Nhóm giải pháp hoàn thiện các điều kiện và tiêu chí thành lập tổ chức hành nghề luật sư
4.1.3. Nhóm giải pháp hoàn thiện các điều kiện và tiêu chí thành lập tổ chức hành nghề luật sư
(1) Kiến nghị đối với vấn đề điều kiện chủ thể thành lập TCHNLS phải hành nghề luật sư liên tục qua hai năm
Như đã trình bày tại mục 3.1.1 (ở điều kiện/tiêu chí thứ hai), theo Luật luật sư hiện hành (điểm a, khoản 3 Điều 32, Luật Luật sư) xác định chủ thể có thể tham gia thành lập TCHNLS phải là luật sư thực thụ hành nghề ít nhất hai (02) năm liên tục. Theo quan điểm tác giả Luận án, quy định như vậy là chưa thực sự hợp lý, bởi lẽ: Với yêu cầu này làm cho việc thành lập hoặc tham gia thành lập TCHNLS của các luật sư trẻ trở nên khó khăn, và vô tình điều kiện này là rào cản không cần thiết, bởi trong mọi trường hợp, TCHNLS chỉ có thể được thành lập khi và chỉ khi có sự tham gia của các chủ thể là những luật sư đã thực thụ hành nghề hai năm và phải có tính liên tục trong thời hạn đó. Mặt khác, theo tác giả thì: Bản chất của nghề luật sư là nghề tự do, tự chịu trách nhiệm về mọi rủi ro phát sinh trong quá trình hành nghề và có nghĩa vụ bắt buộc phải bồi thường mọi thiệt hại cho khách hàng do lỗi của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp gây ra. Do đó, quy định như trên là không thực sự cần thiết và phần nào hạn chế hoạt động nghề nghiệp của luật sư.
Từ những lý do trên, tác giả kiến nghị nên bãi bỏ quy định “…luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục …” mới đủ điều kiện thành lập TCHNLS, nội dung được mô tả tại điểm a, khoản 3 Điều 32, Luật Luật sư hiện hành.
(2) Kiến nghị đối với vấn đề chuyển Đoàn Luật sư khi thành lập TCHNLS
Như đã trình bày tại mục 3.1.1 (ở điều kiện/tiêu chí thứ tư), theo Luật luật sư hiện hành (khoản Điều 32) theo tác giả thì quy định tại Điều khoản này “buộc” luật sư không phải là thành viên của Đoàn Luật sư nơi có TCHNLS mà bản thân là thành viên, phải chuyển về gia nhập Đoàn Luật sư địa phương, nơi mà luật sư thành lập TCHNLS hoặc chi nhánh TCHNLS là một quy định không khoa học và chưa phù hợp trong giai đoạn hiện nay. Bởi, thiết nghĩ việc buộc luật sư chỉ có thể được thành lập hoặc tham gia thành lập TCHNLS tại địa phương có Đoàn Luật sư mà mình là thành viên, song nếu thành lập hoặc tham gia thành lập TCHNLS ở địa phương khác tỉnh, thì luật sư phải chuyển đến gia nhập Đoàn Luật sư nơi có trụ sở của TCHNLS là không cần thiết. Dường như quy định này được đặt ra chỉ để quản lý về số lượng TCHNLS do thành viên của Đoàn Luật sư mình quản lý nhiều hay ít, mà không lý giải được tính tất yếu và sự cần thiết cho nhiệm vụ quản lý của Đoàn Luật sư. Trái lại, việc luật sư ở tỉnh này, khi thành lập hoặc tham gia thành lập TCHNLS ở một tỉnh khác buộc phải chuyển về gia nhập Đoàn Luật sư nơi có trụ sở TCHNLS là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất cân đối về số lượng luật sư giữa các Đoàn Luật sư của các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trên phạm vi cả nước.
Từ thực trạng nói trên, tác giả Luận án kiến nghị nên bãi bỏ quy định tại khoản 5 Điều 32 của Luật này, bởi đây thực sự không phải là một điều kiện có tính khoa học và trong chừng mực nhất định đã gây trở ngại cho hoạt động hành nghề luật sư.
(3) Kiến nghị bổ sung nội dung xác định mức vốn tối thiểu (vốn pháp định) của TCHNLS vào Điều lệ công ty luật và VPLS
- Về bản chất pháp lý, có thể nói các hình thức TCHNLS là loại hình doanh nghiệp, vì vậy theo quan điểm của tác giả, thì khi chủ thể thành lập TCHNLS (VPLS hợp danh hay công ty luật hợp danh) phải có bản điều lệ của chủ thể này trong thành phần hồ sơ đăng ký hoạt động theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 35, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi năm 2012) và Điều 7 Nghị định 123.
Như nội dung Luận án đã trình bày tại mục 3.1.1, tiểu mục (2) (về các tiêu chí về hồ sơ đăng ký hoạt động) và mục 3.2.7 (tiểu mục thứ tư), chúng ta rất dễ nhận thấy trong nội dung của Điều lệ công ty luật thiếu vắng phần xác định vốn góp hay nói cách khác là phần đóng góp của mỗi luật sư thành viên trong công ty.
Mặt khác, pháp luật về TCHNLS của nước ta chưa có quy định về mức vốn tối thiểu của TCHNLS, vì vậy Luật Luật sư hiện hành chưa giải quyết được các vấn đề có liên quan như: tình trạng mâu thuẫn về tỷ lệ góp vốn hay tỷ lệ đóng góp của các thành viên sáng lập công ty; chưa có phương thức tính giá trị góp vốn, khó xác định về đối tượng chịu thuế và chưa xác định được phương thức tính thuế của chủ thể này,v.v…
Từ thực trạng nêu trên, tác giả Luận án kiến nghị, bổ sung nội dung xác định vốn tối thiểu hay vốn pháp định vào nội dung bản Điều lệ TCHNLS (tức Điều lệ của VPLS hợp danh và công ty luật hợp danh) tạo khung pháp lý ổn định để loại hình doanh nghiệp này tồn tại và phát triển đúng quy định.
(4) Kiến nghị sửa đổi điều kiện về thành phần hồ sơ đăng ký hoạt động TCHNLS quy định tại điểm d, Khoản 2 Điều 35, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi nằm 2012)
Như Luận án đã trình bày tại mục 3.1.1 và mục 3.2.7 (thứ ba) của Luận án , cho thấy pháp luật về TCHNLS hiện tại có quy định, khi luật sư có nhu cầu thành lập TCHNLS cần phải xây dựng một bộ hồ sơ gồm các thành phần theo quy định tại khoản 2 Điều 35, Luật Luật sư năm 2006. Theo điểm d của khoản 2, Điều luật này quy định, hồ sơ đăng ký hoạt động của TCHNLS phải có: “Giấy tờ chứng minh trụ sở của TCHNLS”. Với cụm từ “Giấy tờ chứng minh trụ sở” được mô tả tại Điều khoản này mang tính chung chung, vì vậy có thể hiểu giấy tờ này là: Một hợp đồng thuê/mượn nhà; hoặc hợp đồng mượn văn phòng làm việc; giấy mượn/thuê văn phòng, v.v... hoặc cũng có thể hiểu là: Giấy cam kết có trụ sở làm việc của TCHNLS hay là giấy chủ quyền nhà của luật sư dùng để lập văn phòng làm việc,v.v...Các loại giấy tờ được liệt kê như trên, có thể được chấp nhận hoặc không chấp nhận. Tác giả Luận án cho rằng, quy định như trên có thể sẽ dẫn đến cơ chế đối xử không công bằng của cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động đối với TCHNLS, bởi có chủ thể phải nộp giấy này và có chủ thể lại không phải cung cấp giấy tờ đó,... Mặt khác, quy định này cũng có thể dẫn đến tình trạng tùy tiện, sách nhiễu, gây khó khăn cản trở do có nhiều cách hiểu khác nhau.
Từ những nhận định trên, tác giả kiến nghị sửa đổi điểm d, khoản 2 Điều 35, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi năm 2012) theo hướng: Các chủ thể đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động TCHNLS chỉ cần có “văn bản tự cam kết có trụ sở làm việc của TCHNLS” là hợp lệ. Bởi, theo quan điểm của tác giả Luận án việc sửa đổi như trên cũng sẽ làm đơn giản hơn thủ tục xây dựng hồ sơ thành lập TCHNLS và tương đồng với các quy định của Luật Doanh nghiệp hiện nay đối với việc đăng ký thành lập doanh nghiệp thông thường. Đồng thời, phần nào làm đơn giảm bớt gánh nặng cho các chủ thể đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho TCHNLS.
Theo: Trần Văn Công
Link luận án: Tại đây