0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c5bed61a47f-Tình-trạng-lạm-dụng-thế-mạnh,-lạm-dụng-vị-trí-thống-lĩnh-thị-trường-để-hạn-chế-cạnh-tranh.jpg.webp

Tình trạng lạm dụng thế mạnh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh

2.2.1.1.  Tình trạng lạm dụng thế mạnh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh

Một nền kinh tế thị trường mang tính cạnh tranh được thiết lập nhờ phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả trên nền tảng môi trường pháp lý minh bạch và rõ ràng. Sau 30 năm đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, tăng trưởng kinh tế hàng năm khá ổn định, trở thành nền kinh tế năng động của khu vực Đông Nam Á. Tính đến 01/01/2017 cả nước có gần 518 nghìn doanh nghiệp thực tế đang tồn tại, tăng 176 nghìn doanh nghiệp và gấp 1,51 lần so với năm 2012 trong đó có 505 nghìn doanh nghiệp thực tế hoạt động [23]. Qua số liệu thống kê cho thấy, hiện đang có số lượng khổng lồ các thủ thể kinh doanh đang “ganh đua” trên thị trường và do đó, sự cạnh tranh giữa các đối thủ trên cùng thị trường liên quan cũng gay go và quyết liệt. Trong bối cảnh đó, nhiều lĩnh vực, do sự hạn chế về số lượng đối thủ cạnh tranh trên thị trường, do sự khác biệt về năng lực, nguồn vốn và các yếu tố về thể chế dẫn đến sự xuất hiện của những doanh nghiệp chiếm thị phần lớn hoặc có khả năng nhanh chóng chiếm thị phần lớn trên thị trường. Các doanh nghiệp này luôn có xu hướng mở rộng ảnh hưởng, quy mô trên thị trường bằng những cách thức khác nhau, trong đó không loại trừ việc thực hiện các hành vi lạm dụng. Các doanh nghiệp có thế mạnh, có vị trí thống lĩnh, dẫn dắt thị trường không ngại tận dụng thế mạnh, vị trí của mình để chèn ép các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp yếu thế. Những doanh nghiệp yếu thế bị mất dần thị phần, thậm chí phải rút lui khỏi thị trường liên quan, tìm kiếm cơ hội kinh doanh khác.

Trước khi có Luật cạnh tranh 2004, các doanh nghiệp yếu thế, người tiêu dùng gần như không có chỗ dựa để đối phó với những công ty lợi dụng sức mạnh để HCCT. Luật cạnh tranh 2004 ra đời đã định hình được khung pháp lý đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, hướng đến việc hoàn thiện nền kinh tế có tính cạnh tranh cao, các nguồn lực được phân bổ hiệu quả, hợp lý, tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội. Với các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT của Luật cạnh tranh, chắc chắn các doanh nghiệp lớn, có ưu thế, có sức mạnh thị trường sẽ không thể tiếp tục “hồn nhiên” thực hiện các hành vi mang tính đặc quyền, lạm dụng ưu thế của mình để chèn ép các đối thủ, bóc lột, gây thiệt hại cho người tiêu dùng như trước đây. Ngược lại, người tiêu dùng, các doanh nghiệp yếu thế trên thị trường đã có một công cụ pháp lý để nhận diện, phát hiện và yêu cầu các cơ quan chức năng xử lý các hành vi HCCT mang tính lạm dụng VTTLTT. Rõ ràng, dư luận xã hội ngày càng cảnh giác hơn, chủ động phản ứng trước hành vi của các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường.

Các hành vi lạm dụng thế mạnh, VTTLTT để HCCT trên thực tế thường biểu hiện ở các dạng hành vi lạm dụng liên quan đến giá (bán giá thấp nhằm loại bỏ đối thủ, áp đặt giá bất hợp lý…) hay các hành vi áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng…

Ngay trước thời điểm Luật cạnh tranh 2004 có hiệu lực (1/7/2005), vụ việc Tổng công ty Viễn thông quân đội (Viettel) gửi văn bản cho các cơ quan có thẩm quyền “kêu cứu” về việc Tổng công ty Bưu chính-Viễn thông Việt Nam (VNPT) không đáp ứng đầy đủ nhu cầu kết nối của Vietel, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của khách hàng. Hàng loạt thuê bao di động 098 của Viettel không thực hiện được các cuộc gọi sang mạng VinaPhone hoặc các thuê bao điện thoại cố định do VNPT quản lý, dẫn đến tình trạng nhiều khách hàng ngừng sử dụng dịch vụ, khiến cho tốc độ phát triển thuê bao di động mới của Viettel giảm xuống chỉ còn 50% so với trước đây. Viettel cho rằng VNPT đã dùng sức mạnh của mình để chèn ép đối thủ cạnh tranh. VNPT luôn tìm cách trì hoãn hoặc chỉ cho Viettel kết nối vào mạng đường trục của mình với dung lượng hạn chế và điều đó đã ảnh hưởng xấu đến khả năng phát triển của công ty này. Đây được coi là một vụ việc điển hình trong rất nhiều các vụ việc doanh nghiệp thống lĩnh với sức mạnh thị trường “ngang nhiên” chèn ép các đối thủ mới hay trục lợi, bóc lột người tiêu dùng. Khi những hành vi như vậy chưa được điều chỉnh bởi Luật cạnh tranh thì các vụ việc như vậy chưa được dư luận chú ý, thậm chí người tiêu dùng và các doanh nghiệp là nạn nhân của những hành vi này gần như chỉ biết “chịu trận” vì không có công cụ pháp lý đủ mạnh để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Kể từ thời điểm Luật cạnh tranh 2004 có hiệu lực, các vụ việc lạm dụng VTTLTT nói riêng và HCCT nói chung được nhận diện nhiều hơn, thu hút sự chú ý của cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia và dư luận nhiều hơn.

Năm 2010 Công ty TNHH Truyền thông Megastar bị sáu doanh nghiệp chiếu phim kiện vì có hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh thể hiện ở việc áp đặt giá bán hàng hoá, dịch vụ và áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ. Megastar là một doanh nghiệp liên doanh giữa công ty văn hóa Phương Nam (sở hữu 10% vốn điều lệ) và công ty Envoy Media Limited của British Virgin Island (BVI) (sở hữu 90% vốn điều lệ) có công nghệ và vốn đầu tư, rạp lớn, giá vé cao nên đứng ở vị trí thuận lợi khi đàm phán với các hãng phim lớn trên thế giới. Đã có 4 trong số 5 hãng phim lớn tại Hollywood ký hợp đồng với Megastar. Sau khi phim được nhập về, Megastar này sẽ phân phối lại cho các rạp chiếu phim trên phạm vi cả nước. Theo thông lệ quốc tế và Việt Nam, doanh thu bán vé sẽ được phân chia giữa rạp và công ty nhập phim theo một tỷ lệ được ấn định từ trước, và phần phải trả cho phía nhập phim được coi là "mức giá thuê phim". Với ưu thế nắm trong tay số lượng phim nhập áp đảo, Megastar đã nâng giá thuê phim cho các rạp với lý do doanh thu cao thì chi phí thuê phim cũng phải tăng lên. Bắt đầu từ tháng 6/2009, Megastar thay đổi cơ chế ăn chia doanh thu bán vé và thực hiện việc áp đặt chính sách "Giá thuê phim tối thiểu" trên mỗi người xem là 25 nghìn đồng (sau thuế); nghĩa là nếu rạp A bán mỗi vé với giá dưới 50 nghìn đồng thì phần Megastar hưởng là 25 nghìn đồng/vé. Tuy nhiên, nếu giá vé là trên 50 nghìn đồng, Megastar lại áp dụng tỷ lệ chia 50 - 50 như cũ. Chính sách "Giá thuê phim tối thiểu" của Megastar đã đẩy các doanh nghiệp chiếu phim vào tình trạng "dở khóc, dở cười": nếu không chấp nhận chính sách này thì không có phim để chiếu, nếu muốn giữ nguyên giá bán vé thì bị lỗ nặng, còn nếu tăng giá thì ảnh hưởng trực tiếp đến túi tiền khán giả (điều này đồng nghĩa với việc doanh thu sẽ bị giảm sút nghiêm trọng). Theo tính toán, để có lãi, các rạp phải thu được 45% giá vé tức là với mức giá có tỉ lệ 55% đạt ngưỡng 25.000 đồng và thuế VAT là 5%, giá vé tối thiểu phải là 47.727 đồng. Vì vậy, các rạp buộc phải đi đến một trong 3 lựa chọn: Chấp nhận tự do định giá vé xem phim theo khả năng chi trả của khán giả và chất lượng dịch vụ của rạp. Nếu thấp hơn giá vé 47.727 đồng thì phần thu còn lại của rạp là thấp, không bù lại chi phí hoạt động. Áp dụng giá vé cao hơn hay bằng 47.727 đồng thì sẽ mất lượng khán giả có mức thu nhập trung bình và thấp. Không chấp nhận thuê phim của Megastar như thế thì các rạp chỉ có thể chiếu phim cũ và không thể hoạt động. Theo đơn khiếu nại, vì chính sách này của Megastar, nhiều rạp chiếu phim và nhiều doanh nghiệp điện ảnh trong nước bị sụt giảm từ 25 - 50% doanh thu hoạt động cầm chừng. Và quyền lợi của khách hàng - người tiêu dùng bị ảnh hưởng, không có cơ hội hưởng giá cạnh tranh. Megastar không chỉ ép các rạp về mức giá thuê phim mà cả về các điều kiện phát hành, đảm bảo cho phim của Megastar được chiếu ở phòng chiếu lớn nhất, giờ chiếu tốt nhất, tần suất cao nhất có thể, các phim “bom tấn” phải thuê kèm phim khác… Ví như, để có Transformers, Công ty Cổ phần phim Thiên Ngân (Galaxy) phải lấy kèm phim hoạt hình Ice Age... Trước yêu cầu đàm phán từ các doanh nghiệp điện ảnh trong nước, Megastar không có bất kỳ phản hồi chính thức nào. Thâm chí, Megastar vẫn kiên quyết buộc các doanh nghiệp điện ảnh khác phải chấp nhận các yêu cầu của mình. Sáu doanh nghiệp gồm: Công ty cổ phần Sài Gòn Điện ảnh (Cinebox Hòa Bình), Công ty cổ phần truyền thông Điện ảnh Sài Gòn (cụm rạp Đống Đa, Thăng Long, Toàn Thắng, Vinh Quang), Công ty cổ phần phim Thiên Ngân (cụm rạp Galaxy), Công ty TNHH một thành viên điện ảnh Hà Nội (cụm rạp Tháng Tám), Công ty cổ phần Điện ảnh 212 (Cinebox Lý Chính Thắng), Trung tâm Phát hành phim và chiếu bóng Đồng Nai (rạp Thanh Bình và Sông Phố) đã đồng loạt khiếu nại. Sau 04 năm, kể từ khi vụ việc được thụ lý, Cơ quan quản lý cạnh tranh đã có kết luận và xử lý đối với hành vi của Megastar.

Theo: Trần Thùy Lin​​h

Link luận án:  Tại đây

avatar
Dang thu quynh
947 ngày trước
Tình trạng lạm dụng thế mạnh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh
2.2.1.1.  Tình trạng lạm dụng thế mạnh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranhMột nền kinh tế thị trường mang tính cạnh tranh được thiết lập nhờ phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả trên nền tảng môi trường pháp lý minh bạch và rõ ràng. Sau 30 năm đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, tăng trưởng kinh tế hàng năm khá ổn định, trở thành nền kinh tế năng động của khu vực Đông Nam Á. Tính đến 01/01/2017 cả nước có gần 518 nghìn doanh nghiệp thực tế đang tồn tại, tăng 176 nghìn doanh nghiệp và gấp 1,51 lần so với năm 2012 trong đó có 505 nghìn doanh nghiệp thực tế hoạt động [23]. Qua số liệu thống kê cho thấy, hiện đang có số lượng khổng lồ các thủ thể kinh doanh đang “ganh đua” trên thị trường và do đó, sự cạnh tranh giữa các đối thủ trên cùng thị trường liên quan cũng gay go và quyết liệt. Trong bối cảnh đó, nhiều lĩnh vực, do sự hạn chế về số lượng đối thủ cạnh tranh trên thị trường, do sự khác biệt về năng lực, nguồn vốn và các yếu tố về thể chế dẫn đến sự xuất hiện của những doanh nghiệp chiếm thị phần lớn hoặc có khả năng nhanh chóng chiếm thị phần lớn trên thị trường. Các doanh nghiệp này luôn có xu hướng mở rộng ảnh hưởng, quy mô trên thị trường bằng những cách thức khác nhau, trong đó không loại trừ việc thực hiện các hành vi lạm dụng. Các doanh nghiệp có thế mạnh, có vị trí thống lĩnh, dẫn dắt thị trường không ngại tận dụng thế mạnh, vị trí của mình để chèn ép các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp yếu thế. Những doanh nghiệp yếu thế bị mất dần thị phần, thậm chí phải rút lui khỏi thị trường liên quan, tìm kiếm cơ hội kinh doanh khác.Trước khi có Luật cạnh tranh 2004, các doanh nghiệp yếu thế, người tiêu dùng gần như không có chỗ dựa để đối phó với những công ty lợi dụng sức mạnh để HCCT. Luật cạnh tranh 2004 ra đời đã định hình được khung pháp lý đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, hướng đến việc hoàn thiện nền kinh tế có tính cạnh tranh cao, các nguồn lực được phân bổ hiệu quả, hợp lý, tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội. Với các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có VTTLTT của Luật cạnh tranh, chắc chắn các doanh nghiệp lớn, có ưu thế, có sức mạnh thị trường sẽ không thể tiếp tục “hồn nhiên” thực hiện các hành vi mang tính đặc quyền, lạm dụng ưu thế của mình để chèn ép các đối thủ, bóc lột, gây thiệt hại cho người tiêu dùng như trước đây. Ngược lại, người tiêu dùng, các doanh nghiệp yếu thế trên thị trường đã có một công cụ pháp lý để nhận diện, phát hiện và yêu cầu các cơ quan chức năng xử lý các hành vi HCCT mang tính lạm dụng VTTLTT. Rõ ràng, dư luận xã hội ngày càng cảnh giác hơn, chủ động phản ứng trước hành vi của các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường.Các hành vi lạm dụng thế mạnh, VTTLTT để HCCT trên thực tế thường biểu hiện ở các dạng hành vi lạm dụng liên quan đến giá (bán giá thấp nhằm loại bỏ đối thủ, áp đặt giá bất hợp lý…) hay các hành vi áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng…Ngay trước thời điểm Luật cạnh tranh 2004 có hiệu lực (1/7/2005), vụ việc Tổng công ty Viễn thông quân đội (Viettel) gửi văn bản cho các cơ quan có thẩm quyền “kêu cứu” về việc Tổng công ty Bưu chính-Viễn thông Việt Nam (VNPT) không đáp ứng đầy đủ nhu cầu kết nối của Vietel, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của khách hàng. Hàng loạt thuê bao di động 098 của Viettel không thực hiện được các cuộc gọi sang mạng VinaPhone hoặc các thuê bao điện thoại cố định do VNPT quản lý, dẫn đến tình trạng nhiều khách hàng ngừng sử dụng dịch vụ, khiến cho tốc độ phát triển thuê bao di động mới của Viettel giảm xuống chỉ còn 50% so với trước đây. Viettel cho rằng VNPT đã dùng sức mạnh của mình để chèn ép đối thủ cạnh tranh. VNPT luôn tìm cách trì hoãn hoặc chỉ cho Viettel kết nối vào mạng đường trục của mình với dung lượng hạn chế và điều đó đã ảnh hưởng xấu đến khả năng phát triển của công ty này. Đây được coi là một vụ việc điển hình trong rất nhiều các vụ việc doanh nghiệp thống lĩnh với sức mạnh thị trường “ngang nhiên” chèn ép các đối thủ mới hay trục lợi, bóc lột người tiêu dùng. Khi những hành vi như vậy chưa được điều chỉnh bởi Luật cạnh tranh thì các vụ việc như vậy chưa được dư luận chú ý, thậm chí người tiêu dùng và các doanh nghiệp là nạn nhân của những hành vi này gần như chỉ biết “chịu trận” vì không có công cụ pháp lý đủ mạnh để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Kể từ thời điểm Luật cạnh tranh 2004 có hiệu lực, các vụ việc lạm dụng VTTLTT nói riêng và HCCT nói chung được nhận diện nhiều hơn, thu hút sự chú ý của cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia và dư luận nhiều hơn.Năm 2010 Công ty TNHH Truyền thông Megastar bị sáu doanh nghiệp chiếu phim kiện vì có hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh thể hiện ở việc áp đặt giá bán hàng hoá, dịch vụ và áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ. Megastar là một doanh nghiệp liên doanh giữa công ty văn hóa Phương Nam (sở hữu 10% vốn điều lệ) và công ty Envoy Media Limited của British Virgin Island (BVI) (sở hữu 90% vốn điều lệ) có công nghệ và vốn đầu tư, rạp lớn, giá vé cao nên đứng ở vị trí thuận lợi khi đàm phán với các hãng phim lớn trên thế giới. Đã có 4 trong số 5 hãng phim lớn tại Hollywood ký hợp đồng với Megastar. Sau khi phim được nhập về, Megastar này sẽ phân phối lại cho các rạp chiếu phim trên phạm vi cả nước. Theo thông lệ quốc tế và Việt Nam, doanh thu bán vé sẽ được phân chia giữa rạp và công ty nhập phim theo một tỷ lệ được ấn định từ trước, và phần phải trả cho phía nhập phim được coi là "mức giá thuê phim". Với ưu thế nắm trong tay số lượng phim nhập áp đảo, Megastar đã nâng giá thuê phim cho các rạp với lý do doanh thu cao thì chi phí thuê phim cũng phải tăng lên. Bắt đầu từ tháng 6/2009, Megastar thay đổi cơ chế ăn chia doanh thu bán vé và thực hiện việc áp đặt chính sách "Giá thuê phim tối thiểu" trên mỗi người xem là 25 nghìn đồng (sau thuế); nghĩa là nếu rạp A bán mỗi vé với giá dưới 50 nghìn đồng thì phần Megastar hưởng là 25 nghìn đồng/vé. Tuy nhiên, nếu giá vé là trên 50 nghìn đồng, Megastar lại áp dụng tỷ lệ chia 50 - 50 như cũ. Chính sách "Giá thuê phim tối thiểu" của Megastar đã đẩy các doanh nghiệp chiếu phim vào tình trạng "dở khóc, dở cười": nếu không chấp nhận chính sách này thì không có phim để chiếu, nếu muốn giữ nguyên giá bán vé thì bị lỗ nặng, còn nếu tăng giá thì ảnh hưởng trực tiếp đến túi tiền khán giả (điều này đồng nghĩa với việc doanh thu sẽ bị giảm sút nghiêm trọng). Theo tính toán, để có lãi, các rạp phải thu được 45% giá vé tức là với mức giá có tỉ lệ 55% đạt ngưỡng 25.000 đồng và thuế VAT là 5%, giá vé tối thiểu phải là 47.727 đồng. Vì vậy, các rạp buộc phải đi đến một trong 3 lựa chọn: Chấp nhận tự do định giá vé xem phim theo khả năng chi trả của khán giả và chất lượng dịch vụ của rạp. Nếu thấp hơn giá vé 47.727 đồng thì phần thu còn lại của rạp là thấp, không bù lại chi phí hoạt động. Áp dụng giá vé cao hơn hay bằng 47.727 đồng thì sẽ mất lượng khán giả có mức thu nhập trung bình và thấp. Không chấp nhận thuê phim của Megastar như thế thì các rạp chỉ có thể chiếu phim cũ và không thể hoạt động. Theo đơn khiếu nại, vì chính sách này của Megastar, nhiều rạp chiếu phim và nhiều doanh nghiệp điện ảnh trong nước bị sụt giảm từ 25 - 50% doanh thu hoạt động cầm chừng. Và quyền lợi của khách hàng - người tiêu dùng bị ảnh hưởng, không có cơ hội hưởng giá cạnh tranh. Megastar không chỉ ép các rạp về mức giá thuê phim mà cả về các điều kiện phát hành, đảm bảo cho phim của Megastar được chiếu ở phòng chiếu lớn nhất, giờ chiếu tốt nhất, tần suất cao nhất có thể, các phim “bom tấn” phải thuê kèm phim khác… Ví như, để có Transformers, Công ty Cổ phần phim Thiên Ngân (Galaxy) phải lấy kèm phim hoạt hình Ice Age... Trước yêu cầu đàm phán từ các doanh nghiệp điện ảnh trong nước, Megastar không có bất kỳ phản hồi chính thức nào. Thâm chí, Megastar vẫn kiên quyết buộc các doanh nghiệp điện ảnh khác phải chấp nhận các yêu cầu của mình. Sáu doanh nghiệp gồm: Công ty cổ phần Sài Gòn Điện ảnh (Cinebox Hòa Bình), Công ty cổ phần truyền thông Điện ảnh Sài Gòn (cụm rạp Đống Đa, Thăng Long, Toàn Thắng, Vinh Quang), Công ty cổ phần phim Thiên Ngân (cụm rạp Galaxy), Công ty TNHH một thành viên điện ảnh Hà Nội (cụm rạp Tháng Tám), Công ty cổ phần Điện ảnh 212 (Cinebox Lý Chính Thắng), Trung tâm Phát hành phim và chiếu bóng Đồng Nai (rạp Thanh Bình và Sông Phố) đã đồng loạt khiếu nại. Sau 04 năm, kể từ khi vụ việc được thụ lý, Cơ quan quản lý cạnh tranh đã có kết luận và xử lý đối với hành vi của Megastar.Theo: Trần Thùy Lin​​hLink luận án:  Tại đây