0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c4da4baa528-Rút-khỏi-thị-trường-cung-cấp-dịch-vụ-pháp-lý-của-TCHNLS.jpg.webp

Rút khỏi thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý của TCHNLS

3.1.5. Rút khỏi thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý của TCHNLS

- Giải thể doanh nghiệp là một hiện tượng kinh tế-xã hội tồn tại tất yếu trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với chủ thể này là nhu cầu khách quan. Vì vậy, Luật Luật sư và pháp luật về TCHNLS với tư cách là công cụ quan trọng để Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ phát sinh có liên quan đến vấn đề chấm dứt hoạt động của TCHNLS nói riêng. Hay nói cách khác, pháp luật về TCHNLS, ngoài việc quy định việc tạo lập/thành lập ra một TCHNLS; quy định các biện pháp tổ chức lại TCHNLS, thì cũng cần các quy định về chấm dứt sự tồn tại của chúng (kết thúc giai đoạn tham gia hoạt động thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý). Trên thực tế, tương tự như giải thể một doanh nghiệp thông thường theo pháp luật doanh nghiệp, Luật Luật sư hiện hành có chế định chấm dứt hoạt động của TCHNLS thay cho quy định giải thể TCHNLS.

- Những trường hợp sau đây dẫn đến việc chấm dứt hoạt động, rút lui khỏi thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý của TCHNLS, đó là:

(i)  Trường hợp TCHNLS tự chấm dứt hoạt động

Đây là trường hợp khi hết thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ công ty hoặc Hợp đồng thành lập TCHNLS, và TCHNLS không có nhu cầu gia hạn thêm thời hạn hoạt động hoặc đã thực hiện xong mục tiêu đã đặt ra của chủ thể này,v.v...Song, cũng có thể chưa hết thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ công ty hoặc hợp đồng thành lập TCHNLS hoặc không cần đợi đến hết hạn ghi trong điều lệ, nhưng vì một lý do nào đó, ví dụ: Công ty hoạt động không còn hiệu quả; hoặc các luật sư thành viên sáng lập bất hợp tác với nhau trong quản lý/điều hành của chủ thể này chẳng hạn; hoặc công ty không phát triển được hoạt động kinh doanh do điều kiện cạnh tranh hay phương án kinh doanh không còn phù hợp với thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý hiện tại; hoặc có một lý do khách quan nào đó mà các sáng lập viên nhận thấy sự tồn tại của tổ chức/đơn vị mình không cần thiết nữa,v.v... (theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 47 Luật Luật sư hiện hành).

(ii)  Trường hợp chấm dứt hoạt động do TCHNLS bị thu hồi Giấy đăng ký kinh doanh/Giấy đăng ký hoạt động

- Trường hợp này là thuộc trường hợp chấm dứt hoạt động/giải thể bắt buộc bởi, có thể do TCHNLS vi phạm pháp luật hoặc cũng có thể là bị xử phạt hành chính bằng hình thức tước quyền sử dụng Giấy đăng ký hoạt động; hoặc cũng có thể do TCHNLS thực hiện không đầy đủ các trình tự, thủ tục theo quy định,v.v…ví dụ, VPLS/công ty luật không đăng ký mã số thuế trong thời hạn một (01) năm kể từ ngày được Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động; hoặc TCHNLS không hoạt động tại trụ sở đã đăng ký trong thời hạn sáu (06) tháng liên tục kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động; TCHNLS không kê khai nộp thuế; hoặc là đã hết thời hạn tạm ngưng hoạt động kinh doanh hay tạm ngưng hoạt động quá hai (02) năm mà TCHNLS không hoạt động trở lại (theo quy định tại điểm b, khoản 1, điều 47 Luật Luật sư hiện hành).

(iii)  Trường hợp Trưởng VPLS; Giám đốc công ty luật TNHH-MTV hoặc tất cả các thành viên của công ty luật hợp danh, thành viên của công ty luật TNHH hai thành viên trở lên bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư (là trường hợp theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 47 Luật Luật sư hiện hành)

- Các luật sư sáng lập viên có thể bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, ví dụ như: Các sáng lập viên không tuân thủ pháp luật; vi phạm đạo đức nghề nghiệp; không đủ sức khỏe hoặc mất năng lực hành vi dân sự chẳng hạn; Hoặc là các luật sư sáng lập viên không còn thường trú tại Việt Nam; Luật sư thôi hành nghề theo nguyện vọng; hoặc luật sư bị xóa tên khỏi danh sách của Đoàn luật sư mà trước đó là thành viên của Đoàn; hoặc bị phạt hành chính bằng hình thức tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư có thời hạn; hoặc bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; hoặc bị kết án mà bản án đã có hiệu lực phát luật, v.v…

Theo tác giả thì, trường hợp tất cả các luật sư sáng lập viên (đồng loạt) bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư cũng thuộc trường hợp bắt buộc chấm dứt hoạt động. Tuy nhiên, trên thực tế việc “đồng loạt” tất cả các thành viên của công ty luật hợp danh hoặc tất cả các thành viên của công ty luật TNHH hai thành viên trở lên bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư “là rất hiếm xảy ra”. Qua đó cho thấy, ở tình huống này, nhà làm luật chưa dự liệu được các quy chế để điều chỉnh, hơn nữa hiện nay chưa có dẫn chiếu cụ thể là phải áp dụng pháp luật tương tự như điều khoản quy định tại điểm c khoản 1 Điều 201, Luật Doanh nghiệp năm 2014. Do vậy, tác giả cho rằng tại Điều 47 Luật Luật sư hiện hành cần thiết phải được bổ sung và hoàn thiện nhằm tạo khung pháp lý ổn định theo hướng: chỉ buộc chủ thể này tạm ngưng hoạt động trong thời hạn sáu (06) tháng đối với trường hợp công ty luật hợp danh và công ty luật TNHH hai thành viên trở lên không còn đủ thành viên “tối thiểu hai luật sư” theo quy định, để các chủ thể này có thời gian bổ sung thành viên, hoặc làm thủ tục chuyển đổi loại hình hoạt động. Trong trường hợp quá sáu (06) tháng mà các chủ thể này không hoàn tất thủ tục bổ sung thành viên hoặc không chuyển đổi loại hình phù hợp theo luật định, khi đó buộc phải giải thể/chấm dứt hoạt động.

(iv)   Trường hợp chấm dứt hoạt động do công ty luật bị hợp nhất hoặc sáp nhập vào công ty luật khác. Nghĩa là, khi công ty luật bị hợp nhất vào công ty luật mới; hoặc công ty luật bị sáp nhập vào công ty luật khác cùng loại, thì công ty bị hợp nhất hoặc sáp nhập phải chấm dứt hoạt động (là trường hợp quy định tại điểm d, khoản 1, điều 47 Luật Luật sư hiện hành).

(v) Trường hợp Trưởng VPLS hoặc Giám đốc công ty luật TNHH-MTV chết, theo quy định của luật chuyên ngành trong trường hợp này thì cũng phải chấm dứt hoạt động của chủ thể tương ứng, việc giải quyết quyền và nghĩa vụ về tài sản của các chủ thể bị chấm dứt hoạt động được tiến hành theo quy định của pháp luật về dân sự, ví dụ thực hiện nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản do người chết để lại, hoặc thừa kế và khai di sản v.v…(đây là trường hợp quy định tại điểm đ, khoản 1, điều 47 Luật Luật sư hiện hành).

Ngoài ra, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi năm 2012) còn quy định trình tự thủ tục chấm dứt hoạt động TCHNLS theo các khoản 2,3,4 Điều 47 và trình tự thủ tục chấm dứt hoạt động chi nhánh hoặc văn phòng giao dịch của TCHNLS theo Điều 48 của Luật này.

Theo: Trần Văn Công

Link luận án: Tại đây

avatar
Nguyenmaihuong
870 ngày trước
Rút khỏi thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý của TCHNLS
3.1.5. Rút khỏi thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý của TCHNLS- Giải thể doanh nghiệp là một hiện tượng kinh tế-xã hội tồn tại tất yếu trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với chủ thể này là nhu cầu khách quan. Vì vậy, Luật Luật sư và pháp luật về TCHNLS với tư cách là công cụ quan trọng để Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ phát sinh có liên quan đến vấn đề chấm dứt hoạt động của TCHNLS nói riêng. Hay nói cách khác, pháp luật về TCHNLS, ngoài việc quy định việc tạo lập/thành lập ra một TCHNLS; quy định các biện pháp tổ chức lại TCHNLS, thì cũng cần các quy định về chấm dứt sự tồn tại của chúng (kết thúc giai đoạn tham gia hoạt động thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý). Trên thực tế, tương tự như giải thể một doanh nghiệp thông thường theo pháp luật doanh nghiệp, Luật Luật sư hiện hành có chế định chấm dứt hoạt động của TCHNLS thay cho quy định giải thể TCHNLS.- Những trường hợp sau đây dẫn đến việc chấm dứt hoạt động, rút lui khỏi thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý của TCHNLS, đó là:(i)  Trường hợp TCHNLS tự chấm dứt hoạt độngĐây là trường hợp khi hết thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ công ty hoặc Hợp đồng thành lập TCHNLS, và TCHNLS không có nhu cầu gia hạn thêm thời hạn hoạt động hoặc đã thực hiện xong mục tiêu đã đặt ra của chủ thể này,v.v...Song, cũng có thể chưa hết thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ công ty hoặc hợp đồng thành lập TCHNLS hoặc không cần đợi đến hết hạn ghi trong điều lệ, nhưng vì một lý do nào đó, ví dụ: Công ty hoạt động không còn hiệu quả; hoặc các luật sư thành viên sáng lập bất hợp tác với nhau trong quản lý/điều hành của chủ thể này chẳng hạn; hoặc công ty không phát triển được hoạt động kinh doanh do điều kiện cạnh tranh hay phương án kinh doanh không còn phù hợp với thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý hiện tại; hoặc có một lý do khách quan nào đó mà các sáng lập viên nhận thấy sự tồn tại của tổ chức/đơn vị mình không cần thiết nữa,v.v... (theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 47 Luật Luật sư hiện hành).(ii)  Trường hợp chấm dứt hoạt động do TCHNLS bị thu hồi Giấy đăng ký kinh doanh/Giấy đăng ký hoạt động- Trường hợp này là thuộc trường hợp chấm dứt hoạt động/giải thể bắt buộc bởi, có thể do TCHNLS vi phạm pháp luật hoặc cũng có thể là bị xử phạt hành chính bằng hình thức tước quyền sử dụng Giấy đăng ký hoạt động; hoặc cũng có thể do TCHNLS thực hiện không đầy đủ các trình tự, thủ tục theo quy định,v.v…ví dụ, VPLS/công ty luật không đăng ký mã số thuế trong thời hạn một (01) năm kể từ ngày được Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động; hoặc TCHNLS không hoạt động tại trụ sở đã đăng ký trong thời hạn sáu (06) tháng liên tục kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động; TCHNLS không kê khai nộp thuế; hoặc là đã hết thời hạn tạm ngưng hoạt động kinh doanh hay tạm ngưng hoạt động quá hai (02) năm mà TCHNLS không hoạt động trở lại (theo quy định tại điểm b, khoản 1, điều 47 Luật Luật sư hiện hành).(iii)  Trường hợp Trưởng VPLS; Giám đốc công ty luật TNHH-MTV hoặc tất cả các thành viên của công ty luật hợp danh, thành viên của công ty luật TNHH hai thành viên trở lên bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư (là trường hợp theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 47 Luật Luật sư hiện hành)- Các luật sư sáng lập viên có thể bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, ví dụ như: Các sáng lập viên không tuân thủ pháp luật; vi phạm đạo đức nghề nghiệp; không đủ sức khỏe hoặc mất năng lực hành vi dân sự chẳng hạn; Hoặc là các luật sư sáng lập viên không còn thường trú tại Việt Nam; Luật sư thôi hành nghề theo nguyện vọng; hoặc luật sư bị xóa tên khỏi danh sách của Đoàn luật sư mà trước đó là thành viên của Đoàn; hoặc bị phạt hành chính bằng hình thức tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư có thời hạn; hoặc bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; hoặc bị kết án mà bản án đã có hiệu lực phát luật, v.v…Theo tác giả thì, trường hợp tất cả các luật sư sáng lập viên (đồng loạt) bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư cũng thuộc trường hợp bắt buộc chấm dứt hoạt động. Tuy nhiên, trên thực tế việc “đồng loạt” tất cả các thành viên của công ty luật hợp danh hoặc tất cả các thành viên của công ty luật TNHH hai thành viên trở lên bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư “là rất hiếm xảy ra”. Qua đó cho thấy, ở tình huống này, nhà làm luật chưa dự liệu được các quy chế để điều chỉnh, hơn nữa hiện nay chưa có dẫn chiếu cụ thể là phải áp dụng pháp luật tương tự như điều khoản quy định tại điểm c khoản 1 Điều 201, Luật Doanh nghiệp năm 2014. Do vậy, tác giả cho rằng tại Điều 47 Luật Luật sư hiện hành cần thiết phải được bổ sung và hoàn thiện nhằm tạo khung pháp lý ổn định theo hướng: chỉ buộc chủ thể này tạm ngưng hoạt động trong thời hạn sáu (06) tháng đối với trường hợp công ty luật hợp danh và công ty luật TNHH hai thành viên trở lên không còn đủ thành viên “tối thiểu hai luật sư” theo quy định, để các chủ thể này có thời gian bổ sung thành viên, hoặc làm thủ tục chuyển đổi loại hình hoạt động. Trong trường hợp quá sáu (06) tháng mà các chủ thể này không hoàn tất thủ tục bổ sung thành viên hoặc không chuyển đổi loại hình phù hợp theo luật định, khi đó buộc phải giải thể/chấm dứt hoạt động.(iv)   Trường hợp chấm dứt hoạt động do công ty luật bị hợp nhất hoặc sáp nhập vào công ty luật khác. Nghĩa là, khi công ty luật bị hợp nhất vào công ty luật mới; hoặc công ty luật bị sáp nhập vào công ty luật khác cùng loại, thì công ty bị hợp nhất hoặc sáp nhập phải chấm dứt hoạt động (là trường hợp quy định tại điểm d, khoản 1, điều 47 Luật Luật sư hiện hành).(v) Trường hợp Trưởng VPLS hoặc Giám đốc công ty luật TNHH-MTV chết, theo quy định của luật chuyên ngành trong trường hợp này thì cũng phải chấm dứt hoạt động của chủ thể tương ứng, việc giải quyết quyền và nghĩa vụ về tài sản của các chủ thể bị chấm dứt hoạt động được tiến hành theo quy định của pháp luật về dân sự, ví dụ thực hiện nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản do người chết để lại, hoặc thừa kế và khai di sản v.v…(đây là trường hợp quy định tại điểm đ, khoản 1, điều 47 Luật Luật sư hiện hành).Ngoài ra, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi năm 2012) còn quy định trình tự thủ tục chấm dứt hoạt động TCHNLS theo các khoản 2,3,4 Điều 47 và trình tự thủ tục chấm dứt hoạt động chi nhánh hoặc văn phòng giao dịch của TCHNLS theo Điều 48 của Luật này.Theo: Trần Văn CôngLink luận án: Tại đây