Các cách tiếp cận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
1.2.3.Các cách tiếp cận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Ngày nay, việc sử dụng các phân tích, các công cụ kinh tế trong việc áp dụng luật cạnh tranh là một khuynh hướng chung và thật khó có thể tưởng tượng được bất cứ phân tích nào về luật cạnh tranh lại tách rời với thực tiễn của nền kinh tế. Xu hướng này được các nhà kinh tế học và các nhà luật học gọi là "cách tiếp cận kinh tế "(economic - based approach) hoặc "cách tiếp cận dựa trên tác động của hành vi" (effects – based approach). Tuy nhiên, cách tiếp cận ban đầu trong việc áp dụng luật cạnh tranh nói chung và các quy định về lạm dụng VTTLTT nói riêng lại là formed
– based approach. Cách tiếp cận này dẫn đến việc áp dụng nguyên tắc per se rule trong các quy định về lạm dụng VTTLTT cũng như các quy định về thỏa thuận HCCT trong pháp luật các nước. Trong hơn một thập niên trở lại đây, các quy định cấm tuyệt đối của luật cạnh tranh các nước đối với các hành vi nhất định của doanh nghiệp bị coi là lạm dụng (nguyên tắc per se rule), tuy chậm chạp, nhưng đã dần dần được thay thế bằng các quy định dựa trên nguyên tắc được gọi là rule of reason. Tiếp cận dựa trên hình thức hành vi (formed based approach) và nguyên tắc vi phạm mặc nhiên (per se rules): Theo cách tiếp cận formed based approach, việc đánh giá một hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh liệu có phải là lạm dụng hay không chủ yếu dựa trên việc xem xét hình thức (biểu hiện) của hành vi có phù hợp với mô tả trong quy định pháp luật về các hành vi lạm dụng VTTLTT hay không. Khi hành vi bị xem xét có cấu thành pháp lý phù hợp với hành vi bị coi là lạm dụng được mô tả trong luật thì hành vi đó mặc nhiên bị coi là lạm dụng VTTLTT mà không cần phải xem xét hành vi đó có thực sự gây ra những tác động tiêu cực hay không (per se rules).
Nguyên tắc per se rule được phát triển bởi các học giả thuộc trường phái Harvard, bắt nguồn từ nghiên cứu của E.S. Mason và sinh viên của ông là J.S. Bain. Nhóm đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm về các ngành công nghiệp của Mỹ và rút ra được mô hình “S – C – P” (Structure – Conduct – Performance), theo đó, cấu trúc thị trường (Structure) sẽ xác định hành vi của doanh nghiệp (Conduct), và hành vi đó sẽ quyết định hiệu quả thị trường (Performance) [33, tr. 22]. Nguyên tắc này được xây dựng dựa trên quan điểm là thị trường luôn vận hành theo cách thức không hoàn hảo, do đó, luật cạnh tranh nên đặt mục tiêu là bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trước các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường. Mô hình S – C – P cho rằng cấu trúc của một ngành công nghiệp cụ thể sẽ dẫn đến các dạng hành vi cụ thể của doanh nghiệp. Cách mà họ hành động sẽ dẫn đến những hậu quả kinh tế nhất định có tác động trực tiếp đến thị trường. Theo logic này, các học giả của trường phái Harvard cho rằng, các thị trường có sự tập trung cao tạo ra động lực mạnh mẽ cho các nhà độc quyền hoặc các doanh nghiệp chi phối để thực hiện những hành vi lạm dụng như là phương thức để củng cố, mở rộng quyền lực thị trường. Điều này đương nhiên sẽ dẫn đến những biểu hiện tiêu cực của thị trường như sự phân biệt đối xử, giảm phúc lợi xã hội, hay tạo ra rào cản gia nhập thị trường…Do đó, cần áp dụng per se rule để cấm tuyệt đối các hành vi lạm dụng của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường bởi chúng là những công cụ HCCT mạnh mẽ, mà không cần thiết phải chứng minh là liệu tác động HCCT có thực sự xuất hiện hay không.
Việc vận dụng nguyên tắc tiếp cận dựa trên hình thức hành vi và nguyên tắc vi phạm mặc nhiên trong việc đánh giá các hành vi lạm dụng của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường về cơ bản sẽ tăng cường sự đảm bảo pháp lý đồng thời giảm chi phí thực thi. Tuy nhiên, việc vận dụng này chỉ có ý nghĩa khi hành vi được đề cập chỉ có tác động một chiều, nói một cách khác nó gần như là luôn luôn hoặc ngược lại, hầu như không bao giờ gây ra các tác động tiêu cực đến kết quả của cạnh tranh như gây thiệt hại cho người tiêu dùng hay làm giảm phúc lợi xã hội. Thực tế, hầu hết các loại hành vi được quy định trong luật cạnh tranh về lạm dụng vị trí thống lĩnh có thể có cả tác động chống cạnh tranh và thúc đẩy cạnh tranh và do đó không nên coi là chúng đương nhiên vi phạm. Rõ ràng, chúng ta nên thận trọng khi can thiệp vào chức năng của thị trường trừ khi có bằng chứng rõ ràng rằng thị trường đã không thực hiện tốt chức năng của nó.
Tiếp cận dựa trên tác động của hành vi (effects based approach) và nguyên tắc lập luận hợp lý (rule of reason)
Việc vận dụng nguyên tắc per se rule trong luật cạnh tranh lần đầu tiên bị chỉ trích bởi các nhà kinh tế học của đại học Chicago vào những năm 1970. Các nhà kinh tế học của Đại học Chicago, mà dẫn đầu là G. Stigler, H. Demsetz, R. Bork, R. Posner và Y. Brozen đã đề xuất học thuyết mới. Mô hình của họ về chính sách cạnh tranh dựa trên quan điểm là “sứ mệnh của pháp luật cạnh tranh là để duy trì, tăng cường và củng cố các thể chế kinh tế vững mạnh để buộc các doanh nghiệp kinh doanh phải đáp ứng người tiêu dùng". Mục tiêu chính của mô hình được đề xuất là phúc lợi người tiêu dùng, đạt được thông qua việc thúc đẩy hiệu quả kinh tế. Nó được thực hiện đầy đủ khi các nguồn lực kinh tế của xã hội được phân bổ theo cách có thể đáp ứng nhu cầu của hầu hết người tiêu dùng. Với xuất phát điểm như vậy, các học giả thuộc trường phái Chicago đã chỉ trích cách tiếp cận trước đây về hành vi lạm dụng VTTLTT. Họ đã chứng minh rằng một số hành vi lạm dụng nhưng vẫn có tính thúc đẩy cạnh tranh, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trên thị trường cụ thể. Chẳng hạn như hành vi bán kèm hay bán hàng theo gói thường được các doanh nghiệp sử dụng để giảm chi phí sản xuất và phân phối, cũng như cải thiện chất lượng sản phẩm. Do đó, việc kết luận một hành vi nào đó của doanh nghiệp thống lĩnh là lạm dụng và vi phạm luật cạnh tranh cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, dựa trên những phân tích về tác động của hành vi đối với quá trình cạnh tranh và kết quả của cạnh tranh. Nguyên tắc này được gọi là “rule of reason”. Tuy nhiên, quan điểm của trường phái Chicago về rule of reason không ngay lập tức nhận được sự thừa nhận rộng rãi của các nhà kinh tế. Trường phái hậu Chicago (the post – Chicago) cho rằng, trong mọi trường hợp, các hành vi lạm dụng của doanh nghiệp thống lĩnh vẫn là công cụ để chúng củng cố, tăng cường và mở rộng quyền lực thị trường, và vẫn phải được thừa nhận là một công cụ HCCT . Qua nhiều tranh luận, các học giả đều thừa nhận rằng, bản thân một hành vi lạm dụng cụ thể của doanh nghiệp có VTTLTT có khả năng tạo ra cả tác động tích cực và tác động tiêu cực. Vì vậy, đánh giá cuối cùng về hành vi phải phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể. Sự mở rộng ảnh hưởng của nguyên tắc rule of reason đồng thời với việc thừa nhận các mục tiêu mới của luật cạnh tranh là phúc lợi người tiêu dùng và thúc đẩy hiệu quả kinh tế càng tăng lên. Điều này đòi hỏi các hệ thống pháp luật phải xem xét lại các phương pháp và tiêu chuẩn cạnh tranh dựa trên các mục tiêu mới này. Hai sự thay đổi này cùng nhau tạo ra cách tiếp cận mới của luật cạnh tranh được gọi là "cách tiếp cận dựa trên tính kinh tế" (economic – based approach) hoặc "tiếp cận dựa trên tác động hành vi” (effects – based approach). Phân tích dựa trên hiệu quả kinh tế đòi hỏi một cuộc điều tra sâu về kinh tế trong từng trường hợp để đánh giá tác động của hành vi của các doanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường cụ thể. Bằng việc tập trung vào hiệu quả của hành vi hơn là hình thức của hành vi, thì các hành vi kinh doanh đa dạng của các doanh nghiệp thống lĩnh nhằm HCCT sẽ ít có khả năng bị coi là vi phạm luật cạnh tranh hơn. Cách tiếp cận mới này cũng đảm bảo rằng một số hành vi mang tính HCCT dựa trên cách tiếp cận hình thức (formed– based approach) sẽ được đánh giá một cách khách quan. Bởi thực tiễn kinh doanh cho thấy, các hành vi kinh doanh có thể có những tác động khác nhau trong các hoàn cảnh khác nhau: chúng có thể thúc đẩy đổi mới, cải tiến sản phẩm trong một số trường hợp trong khi lại có thể bóp méo cạnh tranh trong các trường hợp khác. Do đó, phương pháp tiếp cận dựa trên tác động của hành vi có thể phân tích các trường hợp này với trọng tâm vào tác động thực sự của chúng đối với phúc lợi người tiêu dùng và tăng hiệu quả kinh tế về tổng thể, do đó có thể cung cấp các phân tích khách quan và chính xác nhất .
Theo: Trần Thùy Linh
Link luận án: Tại đây