0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c4d53b749f1-Khái-niệm-về-hình-thức-tổ-chức-hành-nghề-luật-sư-theo-pháp-luật-Việt-Nam-.jpg.webp

Khái niệm về hình thức tổ chức hành nghề luật sư theo pháp luật Việt Nam

2.1.2. Khái niệm về hình thức tổ chức hành nghề luật sư theo pháp luật Việt Nam

- Về hình thức Văn phòng luật sư

Mặc dù thuật ngữ “Văn phòng luật sư” ở Việt Nam đã có một thời gian tồn tại khá lâu, song một cách hiểu thống nhất về khái niệm VPLS là gì vẫn chưa được xác định cụ thể, hiện nay trong các văn bản pháp luật chuyên ngành của Việt Nam về VPLS vẫn còn tồn tại khá nhiều cách hiểu khác nhau.

Theo Pháp Lệnh luật sư năm 2001 thì: Văn phòng luật sư có thể do một hoặc một số luật sư thành lập. Văn phòng luật sư nếu do một luật sư thành lập thì luật sư đó là Trưởng văn phòng và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của Văn phòng. Văn phòng luật sư nếu do một số luật sư thành lập thì các luật sư thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của Văn phòng. Các luật sư thành viên thỏa thuận cử một luật sư làm Trưởng văn phòng, Trưởng văn phòng là người đại diện theo pháp luật của văn phòng, văn phòng luật sư được thực hiện dịch vụ pháp lý: (i) dịch vụ trong lĩnh vực tham gia tố tụng; (ii) Dịch vụ tư vấn pháp luật; (iii) Dịch vụ pháp lý khác. Văn phòng luật sư có con dấu riêng theo quy định của Chính phủ [95, Điều 18].

Bằng cách liệt kê như trên, Pháp Lệnh luật sư năm 2001 cho chúng ta cách hiểu: VPLS là một chủ thể có chức năng cung ứng các dịch vụ pháp lý mà không cần bận tâm đến việc ngoài chủ thể này ra, có còn những chủ thể nào khác cũng có chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý nữa hay không. Ví dụ như: Văn phòng công chứng; Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước; Văn phòng thừa phát lại v.v…

Mặt khác, theo cách hiểu của luật chuyên ngành (Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi năm 2012) thì: “Văn phòng luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Luật sư thành lập văn phòng luật sư là Trưởng văn phòng và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của văn phòng. Trưởng văn phòng là người đại diện theo pháp luật của văn phòng. Văn phòng luật sư có con dấu, tài khoản theo quy định của pháp luật” [96, Điều 33]. Với cách tiếp cận này, có thể hiểu VPLS do một luật sư thành lập theo loại hình tổ chức và hoạt động của Doanh nghiệp tư nhân. Nghĩa là về bản chất pháp lý thì,VPLS là doanh nghiệp một chủ và không có tư cách pháp nhân, bởi lẽ: Chủ doanh nghiệp theo mô hình này phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của doanh nghiệp, và do vậy, chủ thể này phải chịu trách nhiệm pháp lý vô hạn. Đây là một trong những đặc điểm để phân biệt với các loại hình công ty luật trách nhiệm hữu hạn.

Ở một cách tiếp cận khác, khi tham khảo Luật về luật sư của Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa năm 1996 (sửa đổi năm 2007) thì: Văn phòng luật sư là tổ chức, nơi luật sư hành nghề. Văn phòng luật sư phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Tên gọi, trụ sở giao dịch và điều lệ;

- Có tài sản từ 100.000 nhân dân tệ trở lên;

-  Các luật sư đáp ứng đủ các điều kiện quy định trong luật về luật sư này;

Và Văn phòng luật sư được thành lập bằng vốn cấp của Nhà nước hành nghề độc lập, theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của văn phòng bằng toàn bộ tài sản của văn phòng. Theo cách mô tả như trên có thể hiểu họ liệt kê các tiêu chí có thể xem là các điều kiện thành lập VPLS và chủ thể này là một trong những hình thức tổ chức, tạo lập ra nơi mà các luật sư hành nghề. Đồng thời, qua cách tiếp cận này tác giả nhận diện và khẳng định rằng: Thay vì đưa ra một khái niệm hoặc định nghĩa về VPLS, thì họ chỉ liệt kê ra một số tiêu chí mang tính quy ước.

Từ những phân tích trên, VPLS được tác giả Luận án khái quát như sau:

Văn phòng luật sư là một trong những hình thức tổ chức hành nghề của luật sư, có chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp. Chủ sở hữu Văn phòng luật sư phải là luật sư và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi khoản nợ của văn phòng. Văn phòng luật sư có tên gọi riêng, có trụ sở giao dịch, được thành lập và đăng ký hoạt động theo thủ tục pháp luật quy định”.

Với định nghĩa nêu trên, tác giả Luận án rút ra một số điểm cần lưu ý của Văn phòng luật sư như sau:

Thứ nhất, VPLS là hình thức tổ chức hành nghề của luật sư, có chức năng kinh doanh một ngành nghề có điều kiện (cung cấp dịch vụ pháp lý). VPLS do luật sư thành lập và làm chủ. Luật sư thành lập vừa là chủ sở hữu văn phòng vừa là người trực tiếp quản lý và điều hành mọi hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng;

Thứ hai, chủ VPLS tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh dịch vụ pháp lý;

Thứ ba, VPLS không có tư cách pháp nhân, chủ sở hữu VPLS là đại diện pháp luật cho Văn phòng và là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trước Tòa án/Trọng tài hoặc cơ quan tài phán theo quy định v.v…

- Về hình thức Công ty luật hợp danh

Ở các quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Mỹ thì loại hình công ty luật hợp danh là một trong những hình thức tổ chức và hoạt động rất phổ biến đối với nghề luật sư. Mặt khác, ở các quốc gia này pháp luật không ràng buộc luật sư phải hành nghề trong một công ty luật hợp danh. Riêng ở Anh, hình thức công ty luật hợp danh chỉ dành cho các luật sư tư vấn còn luật sư biện hộ không được thành lập công ty, bởi các lý do: (i)Các luật sư biện hộ ở Anh không được trực tiếp gặp khách hàng; (ii)Mọi giao dịch với khách hàng do luật sư tư vấn đảm nhận, luật sư biện hộ nhận yêu cầu từ luật sư tư vấn chứ không phải từ khách hàng; (iii) Việc nhận thù lao cũng thông qua luật sư tư vấn (đã trình bày tại tiểu mục hành nghề luật sư ở Anh). Công ty luật hợp danh, theo cách tiếp cận này cho thấy: Ở mỗi quốc gia có cách quy định khác nhau về công ty luật hợp danh, có quốc gia quy định trực tiếp loại hình này phải theo tiêu chuẩn nào mới được thành lập, ở Việt Nam thì công ty hợp danh được quy định trong Luật Doanh nghiệp và sau đó công ty luật hợp danh lại bị chi phối riêng bởi luật chuyên ngành. Về cơ bản thì công ty luật hợp danh thể hiện các tiêu chí như:

Thứ nhất, các thành viên công ty luật hợp danh phải là luật sư, bởi lẽ: Hành nghề cung cấp dịch vụ pháp lý là một nghề mang tính đặc thù, vì thế không thể chấp nhận việc có thành viên góp vốn, dù thành viên góp vốn không tham gia điều hành hoạt động công ty. Thế nhưng, sự có mặt của thành viên góp vốn sẽ có ảnh hưởng nhất định đến các luật sư thành viên hợp danh khác,do vậy, công việc của luật sư không đảm bảo tính khách quan, trung thực.

Thứ hai, Công ty luật hợp danh là loại hình công ty đối nhân, yếu tố nhân thân của các thành viên công ty luôn được đặt lên hàng đầu. Các luật sư khi thành lập công ty hợp danh hầu hết đều quan tâm đến đạo đức của luật sư thành viên mà mình sẽ hợp tác, sau đó mới quan tâm đến khả năng, năng lực của thành viên đó, bởi: Khi hành nghề luật sư với hình thức hợp danh, thì chủ thể này ngoài sự ràng buộc và điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành, pháp luật chung còn phải chịu sự chi phối và điều chỉnh bởi các quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư.

Thứ ba, không có sự tách bạch về tài sản của công ty với tài sản của các thành viên hợp danh và do vậy, các thành viên này phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ của công ty. Điều này thể hiện chỗ, khi các luật sư cùng nhau thành lập công ty luật hợp danh, tài sản cá nhân của các luật sư có thể khác nhau, người nhiều, người ít, khi có một khoản nợ phát sinh từ công ty thì mỗi thành viên hợp danh đều phải có nghĩa vụ chia sẻ trách nhiệm bằng tất cả tài sản của mình. Và đây chính là yếu tố khiến cho việc chọn lựa đối tác hết sức quan trọng và trở thành rào cản khá lớn cho việc phát triển về số lượng công ty luật hợp danh trên thực tế hiện nay.

Theo: Trần Văn Công

Link luận án: Tại đây

avatar
Nguyenmaihuong
980 ngày trước
Khái niệm về hình thức tổ chức hành nghề luật sư theo pháp luật Việt Nam
2.1.2. Khái niệm về hình thức tổ chức hành nghề luật sư theo pháp luật Việt Nam- Về hình thức Văn phòng luật sưMặc dù thuật ngữ “Văn phòng luật sư” ở Việt Nam đã có một thời gian tồn tại khá lâu, song một cách hiểu thống nhất về khái niệm VPLS là gì vẫn chưa được xác định cụ thể, hiện nay trong các văn bản pháp luật chuyên ngành của Việt Nam về VPLS vẫn còn tồn tại khá nhiều cách hiểu khác nhau.Theo Pháp Lệnh luật sư năm 2001 thì: Văn phòng luật sư có thể do một hoặc một số luật sư thành lập. Văn phòng luật sư nếu do một luật sư thành lập thì luật sư đó là Trưởng văn phòng và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của Văn phòng. Văn phòng luật sư nếu do một số luật sư thành lập thì các luật sư thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của Văn phòng. Các luật sư thành viên thỏa thuận cử một luật sư làm Trưởng văn phòng, Trưởng văn phòng là người đại diện theo pháp luật của văn phòng, văn phòng luật sư được thực hiện dịch vụ pháp lý: (i) dịch vụ trong lĩnh vực tham gia tố tụng; (ii) Dịch vụ tư vấn pháp luật; (iii) Dịch vụ pháp lý khác. Văn phòng luật sư có con dấu riêng theo quy định của Chính phủ [95, Điều 18].Bằng cách liệt kê như trên, Pháp Lệnh luật sư năm 2001 cho chúng ta cách hiểu: VPLS là một chủ thể có chức năng cung ứng các dịch vụ pháp lý mà không cần bận tâm đến việc ngoài chủ thể này ra, có còn những chủ thể nào khác cũng có chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý nữa hay không. Ví dụ như: Văn phòng công chứng; Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước; Văn phòng thừa phát lại v.v…Mặt khác, theo cách hiểu của luật chuyên ngành (Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi năm 2012) thì: “Văn phòng luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Luật sư thành lập văn phòng luật sư là Trưởng văn phòng và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của văn phòng. Trưởng văn phòng là người đại diện theo pháp luật của văn phòng. Văn phòng luật sư có con dấu, tài khoản theo quy định của pháp luật” [96, Điều 33]. Với cách tiếp cận này, có thể hiểu VPLS do một luật sư thành lập theo loại hình tổ chức và hoạt động của Doanh nghiệp tư nhân. Nghĩa là về bản chất pháp lý thì,VPLS là doanh nghiệp một chủ và không có tư cách pháp nhân, bởi lẽ: Chủ doanh nghiệp theo mô hình này phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của doanh nghiệp, và do vậy, chủ thể này phải chịu trách nhiệm pháp lý vô hạn. Đây là một trong những đặc điểm để phân biệt với các loại hình công ty luật trách nhiệm hữu hạn.Ở một cách tiếp cận khác, khi tham khảo Luật về luật sư của Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa năm 1996 (sửa đổi năm 2007) thì: Văn phòng luật sư là tổ chức, nơi luật sư hành nghề. Văn phòng luật sư phải có đủ các điều kiện sau đây:- Tên gọi, trụ sở giao dịch và điều lệ;- Có tài sản từ 100.000 nhân dân tệ trở lên;-  Các luật sư đáp ứng đủ các điều kiện quy định trong luật về luật sư này;Và Văn phòng luật sư được thành lập bằng vốn cấp của Nhà nước hành nghề độc lập, theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của văn phòng bằng toàn bộ tài sản của văn phòng. Theo cách mô tả như trên có thể hiểu họ liệt kê các tiêu chí có thể xem là các điều kiện thành lập VPLS và chủ thể này là một trong những hình thức tổ chức, tạo lập ra nơi mà các luật sư hành nghề. Đồng thời, qua cách tiếp cận này tác giả nhận diện và khẳng định rằng: Thay vì đưa ra một khái niệm hoặc định nghĩa về VPLS, thì họ chỉ liệt kê ra một số tiêu chí mang tính quy ước.Từ những phân tích trên, VPLS được tác giả Luận án khái quát như sau:“Văn phòng luật sư là một trong những hình thức tổ chức hành nghề của luật sư, có chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp. Chủ sở hữu Văn phòng luật sư phải là luật sư và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi khoản nợ của văn phòng. Văn phòng luật sư có tên gọi riêng, có trụ sở giao dịch, được thành lập và đăng ký hoạt động theo thủ tục pháp luật quy định”.Với định nghĩa nêu trên, tác giả Luận án rút ra một số điểm cần lưu ý của Văn phòng luật sư như sau:Thứ nhất, VPLS là hình thức tổ chức hành nghề của luật sư, có chức năng kinh doanh một ngành nghề có điều kiện (cung cấp dịch vụ pháp lý). VPLS do luật sư thành lập và làm chủ. Luật sư thành lập vừa là chủ sở hữu văn phòng vừa là người trực tiếp quản lý và điều hành mọi hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng;Thứ hai, chủ VPLS tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh dịch vụ pháp lý;Thứ ba, VPLS không có tư cách pháp nhân, chủ sở hữu VPLS là đại diện pháp luật cho Văn phòng và là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trước Tòa án/Trọng tài hoặc cơ quan tài phán theo quy định v.v…- Về hình thức Công ty luật hợp danhỞ các quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Mỹ thì loại hình công ty luật hợp danh là một trong những hình thức tổ chức và hoạt động rất phổ biến đối với nghề luật sư. Mặt khác, ở các quốc gia này pháp luật không ràng buộc luật sư phải hành nghề trong một công ty luật hợp danh. Riêng ở Anh, hình thức công ty luật hợp danh chỉ dành cho các luật sư tư vấn còn luật sư biện hộ không được thành lập công ty, bởi các lý do: (i)Các luật sư biện hộ ở Anh không được trực tiếp gặp khách hàng; (ii)Mọi giao dịch với khách hàng do luật sư tư vấn đảm nhận, luật sư biện hộ nhận yêu cầu từ luật sư tư vấn chứ không phải từ khách hàng; (iii) Việc nhận thù lao cũng thông qua luật sư tư vấn (đã trình bày tại tiểu mục hành nghề luật sư ở Anh). Công ty luật hợp danh, theo cách tiếp cận này cho thấy: Ở mỗi quốc gia có cách quy định khác nhau về công ty luật hợp danh, có quốc gia quy định trực tiếp loại hình này phải theo tiêu chuẩn nào mới được thành lập, ở Việt Nam thì công ty hợp danh được quy định trong Luật Doanh nghiệp và sau đó công ty luật hợp danh lại bị chi phối riêng bởi luật chuyên ngành. Về cơ bản thì công ty luật hợp danh thể hiện các tiêu chí như:Thứ nhất, các thành viên công ty luật hợp danh phải là luật sư, bởi lẽ: Hành nghề cung cấp dịch vụ pháp lý là một nghề mang tính đặc thù, vì thế không thể chấp nhận việc có thành viên góp vốn, dù thành viên góp vốn không tham gia điều hành hoạt động công ty. Thế nhưng, sự có mặt của thành viên góp vốn sẽ có ảnh hưởng nhất định đến các luật sư thành viên hợp danh khác,do vậy, công việc của luật sư không đảm bảo tính khách quan, trung thực.Thứ hai, Công ty luật hợp danh là loại hình công ty đối nhân, yếu tố nhân thân của các thành viên công ty luôn được đặt lên hàng đầu. Các luật sư khi thành lập công ty hợp danh hầu hết đều quan tâm đến đạo đức của luật sư thành viên mà mình sẽ hợp tác, sau đó mới quan tâm đến khả năng, năng lực của thành viên đó, bởi: Khi hành nghề luật sư với hình thức hợp danh, thì chủ thể này ngoài sự ràng buộc và điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành, pháp luật chung còn phải chịu sự chi phối và điều chỉnh bởi các quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư.Thứ ba, không có sự tách bạch về tài sản của công ty với tài sản của các thành viên hợp danh và do vậy, các thành viên này phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ của công ty. Điều này thể hiện chỗ, khi các luật sư cùng nhau thành lập công ty luật hợp danh, tài sản cá nhân của các luật sư có thể khác nhau, người nhiều, người ít, khi có một khoản nợ phát sinh từ công ty thì mỗi thành viên hợp danh đều phải có nghĩa vụ chia sẻ trách nhiệm bằng tất cả tài sản của mình. Và đây chính là yếu tố khiến cho việc chọn lựa đối tác hết sức quan trọng và trở thành rào cản khá lớn cho việc phát triển về số lượng công ty luật hợp danh trên thực tế hiện nay.Theo: Trần Văn CôngLink luận án: Tại đây