra thành lập, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Bên cạnh đó, NHGS có vai trò bảo quản vốn và các tài sản của quỹ. Quan hệ giữa CTQLQ và NHGS được thể hiện bằng Hợp đồng giám sát trong đó quy định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi của các NĐT. Nhà đầu tư là những người góp vốn vào quỹ và ủy thác việc đầu tư cho CTQLQ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn đóng góp của họ.
Quỹ đầu tư dạng công ty: Theo mô hình này, QĐTCK là một pháp nhân, tức là một Công ty được hình thành theo quy định của pháp luật từng nước. Cơ quan điều hành cao nhất của quỹ là HĐQT do các cổ đông (NĐT) bầu ra, có nhiệm vụ chính là quản lý toàn bộ hoạt động của quỹ, lựa chọn CTQLQ và giám sát hoạt động đầu tư của CTQLQ và có quyền thay đổi CTQLQ. Trong mô hình này, CTQLQ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh doanh khác.
Theo: Nguyễn Thị Hồng Phước
Link luận án: Tại đây