0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c475e9b9254-Quan-hệ-pháp-luật-giữa-các-chủ-thể-của-Quỹ-đầu-tư-chứng-khoán-.jpg.webp

Quan hệ pháp luật giữa các chủ thể của Quỹ đầu tư chứng khoán

2.2.1.1.   Quan hệ pháp luật giữa các chủ thể của Quỹ đầu tư chứng khoán

Quan hệ pháp luật chứng khoán là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hình thành, chuyển giao chứng khoán được các quy phạm pháp luật điều chỉnh mà hậu quả pháp lý là tạo ra những quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể. Trong hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK tồn tại các chế định pháp luật. Mỗi chế định pháp luật là một tập hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh một vấn đề cụ thể của TTCK. Các chế định pháp luật có tính độc lập tương đối nhưng lại có mối quan hệ nội tại, gắn bó với nhau hoặc liên quan đến nhau, cùng điều chỉnh về các lĩnh vực khác nhau của chứng khoán và TTCK.

Từ những đặc điểm của QĐTCK cho thấy, sự tồn tại của QĐTCK phải trải qua quá trình hình thành, tổ chức và hoạt động như một chủ thể kinh doanh. Có thể hiểu, “tổ chức” là sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc là tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động. Còn “hoạt động”, làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội hay vận hành để thực hiện chức năng nào đó ..

Do đó, quan hệ pháp luật giữa các chủ thể của QĐTCK được xác định theo các nội dung liên quan đến thành lập, tổ chức theo các bộ phận để thực hiện hoạt động của QĐTCK và các hoạt động của QĐTCK.

Một là, quan hệ pháp luật giữa nhà đầu tư và Quỹ đầu tư chứng khoán

Để thành lập QĐTCK, chứng chỉ quỹ (quỹ dạng hợp đồng, quỹ tín thác) hoặc cổ phiếu (quỹ dạng công ty) được phát hành rộng rãi để huy động vốn từ NĐT. Chứng chỉ quỹ hay cổ phiếu của QĐTCK là bằng chứng xác nhận số đơn vị quỹ hoặc cổ phần tương ứng với số vốn góp của NĐT. Cơ sở pháp lý chủ yếu về thành lập QĐTCK theo pháp luật chứng khoán.

Bên cạnh hoạt động huy động vốn thành lập QĐTCK, hoạt động kinh doanh của QĐTCK chủ yếu tập trung ở hoạt động đầu tư. Bởi vì mục tiêu hoạt động của QĐTCK là làm tăng giá trị của khoản vốn được đưa vào quỹ. Để đạt được mục tiêu này, CTQLQ xây dựng chính sách đầu tư, danh mục đầu tư riêng của QĐTCK.

Trong quá trình đầu tư, CTQLQ trực tiếp thực hiện việc nghiên cứu, đánh giá, tận dụng cơ hội đầu tư để gia tăng giá trị cho các khoản đầu tư. Các NĐT tuy không trực tiếp tham gia vào hoạt động đầu tư nhưng được cung cấp thông tin thông qua hoạt động công bố thông tin của QĐTCK.

Hai là, quan hệ pháp luật giữa Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ

Quan hệ giữa QĐTCK và CTQLQ liên quan đến quản lý QĐTCK: Công ty quản lý quỹ là tổ chức đứng ra xin thành lập QĐTCK, phát hành CCQ để huy động vốn; Công ty quản lý quỹ quản lý tài sản của QĐTCK, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của QĐTCK; Công ty quản lý quỹ trực tiếp thực hiện các hoạt động của QĐTCK.

Như vậy, trong mối quan hệ với QĐTCK, CTQLQ là chủ thể được ủy thác quản lý. CTQLQ thực hiện việc quản lý quỹ theo các quy định của pháp luật, của điều lệ quỹ và nghị quyết đại hội những người đầu tư.

Ba là, quan hệ pháp luật giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát

Công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát tồn tại mối quan hệ gắn bó, hợp tác với nhau liên quan đến việc nắm giữ tài sản của QĐTCK và giám sát hoạt động quản lý QĐTCK.

Công ty quản lý quỹ chịu trách nhiệm quản lý QĐTCK nhưng toàn bộ tiền và tài sản của QĐTCK do NHGS – một tổ chức độc lập với CTQLQ và độc lập với QĐTCK đứng ra bảo quản.

Ngân hàng giám sát chịu trách nhiệm giám sát việc tuân thủ pháp luật, tuân thủ điều lệ và bản cáo bạch trong hoạt động quản lý QĐTCK của CTQLQ. Đồng thời, NHGS hỗ trợ về mặt kỹ thuật hoặc tài chính như lưu ký chứng khoán trong hoạt động quản lý QĐTCK.

Với sự tham gia của NHGS, làm cho tách bạch giữa quyền quản lý và quyền nắm giữ tài sản QĐTCK.

Bốn là, quan hệ pháp luật giữa các chủ thể hợp thành cơ cấu tổ chức, quản trị Quỹ đầu tư chứng khoán

Thuật ngữ “Quản trị công ty” bắt nguồn từ những thất bại của các công ty hay những cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống vào thế kỷ 18. Do đó, QTCT được coi là những cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty. Hay QTCT là hệ thống các thiết chế, chính sách, quy định và quy trình được xây dựng nhằm định hướng, điều hành và kiểm soát công ty với mục tiêu đảm bảo và cân bằng quyền và lợi ích của công ty, người quản lý và cổ đông, người lao động và khách hàng .

Theo: Nguyễn Thị Hồng Phước

Link luận án: Tại đây

avatar
Nguyenmaihuong
957 ngày trước
Quan hệ pháp luật giữa các chủ thể của Quỹ đầu tư chứng khoán
2.2.1.1.   Quan hệ pháp luật giữa các chủ thể của Quỹ đầu tư chứng khoánQuan hệ pháp luật chứng khoán là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hình thành, chuyển giao chứng khoán được các quy phạm pháp luật điều chỉnh mà hậu quả pháp lý là tạo ra những quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể. Trong hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK tồn tại các chế định pháp luật. Mỗi chế định pháp luật là một tập hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh một vấn đề cụ thể của TTCK. Các chế định pháp luật có tính độc lập tương đối nhưng lại có mối quan hệ nội tại, gắn bó với nhau hoặc liên quan đến nhau, cùng điều chỉnh về các lĩnh vực khác nhau của chứng khoán và TTCK.Từ những đặc điểm của QĐTCK cho thấy, sự tồn tại của QĐTCK phải trải qua quá trình hình thành, tổ chức và hoạt động như một chủ thể kinh doanh. Có thể hiểu, “tổ chức” là sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc là tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động. Còn “hoạt động”, làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội hay vận hành để thực hiện chức năng nào đó ..Do đó, quan hệ pháp luật giữa các chủ thể của QĐTCK được xác định theo các nội dung liên quan đến thành lập, tổ chức theo các bộ phận để thực hiện hoạt động của QĐTCK và các hoạt động của QĐTCK.Một là, quan hệ pháp luật giữa nhà đầu tư và Quỹ đầu tư chứng khoánĐể thành lập QĐTCK, chứng chỉ quỹ (quỹ dạng hợp đồng, quỹ tín thác) hoặc cổ phiếu (quỹ dạng công ty) được phát hành rộng rãi để huy động vốn từ NĐT. Chứng chỉ quỹ hay cổ phiếu của QĐTCK là bằng chứng xác nhận số đơn vị quỹ hoặc cổ phần tương ứng với số vốn góp của NĐT. Cơ sở pháp lý chủ yếu về thành lập QĐTCK theo pháp luật chứng khoán.Bên cạnh hoạt động huy động vốn thành lập QĐTCK, hoạt động kinh doanh của QĐTCK chủ yếu tập trung ở hoạt động đầu tư. Bởi vì mục tiêu hoạt động của QĐTCK là làm tăng giá trị của khoản vốn được đưa vào quỹ. Để đạt được mục tiêu này, CTQLQ xây dựng chính sách đầu tư, danh mục đầu tư riêng của QĐTCK.Trong quá trình đầu tư, CTQLQ trực tiếp thực hiện việc nghiên cứu, đánh giá, tận dụng cơ hội đầu tư để gia tăng giá trị cho các khoản đầu tư. Các NĐT tuy không trực tiếp tham gia vào hoạt động đầu tư nhưng được cung cấp thông tin thông qua hoạt động công bố thông tin của QĐTCK.Hai là, quan hệ pháp luật giữa Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹQuan hệ giữa QĐTCK và CTQLQ liên quan đến quản lý QĐTCK: Công ty quản lý quỹ là tổ chức đứng ra xin thành lập QĐTCK, phát hành CCQ để huy động vốn; Công ty quản lý quỹ quản lý tài sản của QĐTCK, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của QĐTCK; Công ty quản lý quỹ trực tiếp thực hiện các hoạt động của QĐTCK.Như vậy, trong mối quan hệ với QĐTCK, CTQLQ là chủ thể được ủy thác quản lý. CTQLQ thực hiện việc quản lý quỹ theo các quy định của pháp luật, của điều lệ quỹ và nghị quyết đại hội những người đầu tư.Ba là, quan hệ pháp luật giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sátCông ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát tồn tại mối quan hệ gắn bó, hợp tác với nhau liên quan đến việc nắm giữ tài sản của QĐTCK và giám sát hoạt động quản lý QĐTCK.Công ty quản lý quỹ chịu trách nhiệm quản lý QĐTCK nhưng toàn bộ tiền và tài sản của QĐTCK do NHGS – một tổ chức độc lập với CTQLQ và độc lập với QĐTCK đứng ra bảo quản.Ngân hàng giám sát chịu trách nhiệm giám sát việc tuân thủ pháp luật, tuân thủ điều lệ và bản cáo bạch trong hoạt động quản lý QĐTCK của CTQLQ. Đồng thời, NHGS hỗ trợ về mặt kỹ thuật hoặc tài chính như lưu ký chứng khoán trong hoạt động quản lý QĐTCK.Với sự tham gia của NHGS, làm cho tách bạch giữa quyền quản lý và quyền nắm giữ tài sản QĐTCK.Bốn là, quan hệ pháp luật giữa các chủ thể hợp thành cơ cấu tổ chức, quản trị Quỹ đầu tư chứng khoánThuật ngữ “Quản trị công ty” bắt nguồn từ những thất bại của các công ty hay những cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống vào thế kỷ 18. Do đó, QTCT được coi là những cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty. Hay QTCT là hệ thống các thiết chế, chính sách, quy định và quy trình được xây dựng nhằm định hướng, điều hành và kiểm soát công ty với mục tiêu đảm bảo và cân bằng quyền và lợi ích của công ty, người quản lý và cổ đông, người lao động và khách hàng .Theo: Nguyễn Thị Hồng PhướcLink luận án: Tại đây