Duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh bình đẳng, hiệu quả nhưng không cản trở mục tiêu đổi mới và tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp
3.1.1. Duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh bình đẳng, hiệu quả nhưng không cản trở mục tiêu đổi mới và tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp
Cạnh tranh vừa là quy luật vận động vừa là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế phải có sự cạnh tranh mới thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, tạo ra những sản phẩm có chất lượng ngày càng cao với giá thành ngày càng giảm. Các doanh nghiệp dưới sức ép của cạnh tranh cũng không ngừng cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học, kỹ thuật mới, cải tiến công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh, kinh doanh hiệu quả. Nhờ có cạnh tranh, các doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn, tạo ra năng suất lao động cao hơn, sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý hơn. Từ góc độ người tiêu dùng, cạnh tranh giúp thỏa mãn được tối đa nhu cầu của người tiêu dùng. Như vậy, chính sách cạnh tranh hiệu quả sẽ thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển, tăng cường phúc lợi xã hội, phúc lợi tiêu dùng. Chính sách cạnh tranh phải hướng tới việc bảo vệ cạnh tranh, trước hết là bảo vệ môi trường có sự cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng, đồng thời bảo vệ các thành quả của cạnh tranh. Những lợi ích mà luật cạnh tranh bảo vệ là những lợi ích công, chứ không phải lợi ích của một doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp cụ thể nào trên thị trường. Tuy nhiên, bảo vệ lợi ích công, không bảo vệ lợi ích riêng của mỗi doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc để bảo vệ lợi ích công mà xâm phạm lợi ích hợp pháp riêng, cản trở mục tiêu tăng trưởng và đổi mới của mỗi doanh nghiệp. Quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là lĩnh vực pháp luật mà yêu cầu trên là rất thách thức. Có thể thấy, một chiến lược kinh doanh có thể đươc coi là hợp pháp nếu được thực hiện bởi doanh nghiệp không có vị trí thống lĩnh thị trường nhưng trở thành bất hợp pháp nếu được thực hiện bởi doanh nghiệp thống lĩnh thị trường. Về mặt hình thức, sau khi nỗ lực đạt được vị trí thống lĩnh thị trường thì dường như doanh nghiệp lại bị tước quyền thực hiện một số hành vi như các doanh nghiệp bình thường khác. Do đó, đối với những hành vi mà doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thực hiện, việc xác định giới hạn, phạm vi của những hành vi bị coi là lạm dụng là cực kỳ quan trọng. Giới hạn hẹp quá sẽ bỏ sót những hành vi mang tính chất phản cạnh tranh, dẫn đến bóp méo, cản trở cạnh tranh, gây tác động xấu cho môi trường kinh doanh và tăng trưởng của nền kinh tế nói chung. Giới hạn quá rộng hẳn nhiên sẽ hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp thống lĩnh, cản trở doanh nghiệp phát triển, tăng trưởng một cách chính đáng, Khi đó các doanh nghiệp sẽ không còn động lực để phát triển, không cố gắng để đóng góp cho nền kinh tế. Bản thân một nền kinh tế không có các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp dẫn dắt trong mỗi lĩnh vực cũng khó thoát khỏi tình trạng manh mún, quy mô sản xuất nhỏ bé, tăng trưởng hạn chế.
3.1.1. Thể hiện rõ hơn yêu cầu về kết hợp chặt chẽ giữa tư duy kinh tế và tư duy pháp lý
Cạnh tranh là hiện tượng mang bản chất kinh tế. Luật Cạnh tranh là phương tiện được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh trên thị trường. Do đó, trong việc hoàn thiện các quy định của luật cạnh tranh nói chung, các quy định về lạm dụng VTTLTT nói riêng phải trên cơ sở kết hợp tư duy pháp lý và tư duy kinh tế, phải tiếp cận từ góc độ kinh tế, tư duy kinh tế để giải thích nguồn gốc, giải thích các hành vi cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh để có sự can thiệp phù hợp. Thực tiễn hoạt động kinh tế rất đa dạng, các chủ thể kinh doanh luôn không ngừng làm mới những phương thức kinh doanh để tối đa hóa lợi nhuận. Các triết lý kinh doanh hiện đại cũng trở lên phức tạp hơn, dẫn tới những thay đổi không ngừng trong quan điểm kinh doanh, phương thức cạnh tranh. Do đó, các nhà làm luật nếu không có kiến thức kinh tế hiện đại, nhìn nhận từ góc độ kinh tế để đánh gía hành vi cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh thì rất dễ dẫn đến việc kiểm soát, can thiệp quá sâu vào quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh. Việc tiếp cận hành vi chỉ dựa trên những nhận diện mang tính hình thức sẽ có thể bỏ sót không xử lý những hành vi mang bản chất lạm dụng nhưng cũng có thể xử lý những hành vi có cấu thành pháp lý được quy định trong luật nhưng lại không có bản chất lạm dụng.
Các quy định pháp lý về việc đánh giá sức mạnh thị trường, xác định thị trường liên quan hay xác định hành vi lạm dụng phải được xây dựng trên cơ sở các phương pháp phân tích, đánh giá về kinh tế. Trong quá trình xử lý các vụ việc cạnh tranh, bên cạnh những quy phạm pháp luật, CQCT cũng cần phải sử dụng các phân tích, đánh giá kinh tế phục vụ cho việc đánh giá vụ việc.
Luật cạnh tranh 2004 được cho là dựa trên cách tiếp cận hình thức đã được sửa đổi bằng Luật cạnh tranh 2018 với những thay đổi quan trọng khi nhấn mạnh việc kết hợp chặt chẽ giữa tư duy kinh tế và tư duy pháp lý trong đó nhấn mạnh mục tiêu tăng cường hiệu quả cho công tác thực thi luật. Tuy nhiên, những thay đổi lớn của Luật cạnh tranh 2018 chủ yếu liên quan đến quy định về thỏa thuận HCCT và tập trung kinh tế. Các quy định về lạm dụng VTTLTT Luật Cạnh tranh 2018 mới về cơ bản vẫn giữ nguyên các nguyên tắc và cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh năm 2004. Điều quan trọng là giả thiết về VTTLTT của doanh nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên tiêu chí thị phần và ngưỡng thị phần cố định. và sự khác biệt giữa sự thống trị của cá nhân, sự thống trị của nhóm và vị thế độc quyền đã được giữ lại. Các hành vi lạm dụng VTTLTT vẫn được quy định theo cách liệt kê đóng khung. Dẫn đến, không phải tất cả các hành vi được thực hiện bởi doanh nghiệp có VTTLTT, gây tác động hoặc có khả năng gây tác động HCCT đều bị cấm, mà chỉ các hành vi lạm dụng được liệt kê cụ thể tại Luật cạnh tranh và Luật khác mới bị cấm. Như vậy, các quy định của Luật cạnh tranh 2018 về hành vi lạm dụng VTTLTT vẫn giữ nguyên cách tiếp cận hình thức được ghi nhận trong Luật cạnh tranh 2004. Ở nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, việc vận dụng tư duy kinh tế, đánh giá, kết luận hành vi lạm dụng dựa trên việc phân tích tác động của hành vi đối với môi trường cạnh tranh, đối với nền kinh tế là xu thế chung trong nhiều năm trở lại đây và được coi là cải cách quan trọng của Luật cạnh tranh các nước, mà đi đầu là luật cạnh tranh EU. Việc tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia có nền kinh tế phát triển cũng như có quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh lâu đời trên thế giới là cần thiết.
Theo: Trần Thùy Linh
Link luận án: Tại đây