Đánh giá chung về thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về tổ chức hành nghề luật sư
3.2.4. Đánh giá chung về thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về tổ chức hành nghề luật sư
Nghiên cứu thực trạng về TCHNLS tại TP.HCM và thực tiễn thi hành pháp luật về TCHNLS, Luận án phát hiện những hạn chế sau đây đồng thời nhận diện về những nguyên nhân của các hạn chế này.
- Một số hạn chế bất cập và tồn tại
Thứ nhất, một trong những tồn tại cản trở việc thành lập TCHNLS đối với các chủ thể là những luật sư trẻ, luật sư chưa qua hành nghề luật sư thực thụ với thời gian liên tục hai (02) năm. Nghĩa là, điều kiện để một luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập một TCHNLS là phải có ít nhất hai (02) năm hành nghề liên tục hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức (theo điểm a, khoản 3 Điều 32, Luật Luật sư hiện hành) thực sự là một rào cản cần được sớm sửa đổi để phù hợp với điều kiện hiện nay.
Thứ hai, theo luật chuyên ngành quy định luật sư phải “chuyển sinh hoạt Đoàn” khi luật sư tham gia thành lập VPLS hoặc công ty luật mà không phải là thành viên của Đoàn luật sư nơi có VPLS/công ty luật phải chuyển về gia nhập Đoàn Luật sư nơi có VPLS/công ty luật hoặc chi nhánh của VPLS/công ty luật (theo khoản 5 Điều 32, Luật Luật sư hiện hành) đây thực sự là một quy định “cứng nhắc” mang tính miễn cưỡng, và là rào cản không cần thiết.
Thứ ba, theo nội dung mô tả tại điểm d, khoản 2 Điều 35, Luật Luật sư hiện hành, rằng: hồ sơ đăng ký thành lập/đăng ký hoạt động “phải” có “Giấy tờ chứng minh về trụ sở của tổ chức hành nghề luật sư”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đến nay các văn bản dưới luật (Nghị định, thông tư) đã không có bất cứ một văn bản nào giải thích, hướng dẫn chi tiết “loại giấy tờ nào chứng minh trụ sở của Tổ chức hành nghề luật sư” và gồm những giấy tờ gì? Chính lý do này, nên trong thực tế khi đăng ký hoạt động cho VPLS/công ty luật có nơi cung cấp Hợp đồng thuê nhà hoặc hợp đồng mượn nhà (có công chứng); có nơi lại cung cấp văn bản thuê văn phòng/thuê mặt bằng (không cần công chứng),v.v... Do vậy, quá trình thực hiện đã gây ra không ít khó khăn, cản trở trong việc đăng ký thành lập TCHNLS.
Thứ tư, qua nghiên cứu về vấn đề vốn góp hay nói cách khác là phần đóng góp của mỗi luật sư thành viên trong TCHNLS, có thể nói, theo pháp luật về luật sư và TCHNLS hiện nay, chưa có quy định mức vốn tối thiểu cho hoạt động của VPLS/công ty luật; chưa có phương thức tính giá trị góp vốn, phân chia lợi nhuận, thực hiện nghĩa vụ thuế, cũng như giới hạn trách nhiệm bằng tài sản của luật sư góp vốn vào VPLS/công ty luật liên quan đến hoạt động nghề nghiệp giữa luật sư với khách hàng [90, tr.88-89]. Và do vậy, pháp luật về TCHNLS của ta chưa giải quyết được tình trạng mâu thuẫn về tỷ lệ góp vốn thành lập VPLS/công ty luật với trách nhiệm vô hạn của luật sư. Đồng thời, pháp luật về TCHNLS chưa xác định một cách chuẩn xác về đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ thuế. Luận án xác định đây là bất cập cần được tiếp tục nghiên cứu và kịp thời bổ sung vào Luật Luật sư hiện hành.
Thứ năm, về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của TCHNLS cho khách hàng do lỗi gây ra của luật sư thuộc tổ chức mình (theo khoản 5 Điều 40, Luật Luật sư hiện hành). Tác giả Luận án thấy rằng, quy định này chỉ mô tả chung chung, nửa vời, và chưa có cơ chế pháp lý để giải quyết các tranh chấp (nếu có) giữa luật sư với khách hàng hay giữa TCHNLS với luật sư thành viên,…v.v. Thực trạng này đã gây ra những khó khăn, vướng mắc cho các TCHNLS khi thực hiện trên thực tế, và là rào cản lớn cho sự tồn tại và phát triển của TCHNLS trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam.
Thứ sáu, vấn đề TCHNLS thực hiện nghĩa vụ “bắt buộc” mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình là hết sức cần thiết (theo khoản 6 Điều 40, Luật Luật sư hiện hành). Tuy nhiên, theo tác giả thì chế định này chỉ mang tính khái quát, mô tả rất chung chung, không quy định rõ các tiêu chí cũng như định mức bảo hiểm phải mua là bao nhiêu? Dựa vào cơ sở pháp lý nào và mức bảo hiểm như thế nào là phù hợp?…v.v. Thực trạng này gây ra khó khăn trong thực tiễn thi hành và gây ra lúng túng trong công tác kiểm tra giám sát TCHNLS thực hiện nghĩa vụ này. Thiết nghĩ, chế định trên cần được bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện trong Luật Luật sư hiện hành, nhằm tạo cơ chế pháp lý thực thi hiệu quả.
Thứ bảy, pháp luật về TCHNLS hiện nay còn thiếu tính hệ thống. Vấn đề này được thể hiện khá rõ qua các luật như: Luật Luật sư hiện hành; Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản pháp luật đang được sử dụng để điều chỉnh đến các TCHNLS ở Việt Nam như: Nghị định 123; Thông tư số 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 [13]. Bên cạnh đó, các văn bản dưới luật (Thông tư, Nghị định), kể cả Luật Luật sư hiện hành là khung pháp lý điều chỉnh trực tiếp đến các hình thức TCHNLS được soạn thảo và ban hành dựa trên nền tảng là Luật Doanh nghiệp năm 2005 (đã hết hiệu lực). Và do vậy, tác giả có thể khẳng định rằng pháp luật về TCHNLS ở Việt Nam hiện nay đang thiếu tính hệ thống, tính đồng bộ cần thiết. Thực trạng này chắc chắn sẽ gây ra những khó khăn nhất định trong việc thực thi trên thực tế;
Thứ tám, các quy định của pháp luật về TCHNLS hiện hành còn tồn tại khá nhiều các quy định chồng chéo, mâu thuẫn với nhau. Có thể thấy rất rõ nét ở những nội dung liên quan ví dụ như: Tài khoản của VPLS; tư cách pháp nhân của công ty luật hợp danh; cơ cấu tổ chức của VPLS/công ty luật và những quy định về các biện pháp tổ chức lại TCHNLS,....v.v. Thực trạng đã gây ra những khó khăn rất lớn trong công tác tổ chức và hoạt động của TCHNLS trên thực tế. Để các TCHNLS trong cả nước nói chung và các TCHNLS tại TP.HCM nói riêng, có thể phát triển một cách bền vững cả về số lượng cũng như chất lượng, thì rất cần phải khắc phục những bất cập này;
Thứ chín, còn tồn tại khá nhiều nội dung của các quy định pháp luật hiện hành chưa thực sự phù hợp với hình thức tổ chức và hoạt động của VPLS/công ty luật hiện nay. Qua những phân tích về thực trạng pháp luật trong mục 3.1, có thể dễ dàng nhận thấy, có không ít quy định được đưa ra chưa thật sự phù hợp với thực tiễn hoặc thiếu cơ sở lý luận cũng như thực tế. Có thể kể đến một số vấn đề như: (i) Quy định cứng nhắc về hình thức pháp lý của TCHNLS; (ii) Quy định về các điều kiện gia nhập thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp cũng như trình tự đăng ký thành lập TCHNLS còn khá chung chung, chưa có sự phân biệt cụ thể và rõ ràng giữa VPLS và công ty luật; (iii) Một số nội dung trong các quy định về tổ chức và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của TCHNLS,…v.v. Như luận án đã phân tích trong mục 3.1, cũng cần phải rà soát, xem xét, sửa đổi, bổ sung và kiện toàn thì mới có thể tạo ra một khung pháp lý phù hợp với thực trạng của TCHNLS ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay;
Theo: Trần Văn Công
Link luận án: Tại đây