0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c5bf5d44f48-Thực-tiễn-thi-hành-pháp-luật-về-kiểm-soát-hành-vi-lạm-dụng-của-doanh-nghiệp-có-vị-trí-thống-lĩnh-thị-trường-ở-Việt-Nam.jpg.webp

Thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam

2.2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam

2.2.2.1.  Thực trạng cơ quan thực thi Luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay

Một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc thực thi pháp luật về lạm dụng VTTLTT là vai trò của CQCT. CQCT phải có tính độc lập, chuyên nghiệp, được trao đầy đủ quyền hạn và thực sự minh bạch trong quá trình thực thi nhiệm vụ thì mới đảm bảo khả năng phát hiện và xử lý nghiêm minh các vụ việc lạm dụng VTTLTT. Các nước có kinh nghiệm quản lý cạnh tranh đều đặt ra yêu cầu trước tiên là CQCT phải độc lập với các doanh nghiệp và với cả những cơ quan có lợi ích gắn bó mật thiết với doanh nghiệp.

Mô hình CQCT của Việt Nam theo Luật Cạnh tranh 2004 là mô hình 2 cấp gồm CQLCT (nay là Cục CT và BVNTD) và Hội đồng cạnh tranh. CQCT do Chính phủ quyết định thành lập và quy định tổ chức, bộ máy. CQCT là cơ quan cấp Cục, trực thuộc Bộ Công thương. Đối với các vụ việc lạm dụng VTTLTT, CQLCT chỉ đảm nhận vai trò điều tra, thu thập, tìm kiếm các chứng cứ có liên quan đến một vụ việc. Trong khi đó, Hội đồng cạnh tranh là cơ quan do Chính phủ thành lập gồm từ 11 đến 15 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương, có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi HCCT nói chung và các vụ việc lạm dụng VTTLTT nói riêng theo quy định của Luật Cạnh tranh. Với mô hình như vậy đã tạo ra một số bất cập trong quá trình quản lý và thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam bởi những điểm sau:

-   CQCT là cơ quan trực thuộc Bộ Công thương, trong khi Bộ Công thương lại là cơ quan chủ quản của nhiều tập đoàn, DNNN lớn. Các DNNN đang giữ hầu hết các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, do đó, đối tượng điều tra của CQCT có thể sẽ là các DN, tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nước, điều này có thể dẫn đến những quan ngại về tính khách quan của vụ việc do quan niệm cơ quan nhà nước “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

-   CQCT trực thuộc Bộ sẽ không đảm bảo được tính tự chủ về ngân sách hoạt động, tự chủ về nhân sự cũng như hạn chế về thực quyền khó có thể đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của quản lý cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà số vụ kiện về các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh tăng lên một cách đáng kể.

-   Đối với Hội đồng cạnh tranh, địa vị pháp lý của cơ quan này trong bộ máy nhà nước cũng chưa được làm rõ, Văn phòng Hội đồng cạnh tranh là cơ quan “thường trực, tham mưu” nhưng lại thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương nên cũng không đảm bảo được tính độc lập. Các thành viên Hội đồng cạnh tranh là đại diện của các Bộ, ngành, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên cũng dẫn đến mâu thuẫn, xung đột lợi ích, không đảm bảo tính độc lập, khách trong khi ra quyết định xử lý, đặc biệt trong các vụ việc liên quan đến ngành, lĩnh vực có đại diện của Bộ chủ quản là thành viên Hội đồng cạnh tranh.

-   Mô hình 2 CQCT riêng biệt cũng khiến cho việc điều tra, xử lý thường kéo dài, do thành viên của Hội đồng cạnh tranh không tham gia điều tra vụ việc ngay từ thời điểm ban đầu, nên việc ra quyết định xử lý sẽ không được thấu đáo và chặt chẽ, cộng thêm các thủ tục hành chính giữa hai cơ quan.

Theo Luật Cạnh tranh 2018, mô hình CQCT của Việt Nam đã được sửa đổi, cụ thể chỉ có một CQCT duy nhất là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thực hiện cả nhiệm vụ điều tra và xử lý đối với các vụ việc cạnh tranh. Sự thay đổi này có các ưu điểm làm tinh gọn bộ máy, rút ngắn các thủ tục hành chính giữa hai cơ quan, từ đó có thể rút ngắn quá trình tố tụng, đảm bảo việc giải quyết vụ việc cạnh tranh theo kịp diễn biến của thị trường. Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng nhất là đảm bảo tính độc lập cao trong tổ chức và hoạt động của CQCT hiện vẫn chưa được đáp ứng. Theo quy định tại Điều 46 Luật Cạnh tranh 2018 thì Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia là Cơ quan thuộc Bộ công thương, và như vậy, những hạn chế về mô hình tổ chức và địa vị của CQCT vẫn chưa được khắc phục, chắc chắn sẽ là trở ngại không nhỏ cho việc thực thi các quy định của Luật cạnh tranh.

Trình độ chuyên môn cũng như nghiệp vụ điều tra của cán bộ điều tra các vụ việc vi phạm Luật Cạnh tranh nói chung, lạm dụng VTTLTT nói riêng còn có nhiều hạn chế. CQCT có 33 người đã được Bộ trưởng Bộ Công Thương bổ nhiệm làm điều tra viên theo quy định của Luật Cạnh tranh. Tuy nhiên, các điều tra viên không chỉ tập trung làm việc tại các đơn vị phụ trách cạnh tranh mà lại công tác rải rác ở các đơn vị chuyên môn khác. Việc huy động các điều tra viên ở các đơn vị chuyên môn khác tham gia, theo đuổi quá trình điều tra một vụ việc HCCT kéo dài từ nửa năm đến hơn một năm là tương đối khó khăn. Đây cũng là một hạn chế đối với việc thực thi chính sách cạnh tranh một cách hiệu quả.

2.2.1.2.   Kết quả điều tra, xử lý vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường giai đoạn 2006 – 2017

So với nhiều quốc gia trên thế giới, Luật Cạnh tranh và Cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam còn rất non trẻ. Tổng hợp từ các Báo cáo hoạt động thường niên cho thấy, đến nay, CQLCT đã tổ chức điều tra 8 vụ việc HCCT, trong đó đã chuyển 5 hồ sơ vụ việc sang Hội đồng Cạnh tranh để xử lý theo quy định của pháp luật, tiến hành thẩm định và cho hưởng miễn trừ đối với 01 vụ việc thỏa thuận HCCT. Trong số 8 vụ việc HCCT đã điều tra, có 3/8 vụ việc xuất phát từ đơn khiếu nại của doanh nghiệp và 5/8 vụ việc do Cơ quan QLCT tự khởi xướng điều tra. Với khoảng thời gian hơn một thập niên, số vụ việc HCCT được điều tra và xử lý theo pháp luật Cạnh tranh Việt Nam thật sự còn quá khiêm tốn. Mặc dù vậy, số vụ việc về lạm dụng VTTLTT được điều tra và xử lý còn không chiếm được một nửa của con số khiêm tốn đó.

Theo: Trần Thùy Lin​​h

Link luận án:  Tại đây

avatar
Dang thu quynh
948 ngày trước
Thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam
2.2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam2.2.2.1.  Thực trạng cơ quan thực thi Luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nayMột trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc thực thi pháp luật về lạm dụng VTTLTT là vai trò của CQCT. CQCT phải có tính độc lập, chuyên nghiệp, được trao đầy đủ quyền hạn và thực sự minh bạch trong quá trình thực thi nhiệm vụ thì mới đảm bảo khả năng phát hiện và xử lý nghiêm minh các vụ việc lạm dụng VTTLTT. Các nước có kinh nghiệm quản lý cạnh tranh đều đặt ra yêu cầu trước tiên là CQCT phải độc lập với các doanh nghiệp và với cả những cơ quan có lợi ích gắn bó mật thiết với doanh nghiệp.Mô hình CQCT của Việt Nam theo Luật Cạnh tranh 2004 là mô hình 2 cấp gồm CQLCT (nay là Cục CT và BVNTD) và Hội đồng cạnh tranh. CQCT do Chính phủ quyết định thành lập và quy định tổ chức, bộ máy. CQCT là cơ quan cấp Cục, trực thuộc Bộ Công thương. Đối với các vụ việc lạm dụng VTTLTT, CQLCT chỉ đảm nhận vai trò điều tra, thu thập, tìm kiếm các chứng cứ có liên quan đến một vụ việc. Trong khi đó, Hội đồng cạnh tranh là cơ quan do Chính phủ thành lập gồm từ 11 đến 15 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương, có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi HCCT nói chung và các vụ việc lạm dụng VTTLTT nói riêng theo quy định của Luật Cạnh tranh. Với mô hình như vậy đã tạo ra một số bất cập trong quá trình quản lý và thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam bởi những điểm sau:-   CQCT là cơ quan trực thuộc Bộ Công thương, trong khi Bộ Công thương lại là cơ quan chủ quản của nhiều tập đoàn, DNNN lớn. Các DNNN đang giữ hầu hết các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, do đó, đối tượng điều tra của CQCT có thể sẽ là các DN, tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nước, điều này có thể dẫn đến những quan ngại về tính khách quan của vụ việc do quan niệm cơ quan nhà nước “vừa đá bóng vừa thổi còi”.-   CQCT trực thuộc Bộ sẽ không đảm bảo được tính tự chủ về ngân sách hoạt động, tự chủ về nhân sự cũng như hạn chế về thực quyền khó có thể đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của quản lý cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà số vụ kiện về các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh tăng lên một cách đáng kể.-   Đối với Hội đồng cạnh tranh, địa vị pháp lý của cơ quan này trong bộ máy nhà nước cũng chưa được làm rõ, Văn phòng Hội đồng cạnh tranh là cơ quan “thường trực, tham mưu” nhưng lại thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương nên cũng không đảm bảo được tính độc lập. Các thành viên Hội đồng cạnh tranh là đại diện của các Bộ, ngành, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên cũng dẫn đến mâu thuẫn, xung đột lợi ích, không đảm bảo tính độc lập, khách trong khi ra quyết định xử lý, đặc biệt trong các vụ việc liên quan đến ngành, lĩnh vực có đại diện của Bộ chủ quản là thành viên Hội đồng cạnh tranh.-   Mô hình 2 CQCT riêng biệt cũng khiến cho việc điều tra, xử lý thường kéo dài, do thành viên của Hội đồng cạnh tranh không tham gia điều tra vụ việc ngay từ thời điểm ban đầu, nên việc ra quyết định xử lý sẽ không được thấu đáo và chặt chẽ, cộng thêm các thủ tục hành chính giữa hai cơ quan.Theo Luật Cạnh tranh 2018, mô hình CQCT của Việt Nam đã được sửa đổi, cụ thể chỉ có một CQCT duy nhất là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thực hiện cả nhiệm vụ điều tra và xử lý đối với các vụ việc cạnh tranh. Sự thay đổi này có các ưu điểm làm tinh gọn bộ máy, rút ngắn các thủ tục hành chính giữa hai cơ quan, từ đó có thể rút ngắn quá trình tố tụng, đảm bảo việc giải quyết vụ việc cạnh tranh theo kịp diễn biến của thị trường. Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng nhất là đảm bảo tính độc lập cao trong tổ chức và hoạt động của CQCT hiện vẫn chưa được đáp ứng. Theo quy định tại Điều 46 Luật Cạnh tranh 2018 thì Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia là Cơ quan thuộc Bộ công thương, và như vậy, những hạn chế về mô hình tổ chức và địa vị của CQCT vẫn chưa được khắc phục, chắc chắn sẽ là trở ngại không nhỏ cho việc thực thi các quy định của Luật cạnh tranh.Trình độ chuyên môn cũng như nghiệp vụ điều tra của cán bộ điều tra các vụ việc vi phạm Luật Cạnh tranh nói chung, lạm dụng VTTLTT nói riêng còn có nhiều hạn chế. CQCT có 33 người đã được Bộ trưởng Bộ Công Thương bổ nhiệm làm điều tra viên theo quy định của Luật Cạnh tranh. Tuy nhiên, các điều tra viên không chỉ tập trung làm việc tại các đơn vị phụ trách cạnh tranh mà lại công tác rải rác ở các đơn vị chuyên môn khác. Việc huy động các điều tra viên ở các đơn vị chuyên môn khác tham gia, theo đuổi quá trình điều tra một vụ việc HCCT kéo dài từ nửa năm đến hơn một năm là tương đối khó khăn. Đây cũng là một hạn chế đối với việc thực thi chính sách cạnh tranh một cách hiệu quả.2.2.1.2.   Kết quả điều tra, xử lý vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường giai đoạn 2006 – 2017So với nhiều quốc gia trên thế giới, Luật Cạnh tranh và Cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam còn rất non trẻ. Tổng hợp từ các Báo cáo hoạt động thường niên cho thấy, đến nay, CQLCT đã tổ chức điều tra 8 vụ việc HCCT, trong đó đã chuyển 5 hồ sơ vụ việc sang Hội đồng Cạnh tranh để xử lý theo quy định của pháp luật, tiến hành thẩm định và cho hưởng miễn trừ đối với 01 vụ việc thỏa thuận HCCT. Trong số 8 vụ việc HCCT đã điều tra, có 3/8 vụ việc xuất phát từ đơn khiếu nại của doanh nghiệp và 5/8 vụ việc do Cơ quan QLCT tự khởi xướng điều tra. Với khoảng thời gian hơn một thập niên, số vụ việc HCCT được điều tra và xử lý theo pháp luật Cạnh tranh Việt Nam thật sự còn quá khiêm tốn. Mặc dù vậy, số vụ việc về lạm dụng VTTLTT được điều tra và xử lý còn không chiếm được một nửa của con số khiêm tốn đó.Theo: Trần Thùy Lin​​hLink luận án:  Tại đây