0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c5be752b125-Thực-trạng-lạm-dụng-vị-trí-thống-lĩnh-thị-trường-và-thực-tiễn-thi-hành-pháp-luật-về-kiểm-soát-hành-vi-lạm-dụng-vị-trí-thống-lĩnh-thị-trường.jpg

Thực trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

 

2.2. Thực trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

2.2.1. Thực trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

2.2.1.1.  Nhận diện cấu trúc thị trường ở Việt Nam

Cùng với việc hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì sự thay đổi của môi trường kinh doanh, đặc biệt là sự đổi mới và phát triển nhanh chóng của công nghệ số, chuỗi cung ứng có tính chất toàn cầu... đã tạo ra các áp lực, các yếu tố thúc đẩy sự thay đổi, hoàn thiện cấu trúc thị trường và thể chế thị trường ở Việt Nam.

Lý thuyết kinh tế đã chỉ ra, có bốn loại cấu trúc thị trường, là cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền thuần túy (độc quyền hoàn toàn), cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm. Các thị trường này được xác định bởi các yếu tố: số lượng và quy mô của các doanh nghiệp; mức độ tập trung ngành; các điều kiện về chi phí và công nghệ; các điều kiện về cầu; khả năng gia nhập và rút lui khỏi thị trường; mức độ kiểm soát giá của các doanh nghiệp; Mặt khác, trong cấu trúc thị trường hiện nay thì thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường độc quyền thuần túy chỉ tồn tại trên lý thuyết. Hơn nữa, một cấu trúc thị trường để Nhà nước tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển thì trong cấu trúc đó không còn độc quyền kinh doanh và các hành vi biểu hiện của quyền lực thị trường. Ở môi trường cạnh tranh thì không có sự tồn tại của độc quyền kinh doanh. Một khi áp lực giữa sự thay đổi và cản trở sự thay đổi bị phá vỡ thì một cấu trúc thị trường mới, hoàn thiện hơn sẽ được hình thành, đó là một xu thế biện chứng và tất yếu.

Cấu trúc thị trường của Việt Nam đã có sự thay đổi cơ bản với những biểu hiện sau đây:

-   Có sự thay đổi mạnh mẽ về thể chế cạnh tranh: Sự thay đổi mạnh mẽ về nhận thức và thể chế cạnh tranh thể hiện rõ nét nhất ở việc Hiến pháp năm 2013 đã hiến định và khẳng định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế đều được bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật (Điều 51). Tinh thần cơ bản của Hiến pháp năm 2013 là không đồng nhất kinh tế nhà nước với doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo chứ không phải DNNN là chủ đạo. Hiến pháp năm 2013 tôn trọng đa hình thức sở hữu, bảo hộ quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế về thu nhập hợp pháp (Điều 32) và (Điều 62) bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Các chủ thể kinh tế, bao gồm cả DNNN và DN ngoài nhà nước đều được bình đẳng, cùng hoạt động theo cơ chế vận hành của thị trường trong cùng một hành lang pháp lý chung. Đó là cơ sở pháp lý cao nhất và là nguyên tắc nền tảng của bình đẳng, kinh doanh, cạnh tranh và sáng tạo. Luật cạnh tranh 2018 vừa được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2018 nhằm khắc phục những hạn chế của Luật cạnh tranh 2004 đã cho thấy nỗ lực của Nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế cạnh tranh.

-   Giảm dần các doanh nghiệp Nhà nước, kéo theo sự giảm dần các doanh nghiệp nắm giữ quyền lực thị trường và các doanh nghiệp cạnh tranh ngày càng mở rộng thị phần trong cấu trúc thị trường. Sự đổi mới về thể chế đã dẫn đến kết quả làm giảm dần tỷ lệ loại hình DN có quyền lực thị trường. Thực tiễn Việt Nam cho thấy, loại hình Doanh nghiệp có quyền lực thị trường thường gắn liền với doanh nghiệp độc quyền kinh doanh, doanh nghiệp nhà nước. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thì loại hình doanh nghiệp này giảm dần qua các năm (từ 3,83% năm 2005, đến nay giảm dần xuống mức gần 1%) với nhiều lý do: Cổ phần hóa, thay đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, giải thể, phá sản… Trong khi đó, loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước hầu hết gắn liền với thị trường cạnh tranh lại chiếm tỷ trọng lớn và tăng dần qua các năm.

Chủ trương tạo lập môi trường cạnh tranh, lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh đã được đề ra ngay từ Đại hội IX của Đảng và được nhấn mạnh trong các kỳ Đại hội tiếp theo. Nhiều biện pháp cải cách đã được thực hiện nhằm tạo lập và phát triển thị trường cạnh tranh ở Việt Nam. Theo đó, mức độ cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường đã được cải thiện với số lượng chủ thể gia nhập thị trường tăng nhanh mạnh, đặc biệt trong những năm gần đây.

Tuy nhiên, bức tranh cạnh tranh còn nhiều vấn đề đặt ra, thể hiện:

Một là, nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế thị trường kém cạnh tranh. Mặc dù thứ hạng của Việt Nam về chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2017 - 2018 đã được cải thiện đáng kể, đứng thứ 55/137 quốc gia, cải thiện khoảng 15 bậc, từ hạng 70-75 (năm 2007). Tuy nhiên, với thứ hạng này, Việt Nam chỉ đứng trên Philippines (56), Campuchia (94), Lào (98) trong khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt, nếu xét riêng theo từng nhóm yếu tố thành phần cấu thành chỉ số NLCT tổng hợp thì các yếu tố liên quan đến tính cạnh tranh của thị trường là rất thấp, thậm chí tụt hạng so với năm 2015 - 2016. Cụ thể, mức độ cạnh tranh của thị trường trong nước (Intensity of local competition) có thứ hạng 108 (tụt bậc so với năm 2016 đứng thứ 80/138); mức độ thống lĩnh thị trường (Extent of market dominance) ở thứ hạng 78, hiệu quả của chính sách chống độc quyền (Effectiveness of anti-monopoly policy) ở mức 94 (so với năm 2016 đứng ở thứ hạng 89/138 

Hai là, tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Sự bất bình đẳng trong cạnh tranh không chỉ giữa DNNN với khối tư nhân mà cạnh tranh bất bình đẳng giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với khối tư nhân trong nước. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hưởng nhiều ưu đãi hơn từ tiếp cận các nguồn lực đến chính sách, hành vi đối xử của các cơ quan công quyền, … Hiện tượng cạnh tranh bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp thân hữu với các doanh nghiệp không có quan hệ thân hữu đã và đang khiến cho nhiều doanh nghiệp tư nhân không có quan hệ thân hữu (đặc biệt là đông đảo các DNNVV) không thể tiếp cận nguồn lực để phát triển được.

Ba là, hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, gây thiệt hại cho doanh nghiệp có chủ trương cạnh tranh lành mạnh, người tiêu dùng và cộng đồng xã hội.

Bốn là, việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực xã hội kém hiệu quả chưa theo tín hiệu thị trường, chưa tuân thủ quy luật cạnh tranh, đặc biệt là phân bổ vốn nhà nước, đã tác động xấu đến hiệu quả và năng suất của nền kinh tế. Mặc dù có cải thiện nhưng tốc độ tăng năng suất lao động bình quân khá thấp: 3,5%/năm 2006- 2010, 4,35%/năm 2011-2015 và 5,31% năm 2016. Khoảng cách với các nước ASEAN-6 còn khá xa (ví dụ: 14,3 lần so với Singapore; 5,7 lần so với Malaysia).

Tăng năng suất lao động có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của người dân. Tuy nhiên, có thể thấy, mức độ cạnh tranh thấp, cạnh tranh chưa công bằng, chưa bình đẳng; và do đó, cạnh tranh đúng bản chất và ý nghĩa của nó chưa trở thành công cụ sàng lọc kẻ thắng, người thua trên thị trường; chưa là động lực chủ yếu thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo, áp dụng khoa học công nghệ… để phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất lao động. Ngược lại, thực trạng cạnh tranh thị trường nói trên tạo ra tín hiệu thị trường và động lực sai lệch, không khuyến khích đầu tư dài hạn, không khuyến khích tập trung và tích tụ để phát triển, mà trái lại thúc đẩy ứng xử thiên về đầu cơ hơn là đầu tư tạo ra lợi nhuận bền vững, tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội.

Theo đó, khó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vai trò của pháp luật cạnh tranh chính là phải đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, kiểm soát hiện tượng thống lĩnh, độc quyền thị trường nhằm duy trì động lực chính đáng cho phát triển, tăng trưởng kinh tế.

Theo: Trần Thùy Lin​​h

Link luận án:  Tại đây

avatar
Dang thu quynh
958 ngày trước
Thực trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
 2.2. Thực trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường2.2.1. Thực trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam2.2.1.1.  Nhận diện cấu trúc thị trường ở Việt NamCùng với việc hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì sự thay đổi của môi trường kinh doanh, đặc biệt là sự đổi mới và phát triển nhanh chóng của công nghệ số, chuỗi cung ứng có tính chất toàn cầu... đã tạo ra các áp lực, các yếu tố thúc đẩy sự thay đổi, hoàn thiện cấu trúc thị trường và thể chế thị trường ở Việt Nam.Lý thuyết kinh tế đã chỉ ra, có bốn loại cấu trúc thị trường, là cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền thuần túy (độc quyền hoàn toàn), cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm. Các thị trường này được xác định bởi các yếu tố: số lượng và quy mô của các doanh nghiệp; mức độ tập trung ngành; các điều kiện về chi phí và công nghệ; các điều kiện về cầu; khả năng gia nhập và rút lui khỏi thị trường; mức độ kiểm soát giá của các doanh nghiệp; Mặt khác, trong cấu trúc thị trường hiện nay thì thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường độc quyền thuần túy chỉ tồn tại trên lý thuyết. Hơn nữa, một cấu trúc thị trường để Nhà nước tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển thì trong cấu trúc đó không còn độc quyền kinh doanh và các hành vi biểu hiện của quyền lực thị trường. Ở môi trường cạnh tranh thì không có sự tồn tại của độc quyền kinh doanh. Một khi áp lực giữa sự thay đổi và cản trở sự thay đổi bị phá vỡ thì một cấu trúc thị trường mới, hoàn thiện hơn sẽ được hình thành, đó là một xu thế biện chứng và tất yếu.Cấu trúc thị trường của Việt Nam đã có sự thay đổi cơ bản với những biểu hiện sau đây:-   Có sự thay đổi mạnh mẽ về thể chế cạnh tranh: Sự thay đổi mạnh mẽ về nhận thức và thể chế cạnh tranh thể hiện rõ nét nhất ở việc Hiến pháp năm 2013 đã hiến định và khẳng định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế đều được bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật (Điều 51). Tinh thần cơ bản của Hiến pháp năm 2013 là không đồng nhất kinh tế nhà nước với doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo chứ không phải DNNN là chủ đạo. Hiến pháp năm 2013 tôn trọng đa hình thức sở hữu, bảo hộ quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế về thu nhập hợp pháp (Điều 32) và (Điều 62) bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Các chủ thể kinh tế, bao gồm cả DNNN và DN ngoài nhà nước đều được bình đẳng, cùng hoạt động theo cơ chế vận hành của thị trường trong cùng một hành lang pháp lý chung. Đó là cơ sở pháp lý cao nhất và là nguyên tắc nền tảng của bình đẳng, kinh doanh, cạnh tranh và sáng tạo. Luật cạnh tranh 2018 vừa được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2018 nhằm khắc phục những hạn chế của Luật cạnh tranh 2004 đã cho thấy nỗ lực của Nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế cạnh tranh.-   Giảm dần các doanh nghiệp Nhà nước, kéo theo sự giảm dần các doanh nghiệp nắm giữ quyền lực thị trường và các doanh nghiệp cạnh tranh ngày càng mở rộng thị phần trong cấu trúc thị trường. Sự đổi mới về thể chế đã dẫn đến kết quả làm giảm dần tỷ lệ loại hình DN có quyền lực thị trường. Thực tiễn Việt Nam cho thấy, loại hình Doanh nghiệp có quyền lực thị trường thường gắn liền với doanh nghiệp độc quyền kinh doanh, doanh nghiệp nhà nước. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thì loại hình doanh nghiệp này giảm dần qua các năm (từ 3,83% năm 2005, đến nay giảm dần xuống mức gần 1%) với nhiều lý do: Cổ phần hóa, thay đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, giải thể, phá sản… Trong khi đó, loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước hầu hết gắn liền với thị trường cạnh tranh lại chiếm tỷ trọng lớn và tăng dần qua các năm.Chủ trương tạo lập môi trường cạnh tranh, lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh đã được đề ra ngay từ Đại hội IX của Đảng và được nhấn mạnh trong các kỳ Đại hội tiếp theo. Nhiều biện pháp cải cách đã được thực hiện nhằm tạo lập và phát triển thị trường cạnh tranh ở Việt Nam. Theo đó, mức độ cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường đã được cải thiện với số lượng chủ thể gia nhập thị trường tăng nhanh mạnh, đặc biệt trong những năm gần đây.Tuy nhiên, bức tranh cạnh tranh còn nhiều vấn đề đặt ra, thể hiện:Một là, nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế thị trường kém cạnh tranh. Mặc dù thứ hạng của Việt Nam về chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2017 - 2018 đã được cải thiện đáng kể, đứng thứ 55/137 quốc gia, cải thiện khoảng 15 bậc, từ hạng 70-75 (năm 2007). Tuy nhiên, với thứ hạng này, Việt Nam chỉ đứng trên Philippines (56), Campuchia (94), Lào (98) trong khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt, nếu xét riêng theo từng nhóm yếu tố thành phần cấu thành chỉ số NLCT tổng hợp thì các yếu tố liên quan đến tính cạnh tranh của thị trường là rất thấp, thậm chí tụt hạng so với năm 2015 - 2016. Cụ thể, mức độ cạnh tranh của thị trường trong nước (Intensity of local competition) có thứ hạng 108 (tụt bậc so với năm 2016 đứng thứ 80/138); mức độ thống lĩnh thị trường (Extent of market dominance) ở thứ hạng 78, hiệu quả của chính sách chống độc quyền (Effectiveness of anti-monopoly policy) ở mức 94 (so với năm 2016 đứng ở thứ hạng 89/138 Hai là, tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Sự bất bình đẳng trong cạnh tranh không chỉ giữa DNNN với khối tư nhân mà cạnh tranh bất bình đẳng giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với khối tư nhân trong nước. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hưởng nhiều ưu đãi hơn từ tiếp cận các nguồn lực đến chính sách, hành vi đối xử của các cơ quan công quyền, … Hiện tượng cạnh tranh bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp thân hữu với các doanh nghiệp không có quan hệ thân hữu đã và đang khiến cho nhiều doanh nghiệp tư nhân không có quan hệ thân hữu (đặc biệt là đông đảo các DNNVV) không thể tiếp cận nguồn lực để phát triển được.Ba là, hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, gây thiệt hại cho doanh nghiệp có chủ trương cạnh tranh lành mạnh, người tiêu dùng và cộng đồng xã hội.Bốn là, việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực xã hội kém hiệu quả chưa theo tín hiệu thị trường, chưa tuân thủ quy luật cạnh tranh, đặc biệt là phân bổ vốn nhà nước, đã tác động xấu đến hiệu quả và năng suất của nền kinh tế. Mặc dù có cải thiện nhưng tốc độ tăng năng suất lao động bình quân khá thấp: 3,5%/năm 2006- 2010, 4,35%/năm 2011-2015 và 5,31% năm 2016. Khoảng cách với các nước ASEAN-6 còn khá xa (ví dụ: 14,3 lần so với Singapore; 5,7 lần so với Malaysia).Tăng năng suất lao động có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của người dân. Tuy nhiên, có thể thấy, mức độ cạnh tranh thấp, cạnh tranh chưa công bằng, chưa bình đẳng; và do đó, cạnh tranh đúng bản chất và ý nghĩa của nó chưa trở thành công cụ sàng lọc kẻ thắng, người thua trên thị trường; chưa là động lực chủ yếu thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo, áp dụng khoa học công nghệ… để phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất lao động. Ngược lại, thực trạng cạnh tranh thị trường nói trên tạo ra tín hiệu thị trường và động lực sai lệch, không khuyến khích đầu tư dài hạn, không khuyến khích tập trung và tích tụ để phát triển, mà trái lại thúc đẩy ứng xử thiên về đầu cơ hơn là đầu tư tạo ra lợi nhuận bền vững, tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội.Theo đó, khó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vai trò của pháp luật cạnh tranh chính là phải đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, kiểm soát hiện tượng thống lĩnh, độc quyền thị trường nhằm duy trì động lực chính đáng cho phát triển, tăng trưởng kinh tế.Theo: Trần Thùy Lin​​hLink luận án:  Tại đây