Mục tiêu kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của pháp luật cạnh tranh
1.2.1.Mục tiêu kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của pháp luật cạnh tranh
Với vai trò là một bộ phận không tách rời của chính sách và pháp luật cạnh tranh, pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền cũng hướng đến những mục tiêu chung của chính sách và pháp luật cạnh tranh.
Ở Mỹ, sự ra đời của chính sách chống độc quyền (antitrust policy) là sự phản ứng trước sự hình thành các tập đoàn tư bản lũng đoạn (Trust) làm tập trung sức mạnh kinh tế, đe dọa sự tồn tại của các doanh nghiệp nhỏ. Chính các doanh nghiệp, nông dân, hộ buôn bán nhỏ đã vận động (lobbied), yêu cầu Chính phủ Mỹ phải có hành động bảo vệ họ, cũng như bảo vệ mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho người tiêu dùng. Một số học giả giải thích ý định của các nhà lập pháp Hoa Kỳ với mục tiêu duy nhất của luật chống độc quyền là phúc lợi của người tiêu dùng, với ý nghĩa là hiệu quả kinh tế, một số khác lại cho rằng nâng cao hiệu quả kinh tế không phải là mục tiêu duy nhất của Luật chống độc quyền, thậm chí tăng cường hiệu quả kinh tế còn không phải là mục tiêu chủ yếu của luật chống độc quyền mà mục tiêu chính của luật chống độc quyền Hoa Kỳ là ngăn cản các doanh nghiệp đạt được và sử dụng quyền lực hay sức mạnh thị trường (market power) để buộc người tiêu dùng phải trả giá cao hơn cho hàng hóa và dịch vụ của họ. Các công ty đã sử dụng quyền lực thị trường một cách không ngay thẳng để tận thu lợi nhuận từ người tiêu dùng, hành vi này cần bị loại bỏ .
Tại Liên minh Châu Âu, nhiều quan điểm cho rằng, sự ra đời của Luật cạnh tranh EU chủ yếu là vì mục đích chính trị. Chính sách cạnh tranh EU là một công cụ để đạt được các mục tiêu của Cộng đồng chung, cơ bản là, việc tạo ra một khu vực thị trường chung với mức sống cao cho tất cả những người dân sống trong đó. Do đó, trong chính sách cạnh tranh của EC, hai mục tiêu ban đầu được đặt ra là: đảm bảo hội nhập thị trường chung và nâng cao hiệu quả kinh tế. Phân tích sâu hơn, nhiều học giả đã chỉ ra, 102 TFEU không chỉ quy định vể vấn đề kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT mà nó còn hướng tới việc thực thi các chính sách trên một phạm vi rộng hơn bao gồm chính sách công nghiệp, xã hội, chính trị. Trong nhiều vụ việc, các quy định được vận dụng để bảo vệ hoặc dành ưu ái cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, giữ thị trường mở, bảo vệ đối thủ cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng hoặc cho phép việc liên kết doanh nghiệp để khai thác lợi thế công nghệ. Tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn, các mục tiêu này có thể mâu thuẫn, chẳng hạn, hội nhập thị trường, đơn giản như là sự cấm phân biệt giá cả giữa các quốc gia, có thể làm triệt tiêu hiệu quả kinh tế. Từ thực tiễn giải quyết các vụ việc, có thể thấy mục tiêu của chính sách và pháp luật cạnh tranh nói chung và mục tiêu của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT nói riêng ở EU không chỉ là bảo vệ quá trình cạnh tranh (chống lại các hành vi HCCT, đảm bảo sự cạnh tranh công bằng) mà còn bảo vệ kết quả của cạnh tranh (chống lại các hành vi gây thiệt hại cho người tiêu dùng, làm tổn thất phúc lợi xã hội) [80, tr.4]. Rõ ràng điều 102 TFEU quy định cấm các hành vi lạm dụng mang tính trục lợi (exploitative abuses - những hành vi gây tổn thất cho các đối tác thương mại, khách hàng của doanh nghiệp thống lĩnh, thậm chí người tiêu dùng) cũng như các hành vi lạm dụng mang tính loại bỏ (exclusionary abuses – những hành vi lạm dụng gây thiệt hại đến vị trí cạnh tranh của các đối thủ của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường).
Điểm qua luật cạnh tranh của một số nước khác có thể thấy mục tiêu của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT khá đa dạng. Gắn với việc bảo vệ lợi ích công, các quốc gia đặt ra các mục tiêu: (i) Duy trì cạnh tranh, (ii) Duy trì tự do kinh tế, (iii) Hiệu quả kinh tế, (iv) Đạt được sự hội nhập thị trường, (v) Tối đa hóa tổng phúc lợi, (vi) Tối đa hóa thặng dư tiêu dùng. Bên cạnh đó các mục tiêu khác như: xóa bỏ quyền lực kinh tế, đảm bảo sự gia nhập thị trường dễ dàng, bảo vệ phúc lợi của các doanh nghiệp nhỏ cũng được đề cập.
Có thể thấy, mặc dù có nhiều điểm khác nhau giữa các quốc gia, nhưng điểm thống nhất cơ bản giữa các quốc gia về mục tiêu của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT là không chỉ bảo vệ quá trình mà còn bảo vệ cả kết quả của cạnh tranh. Trong đó, theo quan điểm cá nhân tác giả, bảo vệ (quá trình) cạnh tranh nên là mục tiêu trước hết và không thể bỏ sót, cho dù mục tiêu cuối cùng của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là gì. Cho dù mục tiêu cuối cùng là tăng cường phúc lợi xã hội hay thặng dư tiêu dùng thì pháp luật trước hết vẫn phải bảo vệ cạnh tranh, dù cho đó mới là cạnh tranh tiềm năng. Luật cạnh tranh không phải là công cụ chính sách, pháp luật duy nhất để đạt được các mục tiêu mong muốn khác nhau của xã hội. Đặc thù của luật cạnh tranh chính là các quy định liên quan đến hành vi HCCT, hay là các hành vi mang tính phản cạnh tranh. Do đó, khi xác định các mục tiêu còn lại của luật cạnh tranh cần cân nhắc và tính đến sự liên hệ giữa mục tiêu đó với mục tiêu bảo vệ cạnh tranh (chống lại các hành vi phản cạnh tranh). Chẳng hạn về mục tiêu bảo vệ phúc lợi của người tiêu dùng thì công cụ pháp lý đầu tiên phải là luật bảo vệ người tiêu dùng. Luật bảo vệ người tiêu dùng có thể tấn công bất cứ hành vi nào chỉ cần nó gây thiệt hại cho lợi ích của người tiêu dùng, bởi vì mục tiêu của luật bảo vệ người tiêu dùng là bảo vệ người tiêu dùng. Luật cạnh tranh phải khác luật bảo vệ người tiêu dùng. Do đó, luật cạnh tranh không thể và không nên tấn công tất cả các hành vi có hại cho người tiêu dùng, trừ khi hành vi đó có tính HCCT và gây hại cho cạnh tranh. Ngược lại, việc bảo vệ quá trình cạnh tranh chỉ có ý nghĩa khi mà nó dẫn đến việc đạt được những kết quả mong đợi từ cạnh tranh. Nói cách khác, (quá trình) cạnh tranh không nên được bảo vệ chỉ vì lợi ích tự thân của chính nó, bởi vì như vậy sẽ đồng nghĩa với bảo vệ đối thủ cạnh tranh cho những lợi ích riêng của chúng. Những phân tích này lý giải vì sao bảo vệ cạnh tranh phải bao gồm cả bảo vệ quá trình cạnh tranh và bảo vệ các kết quả mà cạnh tranh mang lại. Luật cạnh tranh nên nhằm vào các hành vi bóp méo, cản trở cạnh tranh và do đó, chúng gây hại cho người tiêu dùng, hay tổng phúc lợi xã hội hay bất kỳ mục tiêu cuối cùng nào được vạch ra bởi chính sách của nhà nước.
Suy cho cùng, Luật cạnh tranh là công cụ để bảo vệ và đem lại lợi ích cho nền kinh tế, xã hội và người tiêu dùng, thông qua việc đảm bảo cạnh tranh trên thị trường bằng cách ngăn cản các hành vi hạn chế, cản trở, bóp méo cạnh tranh.
Mục tiêu của luật cạnh tranh trong việc kiểm soát các hành vi của doanh nghiệp có VTTLTT là ngăn chặn các doanh nghiệp này thực hiện các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường để hạn chế, loại bỏ cạnh tranh và do đó gây tổn thất cho phúc lợi xã hội, thiệt hại cho người tiêu dùng. Nói cách khác, việc áp dụng pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT không nhằm xoá bỏ vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp mà chỉ loại bỏ hành vi lạm dụng VTTLTT để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh, tiêu diệt đối thủ cạnh tranh.
Theo: Trần Thùy Linh
Link luận án: Tại đây