0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c4daacb8be8-_-Quản-lý-hành-nghề-luật-sư-theo-Luật-Luật-sư-hiện-hành-.jpg.webp

Quản lý hành nghề luật sư theo Luật Luật sư hiện hành

3.1.6. Quản lý hành nghề luật sư theo Luật Luật sư hiện hành

Luật Luật sư hiện hành đã dành chương VII, với hai điều luật (Điều 83 và 84) quy định cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý luật sư và hành nghề luật sư; đồng thời, quy định nội dung chế độ tự quản của tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư. Theo đó, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư bao gồm Chính phủ, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư gồm Liên Đoàn luật sư Việt Nam và Đoàn Luật sư các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương.

Nội dung quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư của Bộ Tư pháp được mô tả chi tiết tại khoản 2 Điều 83, Luật Luật sư hiện hành. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư (khoản 3, Điều 83).

Về các nội dung quản lý của Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương được mô tả chi tiết tại khoản 4 Điều 83, Luật Luật sư hiện hành. Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương mình.

Trách nhiệm tự quản của Liên Đoàn luật sư Việt Nam và Đoàn Luật sư các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (là tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư), thực hiện tự quản luật sư và hành nghề luật sư theo quy định của Luật Luật sư hiện hành và Điều lệ của Liên Đoàn luật sư Việt Nam. Tổ chức xã hội -nghề nghiệp của luật sư phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý về luật sư và hành nghề luật sư [97, Điều 84].

Qua tiếp cận nội dung của hai điều luật nêu trên, có thể khẳng định rằng, các quy định đã được mô tả ở trên là một trong những phương tiện chủ yếu và cơ bản để thực hiện công tác quản lý luật sư và hành nghề luật sư trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Qua nghiên cứu, tác giả có một số nhật xét sau:

Thứ nhất, theo quy định của các điều luật trên đã cụ thể hóa những nội dung quản lý luật sư, hành nghề luật sư bao gồm, nội dung quản lý nhà nước và nội dung quản lý của tổ chức xã hội-nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay; phân định rõ thẩm quyền quản lý của nhà nước và của tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư từ Trung ương đến địa phương;

Thứ hai, theo Luật Luật sư hiện hành đã từng bước kiện toàn hệ thống tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư từ Trung ương đến các địa phương, cụ thể đã thành lập Liên Đoàn luật sư Việt Nam (là tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư ở trung ương) và Đoàn Luật sư ở các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (là tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư ở địa phương), cùng với việc quy định cụ thể về nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức này, có thể nói, Luật Luật sư hiện hành đã tăng cường đáng kể vai trò tự quản của tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư.

Tuy vậy, về vấn đề quản lý luật sư và hành nghề luật sư theo pháp luật về luật sư hiện nay còn có một số vấn đề cần tiếp tục làm rõ. Một là, nội dung quản lý Nhà nước đối với luật sư và hành nghề luật sư được Luật Luật sư hiện hành quy định còn mang tính chất dàn trải, hình thức, vì vậy, chưa thể hiện sự phân cấp mạnh mẽ đáp ứng nhiệm vụ cải cách hành chính hiện nay. Cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư ở Trung ương chưa thực sự là cơ quan thực hiện những nội dung mang tầm vĩ mô; còn ở địa phương, Luật Luật sư hiện hành quy định thẩm quyền quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư còn mang tính chung chung. Hai là, với Liên Đoàn luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư địa phương có vai trò rất lớn trong công tác quản lý luật sư cũng như hành nghề luật sư. Thế nhưng, Luật Luật sư hiện hành chỉ quy định mang tính nguyên tắc, chưa có chế tài rõ ràng, chưa cụ thể hóa các nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức này. Do vậy, thực tế các tổ chức trên (tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư) chưa thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, vai trò và nhiệm vụ tự quản của mình.

Theo: Trần Văn Công

Link luận án: Tại đây

avatar
Nguyenmaihuong
871 ngày trước
Quản lý hành nghề luật sư theo Luật Luật sư hiện hành
3.1.6. Quản lý hành nghề luật sư theo Luật Luật sư hiện hànhLuật Luật sư hiện hành đã dành chương VII, với hai điều luật (Điều 83 và 84) quy định cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý luật sư và hành nghề luật sư; đồng thời, quy định nội dung chế độ tự quản của tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư. Theo đó, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư bao gồm Chính phủ, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư gồm Liên Đoàn luật sư Việt Nam và Đoàn Luật sư các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương.Nội dung quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư của Bộ Tư pháp được mô tả chi tiết tại khoản 2 Điều 83, Luật Luật sư hiện hành. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư (khoản 3, Điều 83).Về các nội dung quản lý của Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương được mô tả chi tiết tại khoản 4 Điều 83, Luật Luật sư hiện hành. Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương mình.Trách nhiệm tự quản của Liên Đoàn luật sư Việt Nam và Đoàn Luật sư các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (là tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư), thực hiện tự quản luật sư và hành nghề luật sư theo quy định của Luật Luật sư hiện hành và Điều lệ của Liên Đoàn luật sư Việt Nam. Tổ chức xã hội -nghề nghiệp của luật sư phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý về luật sư và hành nghề luật sư [97, Điều 84].Qua tiếp cận nội dung của hai điều luật nêu trên, có thể khẳng định rằng, các quy định đã được mô tả ở trên là một trong những phương tiện chủ yếu và cơ bản để thực hiện công tác quản lý luật sư và hành nghề luật sư trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Qua nghiên cứu, tác giả có một số nhật xét sau:Thứ nhất, theo quy định của các điều luật trên đã cụ thể hóa những nội dung quản lý luật sư, hành nghề luật sư bao gồm, nội dung quản lý nhà nước và nội dung quản lý của tổ chức xã hội-nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay; phân định rõ thẩm quyền quản lý của nhà nước và của tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư từ Trung ương đến địa phương;Thứ hai, theo Luật Luật sư hiện hành đã từng bước kiện toàn hệ thống tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư từ Trung ương đến các địa phương, cụ thể đã thành lập Liên Đoàn luật sư Việt Nam (là tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư ở trung ương) và Đoàn Luật sư ở các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (là tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư ở địa phương), cùng với việc quy định cụ thể về nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức này, có thể nói, Luật Luật sư hiện hành đã tăng cường đáng kể vai trò tự quản của tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư.Tuy vậy, về vấn đề quản lý luật sư và hành nghề luật sư theo pháp luật về luật sư hiện nay còn có một số vấn đề cần tiếp tục làm rõ. Một là, nội dung quản lý Nhà nước đối với luật sư và hành nghề luật sư được Luật Luật sư hiện hành quy định còn mang tính chất dàn trải, hình thức, vì vậy, chưa thể hiện sự phân cấp mạnh mẽ đáp ứng nhiệm vụ cải cách hành chính hiện nay. Cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư ở Trung ương chưa thực sự là cơ quan thực hiện những nội dung mang tầm vĩ mô; còn ở địa phương, Luật Luật sư hiện hành quy định thẩm quyền quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư còn mang tính chung chung. Hai là, với Liên Đoàn luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư địa phương có vai trò rất lớn trong công tác quản lý luật sư cũng như hành nghề luật sư. Thế nhưng, Luật Luật sư hiện hành chỉ quy định mang tính nguyên tắc, chưa có chế tài rõ ràng, chưa cụ thể hóa các nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức này. Do vậy, thực tế các tổ chức trên (tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư) chưa thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, vai trò và nhiệm vụ tự quản của mình.Theo: Trần Văn CôngLink luận án: Tại đây