0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c5c2d875d7e-Hoàn-thiện-quy-định-về-xác-định-vị-trí-thống-lĩnh-thị-trường.jpg.webp

Hoàn thiện quy định về xác định vị trí thống lĩnh thị trường

3.1.3. Hoàn thiện quy định về xác định vị trí thống lĩnh thị trường

Thứ nhất, xây dựng định nghĩa vị trí thống lĩnh thị trường.

Như đã phân tích, Luật Cạnh tranh Việt Nam hiện không có định nghĩa về vị trí thống lĩnh thị trường, do đó, thiếu cơ sở cho việc xây dựng các căn cứ để xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp. Về định nghĩa vị trí thống lĩnh thị trường, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, có thể quy định như sau:

Thống lĩnh thị trường là vị trí của doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp nắm giữ sức mạnh thị trường đáng kể có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường liên quan và hành xử một cách độc lập với đối thủ cạnh tranh, khách hàng và người tiêu dùng.

Với định nghĩa này, phải hiểu mọi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đều phải có sức mạnh thị trường đáng kể chứ không thể hiểu như quy định của Luật cạnh tranh 2018: khi doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan (nhưng không có sức mạnh thị trường đáng kể) hoặc có sức mạnh thị trường đáng kể (trong trường hợp có thị phần dưới 30%) thì được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường.

Thứ hai, quy định lại các căn cứ xác định vị trí thống lĩnh thị trường

Như đã phân tích, việc đưa ra ngưỡng thị phần cố định 30% với ý nghĩa là giả thiết không thể bác bỏ về vị trí thống lĩnh thị trường là thấp và không linh hoạt không đủ để khẳng định về vị trí thống lĩnh thị trường nếu không xem xét thêm các yếu tố khác. Ngược lại, chỉ dựa vào các yếu tố khác để xác định là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường trong trường hợp doanh nghiệp có thị phần trên thị trường liên quan thấp hơn 30% là khá chủ quan, có thể dẫn tới những kiểm soát quá sớm đối với doanh nghiệp, cản trở doanh nghiệp nỗ lực tăng trưởng. Do đó, thị phần được coi là yếu tố nhận diện quan trọng đầu tiên nhưng cần được kiểm chứng qua việc xem xét các yếu tố khác để kết luận về vị trí thống lĩnh thị trường. Để đánh giá chính xác hơn về sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, có thể học hỏi kinh nghiệm của các hệ thống pháp luật như EU hay Hoa Kỳ trong việc sử dụng kết hợp cả yếu tố thị phần và các yếu tố khác. Việc đưa ra các mức thị phần nhất định là cần thiết để xây dựng các giả định về vị trí thống lĩnh thị trường nhưng không phải là mức thị phần cố định để khẳng định về vị trí thống lĩnh thị trường. Ngưỡng thị phần 30% theo quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay nên được sử dụng kết hợp với các yếu tố khác đủ để kết luận chắc chắn về vị trí thống lĩnh thị trường. Các yếu tố cần xem xét có thể bao gồm cấu trúc và các rào cản gia nhập thị trường; năng lực vượt trội của doanh nghiệp; biến động thị phần trong một khoảng thời gian nhất định; các nguồn lực thiết yếu mà doanh nghiệp đang nắm giữ, điều kiện tương quan thị trường… Việc kết luận chắc chắn về vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp mà không tính đến các yếu tố khác ngoài thị phần chỉ có thể khi doanh nghiệp nắm giữ mức thị phần rất lớn mà theo kinh nghiệm các nước là không dưới 70%. Mức thị phần rất lớn này có thể điều chỉnh giảm xuống cho phù hợp với bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay khi mà quy mô của các ngành kinh tế còn hạn chế, phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh đều là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa.

Một điều quan trong là việc đánh giá sức mạnh thị trường để kết luận về vị trí thống lĩnh thị trường phải luôn được đặt trong trạng thái động, do đó, việc quy định các tiêu chí đánh giá vị trí của doanh nghiệp trên thị trường chỉ nên dưới dạng nguyên tắc chung.

Tác giả đề xuất Điều 24 Luật Cạnh tranh 2018 được quy định lại như sau:

Doanh nghiệp (nhóm doanh nghiệp) được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có sức mạnh thị trường đáng kể và được xác định căn cứ vào thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan và hoặc các căn cứ khác được quy định tại Điều 26 của Luật này.

Về ngưỡng thị phần giả định về vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp cùng với việc xem xét các căn cứ khác nên được chuyển từ quy định của văn bản Luật xuống văn bản hướng dẫn để đảm bảo giá trị lâu dài của Luật và đảm bảo sự phù hợp với thực tiễn trong hiện tại và tương lại gần của Nghị định.

Tác giả đề xuất Nghị định quy định về ngưỡng thị phần giả định về vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp cùng với việc xem xét các căn cứ khác cụ thể như sau:

-   Doanh nghiệp có thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan thì được xác định là có vị trí thống lĩnh thị trường;

-   Doanh nghiệp có thị phần từ 30% đến dưới 50% trên thị trường liên quan thì được xác định là có vị trí thống lĩnh thị trường, trừ khi có bằng chứng bác bỏ khả năng có sức mạnh thị trường của doanh nghiệp;

-   Doanh nghiệp có thị phần dưới 30% trên thị trường liên quan được xác định là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có căn cứ xác định doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể.

-   Doanh nghiệp có thị phần dưới 10% trên thị trường liên quan thì không có vị trí thống lĩnh thị trường.

Theo: Trần Thùy Lin​​h

Link luận án:  Tại đây

avatar
Dang thu quynh
869 ngày trước
Hoàn thiện quy định về xác định vị trí thống lĩnh thị trường
3.1.3. Hoàn thiện quy định về xác định vị trí thống lĩnh thị trườngThứ nhất, xây dựng định nghĩa vị trí thống lĩnh thị trường.Như đã phân tích, Luật Cạnh tranh Việt Nam hiện không có định nghĩa về vị trí thống lĩnh thị trường, do đó, thiếu cơ sở cho việc xây dựng các căn cứ để xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp. Về định nghĩa vị trí thống lĩnh thị trường, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, có thể quy định như sau:Thống lĩnh thị trường là vị trí của doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp nắm giữ sức mạnh thị trường đáng kể có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường liên quan và hành xử một cách độc lập với đối thủ cạnh tranh, khách hàng và người tiêu dùng.Với định nghĩa này, phải hiểu mọi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đều phải có sức mạnh thị trường đáng kể chứ không thể hiểu như quy định của Luật cạnh tranh 2018: khi doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan (nhưng không có sức mạnh thị trường đáng kể) hoặc có sức mạnh thị trường đáng kể (trong trường hợp có thị phần dưới 30%) thì được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường.Thứ hai, quy định lại các căn cứ xác định vị trí thống lĩnh thị trườngNhư đã phân tích, việc đưa ra ngưỡng thị phần cố định 30% với ý nghĩa là giả thiết không thể bác bỏ về vị trí thống lĩnh thị trường là thấp và không linh hoạt không đủ để khẳng định về vị trí thống lĩnh thị trường nếu không xem xét thêm các yếu tố khác. Ngược lại, chỉ dựa vào các yếu tố khác để xác định là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường trong trường hợp doanh nghiệp có thị phần trên thị trường liên quan thấp hơn 30% là khá chủ quan, có thể dẫn tới những kiểm soát quá sớm đối với doanh nghiệp, cản trở doanh nghiệp nỗ lực tăng trưởng. Do đó, thị phần được coi là yếu tố nhận diện quan trọng đầu tiên nhưng cần được kiểm chứng qua việc xem xét các yếu tố khác để kết luận về vị trí thống lĩnh thị trường. Để đánh giá chính xác hơn về sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, có thể học hỏi kinh nghiệm của các hệ thống pháp luật như EU hay Hoa Kỳ trong việc sử dụng kết hợp cả yếu tố thị phần và các yếu tố khác. Việc đưa ra các mức thị phần nhất định là cần thiết để xây dựng các giả định về vị trí thống lĩnh thị trường nhưng không phải là mức thị phần cố định để khẳng định về vị trí thống lĩnh thị trường. Ngưỡng thị phần 30% theo quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay nên được sử dụng kết hợp với các yếu tố khác đủ để kết luận chắc chắn về vị trí thống lĩnh thị trường. Các yếu tố cần xem xét có thể bao gồm cấu trúc và các rào cản gia nhập thị trường; năng lực vượt trội của doanh nghiệp; biến động thị phần trong một khoảng thời gian nhất định; các nguồn lực thiết yếu mà doanh nghiệp đang nắm giữ, điều kiện tương quan thị trường… Việc kết luận chắc chắn về vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp mà không tính đến các yếu tố khác ngoài thị phần chỉ có thể khi doanh nghiệp nắm giữ mức thị phần rất lớn mà theo kinh nghiệm các nước là không dưới 70%. Mức thị phần rất lớn này có thể điều chỉnh giảm xuống cho phù hợp với bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay khi mà quy mô của các ngành kinh tế còn hạn chế, phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh đều là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa.Một điều quan trong là việc đánh giá sức mạnh thị trường để kết luận về vị trí thống lĩnh thị trường phải luôn được đặt trong trạng thái động, do đó, việc quy định các tiêu chí đánh giá vị trí của doanh nghiệp trên thị trường chỉ nên dưới dạng nguyên tắc chung.Tác giả đề xuất Điều 24 Luật Cạnh tranh 2018 được quy định lại như sau:Doanh nghiệp (nhóm doanh nghiệp) được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có sức mạnh thị trường đáng kể và được xác định căn cứ vào thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan và hoặc các căn cứ khác được quy định tại Điều 26 của Luật này.Về ngưỡng thị phần giả định về vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp cùng với việc xem xét các căn cứ khác nên được chuyển từ quy định của văn bản Luật xuống văn bản hướng dẫn để đảm bảo giá trị lâu dài của Luật và đảm bảo sự phù hợp với thực tiễn trong hiện tại và tương lại gần của Nghị định.Tác giả đề xuất Nghị định quy định về ngưỡng thị phần giả định về vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp cùng với việc xem xét các căn cứ khác cụ thể như sau:-   Doanh nghiệp có thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan thì được xác định là có vị trí thống lĩnh thị trường;-   Doanh nghiệp có thị phần từ 30% đến dưới 50% trên thị trường liên quan thì được xác định là có vị trí thống lĩnh thị trường, trừ khi có bằng chứng bác bỏ khả năng có sức mạnh thị trường của doanh nghiệp;-   Doanh nghiệp có thị phần dưới 30% trên thị trường liên quan được xác định là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có căn cứ xác định doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể.-   Doanh nghiệp có thị phần dưới 10% trên thị trường liên quan thì không có vị trí thống lĩnh thị trường.Theo: Trần Thùy Lin​​hLink luận án:  Tại đây