0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c5b85daded2-_Pháp-luật-về-kiểm-soát-hành-vi-lạm-dụng-vị-trí-thống-lĩnh-thị-trường-.jpg.webp

Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

1.2.   Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

1.2.1.    Khái niệm pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Như đã phân tích ở trên, việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp là cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích chung của nền kinh tế, đảm bảo sự phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Thị trường có cơ chế tự điều chỉnh nhưng trong bối cảnh xuất hiện các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thì cơ chế tự điều chỉnh của thị trường bị cản trở bởi sự lạm dụng quyền lực thị trường của những doanh nghiệp này, do đó, Nhà nước, với tư cách là một chủ thể của quyền lực công, bằng bàn tay hữu hỉnh cần can thiệp đúng lúc và ở mức độ phù hợp để đảm bảo sự vận hành tích cực của thị trường. Sự can thiệp của nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp có VTTLTT chỉ khi những doanh nghiệp này thực hiện những hành vi mang tính lạm dụng, hay nói cách khác Nhà nước thực hiện việc kiểm soát đối với hành vi lạm dụng VTTLTT của các doanh nghiệp chứ không ngăn cấm, cản trở hoạt động của các doanh nghiệp này. Pháp luật cạnh tranh chỉ xuất hiện trong cơ chế thị trường, nơi có hiện diện của tự do kinh doanh, tự do khế ước và tự do lập hội, vào đúng thời điểm mà hành vi cạnh tranh đi vượt quá biên giới của quyền tự do kinh doanh.

Nhà nước thực hiện việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của các doanh nghiệp chính là thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với thị trường, nền kinh tế. Bằng các cách thức, công cụ khác nhau, Nhà nước sẽ phát hiện, nhận diện các doanh nghiệp có VTTLTT, từ đó giám sát và thực hiện các biện pháp tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi của các doanh nghiệp có VTTLTT theo hướng ngăn cản họ thực hiện những hành vi lạm dụng gây tác động tiêu cực cho thị trường, xâm phạm đến lợi ích chung của nền kinh tế, Nhà nước và người tiêu dùng. Trong số các công cụ mà nhà nước sử dụng để kiểm soát hành vi lạm dụng vi trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp thì công cụ pháp luật được coi là hiệu quả và quan trọng nhất. Bởi chỉ có pháp luật mới quy định cụ thể trách nhiệm, nghĩa vụ, những hành vi mà doanh nghiệp có VTTLTT không được làm và có những biện pháp chế tài mang tính cưỡng chế thi hành.

Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của doanh nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm phát hiện, ngăn ngừa, loại bỏ và xử lý các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp có VTTLTT gây tác động hạn chế cạnh tranh.

Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là một bộ phận quan trọng của pháp luật cạnh tranh. Nguồn cơ bản của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT chính là đạo luật cạnh tranh của các quốc gia. Ngoài ra, tùy thuộc vào đặc điểm riêng của mỗi hệ thống pháp luật mà nguồn của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT còn là các văn bản pháp luật quốc gia khác liên quan (chẳng hạn như các luật chuyên ngành), thực tiễn xét xử (án lệ), các học thuyết pháp lý....

Nguồn cơ bản của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam là Luật cạnh tranh (Luật cạnh tranh 2004, Luật cạnh tranh 2018) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, hành vi lạm dụng VTTLTT của các doanh nghiệp ở Việt Nam cũng được điều chỉnh bởi quy định của một số luật quy định về hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực đặc thù (Luật điện lực, Luật viễn thông, Luật đấu thầu, Luật sở hữu trí tuệ ).

Có nhiều cơ chế kiểm soát bằng pháp luật khác nhau. Chẳng hạn pháp luật đặt ra các quy định để nhận diện các hành vi (nhận diện chủ thể, nhận diện cách thức thực hiện hành vi) và đặt ra quy định ngăn cấm các chủ thể không được thực hiện các hành vi đó, trong trường hợp các chủ thể vẫn thực hiện các hành vi đã bị cấm thì bị xử lý và phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định. Pháp luật cũng có thể kiểm soát theo cách thức mềm mỏng hơn là vẫn cho phép các chủ thể được tiến hành những hành vi nhất định, tuy nhiên, việc thực hiện hành vi phải đặt dưới sự giám sát và tuân theo các điều kiện chặt chẽ để đảm bảo không gây ra các tác động tiêu cực. Đối với cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT, các quốc gia thường lựa chọn theo phương thức thứ nhất, tức là pháp luật nhận diện và ngăn cấm các doanh nghiệp có VTTLTT thực hiện các hành vi bị coi là lạm dụng. Do đó, đặc trưng cơ bản của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là cách tiếp cận từ mặt trái. Tức là pháp luật quy định về những hành vi mà doanh nghiệp có VTTLTT bị cấm thực hiện chứ không quy định về quyền và nghĩa vụ, tức là hướng dẫn các doanh nghiệp có VTTLTT được làm gì hay phải làm gì.

Theo: Trần Thùy Lin​​h

Link luận án:  Tại đây

avatar
Dang thu quynh
869 ngày trước
Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
1.2.   Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường1.2.1.    Khái niệm pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trườngNhư đã phân tích ở trên, việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp là cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích chung của nền kinh tế, đảm bảo sự phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Thị trường có cơ chế tự điều chỉnh nhưng trong bối cảnh xuất hiện các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thì cơ chế tự điều chỉnh của thị trường bị cản trở bởi sự lạm dụng quyền lực thị trường của những doanh nghiệp này, do đó, Nhà nước, với tư cách là một chủ thể của quyền lực công, bằng bàn tay hữu hỉnh cần can thiệp đúng lúc và ở mức độ phù hợp để đảm bảo sự vận hành tích cực của thị trường. Sự can thiệp của nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp có VTTLTT chỉ khi những doanh nghiệp này thực hiện những hành vi mang tính lạm dụng, hay nói cách khác Nhà nước thực hiện việc kiểm soát đối với hành vi lạm dụng VTTLTT của các doanh nghiệp chứ không ngăn cấm, cản trở hoạt động của các doanh nghiệp này. Pháp luật cạnh tranh chỉ xuất hiện trong cơ chế thị trường, nơi có hiện diện của tự do kinh doanh, tự do khế ước và tự do lập hội, vào đúng thời điểm mà hành vi cạnh tranh đi vượt quá biên giới của quyền tự do kinh doanh.Nhà nước thực hiện việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của các doanh nghiệp chính là thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với thị trường, nền kinh tế. Bằng các cách thức, công cụ khác nhau, Nhà nước sẽ phát hiện, nhận diện các doanh nghiệp có VTTLTT, từ đó giám sát và thực hiện các biện pháp tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi của các doanh nghiệp có VTTLTT theo hướng ngăn cản họ thực hiện những hành vi lạm dụng gây tác động tiêu cực cho thị trường, xâm phạm đến lợi ích chung của nền kinh tế, Nhà nước và người tiêu dùng. Trong số các công cụ mà nhà nước sử dụng để kiểm soát hành vi lạm dụng vi trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp thì công cụ pháp luật được coi là hiệu quả và quan trọng nhất. Bởi chỉ có pháp luật mới quy định cụ thể trách nhiệm, nghĩa vụ, những hành vi mà doanh nghiệp có VTTLTT không được làm và có những biện pháp chế tài mang tính cưỡng chế thi hành.Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của doanh nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm phát hiện, ngăn ngừa, loại bỏ và xử lý các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp có VTTLTT gây tác động hạn chế cạnh tranh.Pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là một bộ phận quan trọng của pháp luật cạnh tranh. Nguồn cơ bản của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT chính là đạo luật cạnh tranh của các quốc gia. Ngoài ra, tùy thuộc vào đặc điểm riêng của mỗi hệ thống pháp luật mà nguồn của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT còn là các văn bản pháp luật quốc gia khác liên quan (chẳng hạn như các luật chuyên ngành), thực tiễn xét xử (án lệ), các học thuyết pháp lý....Nguồn cơ bản của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT của Việt Nam là Luật cạnh tranh (Luật cạnh tranh 2004, Luật cạnh tranh 2018) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, hành vi lạm dụng VTTLTT của các doanh nghiệp ở Việt Nam cũng được điều chỉnh bởi quy định của một số luật quy định về hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực đặc thù (Luật điện lực, Luật viễn thông, Luật đấu thầu, Luật sở hữu trí tuệ ).Có nhiều cơ chế kiểm soát bằng pháp luật khác nhau. Chẳng hạn pháp luật đặt ra các quy định để nhận diện các hành vi (nhận diện chủ thể, nhận diện cách thức thực hiện hành vi) và đặt ra quy định ngăn cấm các chủ thể không được thực hiện các hành vi đó, trong trường hợp các chủ thể vẫn thực hiện các hành vi đã bị cấm thì bị xử lý và phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định. Pháp luật cũng có thể kiểm soát theo cách thức mềm mỏng hơn là vẫn cho phép các chủ thể được tiến hành những hành vi nhất định, tuy nhiên, việc thực hiện hành vi phải đặt dưới sự giám sát và tuân theo các điều kiện chặt chẽ để đảm bảo không gây ra các tác động tiêu cực. Đối với cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT, các quốc gia thường lựa chọn theo phương thức thứ nhất, tức là pháp luật nhận diện và ngăn cấm các doanh nghiệp có VTTLTT thực hiện các hành vi bị coi là lạm dụng. Do đó, đặc trưng cơ bản của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là cách tiếp cận từ mặt trái. Tức là pháp luật quy định về những hành vi mà doanh nghiệp có VTTLTT bị cấm thực hiện chứ không quy định về quyền và nghĩa vụ, tức là hướng dẫn các doanh nghiệp có VTTLTT được làm gì hay phải làm gì.Theo: Trần Thùy Lin​​hLink luận án:  Tại đây