0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c5bd974e99c-Quy-định-về-thẩm-quyền,-trình-tự,-thủ-tục-xử-lý-hành-vi-lạm-dụng-vị-trí-thống-lĩnh-thị-trường-.jpg.webp

Quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

2.1.3. Quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

2.1.3.1.  Quy định về thẩm quyền xử lý

Theo quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 46 Luật Cạnh tranh 2018, cơ quan cạnh tranh quốc gia của Việt Nam là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thẩm quyền tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cạnh tranh đồng thời thực hiện chức năng tài phán, tiến hành tố tụng cạnh tranh, xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh, trong đó có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Khoản 1 Điều 46 quy định địa vị pháp lý của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là cơ quan thuộc Bộ Công Thương. Về thành viên của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thì theo điều 48, có số lượng tối đa là 15 người, là công chức của Bộ Công Thương, các Bộ, ngành có liên quan, các chuyên gia và nhà khoa học. Thành viên của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương.

Thẩm quyền điều tra các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được giao cho cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh là cơ quan giúp việc của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia theo quy định tại Điều 50 Luật cạnh tranh 2018. Cụ thể, Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Thu thập, tiếp nhận thông tin nhằm phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh;

- Tổ chức điều tra vụ việc cạnh tranh;

- Kiến nghị áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn và bảo

đảm xử lý vi phạm hành chính trong điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh;

- Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ điều tra trong quá trình điều tra phù hợp với quy định của pháp luật;

- Nhiệm vụ khác theo phân công của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Việc xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường thuộc thẩm quyền của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Theo điều 60 Luật cạnh tranh 2018, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh do Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định thành lập để xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh cụ thể. Hội đồng chấm dứt hoạt động và tự giải thể khi hoàn thành nhiệm vụ. Số lượng thành viên Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh là 03 hoặc 05 thành viên, do Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định lựa chọn trong số các thành viên Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, trong đó có 01 thành viên được phân công là Chủ tịch Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh. Về nguyên tắc hoạt động, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Khi xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng được quy định cụ thể tại Điều 61 Luật cạnh tranh 2018.

Như vậy so với Luật cạnh tranh 2004, mô hình cơ quan cạnh tranh theo Luật cạnh tranh 2018 đã thay đổi theo hướng sáp nhập hai cơ quan thực thi là Cục quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ xử lý, giải quyết các vụ việc hạn chế cạnh tranh. Mô hình một cơ quan cạnh tranh quốc gia duy nhất là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia theo Luật cạnh tranh 2018 sẽ khắc phục những nhược điểm của mô hình hai cơ quan theo quy định của Luật cạnh tranh 2004, theo đó giảm thiểu được thời gian giải quyết vụ việc cạnh tranh nói chung và vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nói riêng. Cơ quan xử lý, giải quyết vụ việc sẽ có sự tham gia từ giai đoạn bắt đầu tố tụng nên sẽ nắm bắt, bám sát được vụ việc, quá trình điều tra cũng được giám sát, kiểm soát đảm bảo đúng tố tụng, tính hiệu quả, hiệu lực trong thực thi chắc chắn sẽ được nâng lên. Việc thiết kế chỉ một cơ quan cạnh tranh giúp quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh được thông suốt, liền mạch, tránh kéo dài quá trình tố tụng qua nhiều cấp xử lý, nhiều cơ quan có thẩm quyền, giúp giải quyết cùng lúc nhiều vấn đề cạnh tranh trên thị trường một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn; tránh được sự phân tán nguồn lực khiến cho việc giải quyết vụ việc cạnh tranh chưa được tập trung, kết quả giải quyết vụ việc luôn đi sau và không đáp ứng được yêu cầu của thị trường.

Việc xây dựng mô hình một cơ quan cạnh tranh cũng phù hợp với thông lệ của pháp luật cạnh tranh thế giới. Theo thống kê sơ bộ, trong số hơn 100 quốc gia trên thế giới có cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh, chỉ có tại Việt Nam là tồn tại mô hình hai cơ quan cạnh tranh trong đó gồm một cơ quan điều tra và một cơ quan xử lý vi phạm. Mô hình này tương tự mô hình của Pháp trước đây. Tuy nhiên, năm 2009, Pháp đã chuyển đổi mô hình hai cơ quan thành mô hình một cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm điều tra và ra phán quyết về các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh. Một số nước có từ hai cơ quan cạnh tranh trở lên như Hoa Kỳ, Canada, Chile, Trung Quốc, Ấn Độ... nhưng đều không phân biệt trách nhiệm giữa điều tra và xử lý như Việt Nam, mà phân chia thẩm quyền theo từng nhóm hành vi vi phạm.

2.1.3.2.  Quy định về trình tự, thủ tục điều tra và xử lý

Trình tự, thủ tục điều tra và xử lý các vụ việc cạnh tranh (hay tố tụng cạnh tranh) nói chung và các vụ việc về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được quy định tại chương 8 Luật cạnh tranh 2018.

Giai đoạn điều tra

Quy trình điều tra, xử lý các vụ việc về lạm dụng VTTLTT bắt đầu khi Ủy ban cạnh tranh quốc gia nhận được thông tin về hành vi vi phạm từ các nguồn sau đây:

- Do các tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật cạnh tranh thông báo và cung cấp thông tin, chứng cứ theo quy định của Điều 75 Luật cạnh tranh 2018;

- Khiếu nại của tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh;

- Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia tự phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh.

Theo quy định tại Điều 80 Luật cạnh tranh 2004, Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ra quyết định điều tra vụ việc cạnh tranh trong các trường hợp sau đây:

-      Việc khiếu nại vụ việc cạnh tranh đáp ứng yêu cầu về thời hạn khiếu nại là 3 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện; có hồ sơ khiếu nại hợp lệ và không thuộc trường hợp trả hồ sơ khiếu nại theo quy định tại Điều 79 của Luật cạnh tranh 2018; 

-      Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong thời hạn 03 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện.

Thời hạn điều tra vụ việc lạm dụng VTTLTT là 09 tháng kể từ ngày ra quyết định điều tra; đối với vụ việc phức tạp thì được gia hạn một lần nhưng không quá 03 tháng. Trong quá trình điều tra, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại điều 82 Luật cạnh tranh 2018; tiến hành việc lấy lời khai theo quy định của Điều 83 và triệu tập người làm chứng theo quy định của Điều 84 Luật cạnh tranh 2018.

Theo quy định của Điều 85 Luật cạnh tranh 2018, trong quá trình điều tra, khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, điều tra viên vụ việc cạnh tranh phải báo cáo Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh xem xét, kiến nghị Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia chuyển một phần hoặc toàn bộ hồ sơ liên quan đến dấu hiệu của tội phạm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật; Trường hợp xác định không có căn cứ hoặc không khởi tố vụ án hình sự về tội vi phạm quy định về cạnh tranh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trả lại hồ sơ cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia để tiếp tục điều tra theo quy định của Luật cạnh tranh. Thời hạn điều tra được tính từ ngày Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia nhận lại hồ sơ.

Sau khi kết thúc điều tra, điều tra viên vụ việc cạnh tranh lập báo cáo điều tra gồm các nội dung theo quy định tại Khoản 1 Điều 88 Luật cạnh tranh 2018 để trình Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ra kết luận điều tra và chuyển hồ sơ vụ việc cạnh tranh, báo cáo điều tra và kết luận điều tra đến Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia để tổ chức xử lý theo quy định.

Theo: Trần Thùy Lin​​h

Link luận án:  Tại đây

avatar
Dang thu quynh
961 ngày trước
Quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
2.1.3. Quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường2.1.3.1.  Quy định về thẩm quyền xử lýTheo quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 46 Luật Cạnh tranh 2018, cơ quan cạnh tranh quốc gia của Việt Nam là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thẩm quyền tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cạnh tranh đồng thời thực hiện chức năng tài phán, tiến hành tố tụng cạnh tranh, xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh, trong đó có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Khoản 1 Điều 46 quy định địa vị pháp lý của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là cơ quan thuộc Bộ Công Thương. Về thành viên của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thì theo điều 48, có số lượng tối đa là 15 người, là công chức của Bộ Công Thương, các Bộ, ngành có liên quan, các chuyên gia và nhà khoa học. Thành viên của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương.Thẩm quyền điều tra các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được giao cho cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh là cơ quan giúp việc của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia theo quy định tại Điều 50 Luật cạnh tranh 2018. Cụ thể, Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:- Thu thập, tiếp nhận thông tin nhằm phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh;- Tổ chức điều tra vụ việc cạnh tranh;- Kiến nghị áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn và bảođảm xử lý vi phạm hành chính trong điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh;- Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ điều tra trong quá trình điều tra phù hợp với quy định của pháp luật;- Nhiệm vụ khác theo phân công của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Việc xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường thuộc thẩm quyền của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Theo điều 60 Luật cạnh tranh 2018, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh do Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định thành lập để xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh cụ thể. Hội đồng chấm dứt hoạt động và tự giải thể khi hoàn thành nhiệm vụ. Số lượng thành viên Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh là 03 hoặc 05 thành viên, do Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định lựa chọn trong số các thành viên Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, trong đó có 01 thành viên được phân công là Chủ tịch Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh. Về nguyên tắc hoạt động, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Khi xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng được quy định cụ thể tại Điều 61 Luật cạnh tranh 2018.Như vậy so với Luật cạnh tranh 2004, mô hình cơ quan cạnh tranh theo Luật cạnh tranh 2018 đã thay đổi theo hướng sáp nhập hai cơ quan thực thi là Cục quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ xử lý, giải quyết các vụ việc hạn chế cạnh tranh. Mô hình một cơ quan cạnh tranh quốc gia duy nhất là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia theo Luật cạnh tranh 2018 sẽ khắc phục những nhược điểm của mô hình hai cơ quan theo quy định của Luật cạnh tranh 2004, theo đó giảm thiểu được thời gian giải quyết vụ việc cạnh tranh nói chung và vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nói riêng. Cơ quan xử lý, giải quyết vụ việc sẽ có sự tham gia từ giai đoạn bắt đầu tố tụng nên sẽ nắm bắt, bám sát được vụ việc, quá trình điều tra cũng được giám sát, kiểm soát đảm bảo đúng tố tụng, tính hiệu quả, hiệu lực trong thực thi chắc chắn sẽ được nâng lên. Việc thiết kế chỉ một cơ quan cạnh tranh giúp quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh được thông suốt, liền mạch, tránh kéo dài quá trình tố tụng qua nhiều cấp xử lý, nhiều cơ quan có thẩm quyền, giúp giải quyết cùng lúc nhiều vấn đề cạnh tranh trên thị trường một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn; tránh được sự phân tán nguồn lực khiến cho việc giải quyết vụ việc cạnh tranh chưa được tập trung, kết quả giải quyết vụ việc luôn đi sau và không đáp ứng được yêu cầu của thị trường.Việc xây dựng mô hình một cơ quan cạnh tranh cũng phù hợp với thông lệ của pháp luật cạnh tranh thế giới. Theo thống kê sơ bộ, trong số hơn 100 quốc gia trên thế giới có cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh, chỉ có tại Việt Nam là tồn tại mô hình hai cơ quan cạnh tranh trong đó gồm một cơ quan điều tra và một cơ quan xử lý vi phạm. Mô hình này tương tự mô hình của Pháp trước đây. Tuy nhiên, năm 2009, Pháp đã chuyển đổi mô hình hai cơ quan thành mô hình một cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm điều tra và ra phán quyết về các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh. Một số nước có từ hai cơ quan cạnh tranh trở lên như Hoa Kỳ, Canada, Chile, Trung Quốc, Ấn Độ... nhưng đều không phân biệt trách nhiệm giữa điều tra và xử lý như Việt Nam, mà phân chia thẩm quyền theo từng nhóm hành vi vi phạm.2.1.3.2.  Quy định về trình tự, thủ tục điều tra và xử lýTrình tự, thủ tục điều tra và xử lý các vụ việc cạnh tranh (hay tố tụng cạnh tranh) nói chung và các vụ việc về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được quy định tại chương 8 Luật cạnh tranh 2018.Giai đoạn điều traQuy trình điều tra, xử lý các vụ việc về lạm dụng VTTLTT bắt đầu khi Ủy ban cạnh tranh quốc gia nhận được thông tin về hành vi vi phạm từ các nguồn sau đây:- Do các tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật cạnh tranh thông báo và cung cấp thông tin, chứng cứ theo quy định của Điều 75 Luật cạnh tranh 2018;- Khiếu nại của tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh;- Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia tự phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh.Theo quy định tại Điều 80 Luật cạnh tranh 2004, Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ra quyết định điều tra vụ việc cạnh tranh trong các trường hợp sau đây:-      Việc khiếu nại vụ việc cạnh tranh đáp ứng yêu cầu về thời hạn khiếu nại là 3 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện; có hồ sơ khiếu nại hợp lệ và không thuộc trường hợp trả hồ sơ khiếu nại theo quy định tại Điều 79 của Luật cạnh tranh 2018; -      Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong thời hạn 03 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện.Thời hạn điều tra vụ việc lạm dụng VTTLTT là 09 tháng kể từ ngày ra quyết định điều tra; đối với vụ việc phức tạp thì được gia hạn một lần nhưng không quá 03 tháng. Trong quá trình điều tra, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại điều 82 Luật cạnh tranh 2018; tiến hành việc lấy lời khai theo quy định của Điều 83 và triệu tập người làm chứng theo quy định của Điều 84 Luật cạnh tranh 2018.Theo quy định của Điều 85 Luật cạnh tranh 2018, trong quá trình điều tra, khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, điều tra viên vụ việc cạnh tranh phải báo cáo Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh xem xét, kiến nghị Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia chuyển một phần hoặc toàn bộ hồ sơ liên quan đến dấu hiệu của tội phạm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật; Trường hợp xác định không có căn cứ hoặc không khởi tố vụ án hình sự về tội vi phạm quy định về cạnh tranh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trả lại hồ sơ cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia để tiếp tục điều tra theo quy định của Luật cạnh tranh. Thời hạn điều tra được tính từ ngày Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia nhận lại hồ sơ.Sau khi kết thúc điều tra, điều tra viên vụ việc cạnh tranh lập báo cáo điều tra gồm các nội dung theo quy định tại Khoản 1 Điều 88 Luật cạnh tranh 2018 để trình Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ra kết luận điều tra và chuyển hồ sơ vụ việc cạnh tranh, báo cáo điều tra và kết luận điều tra đến Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia để tổ chức xử lý theo quy định.Theo: Trần Thùy Lin​​hLink luận án:  Tại đây