Hoàn thiện quy định về cơ chế thực thi về xác định hành vi lạm dụng
3.1.5. Hoàn thiện quy định về cơ chế thực thi
Một là, Tiếp tục hoàn thiện quy định về cơ quan thực thi cạnh tranh hướng đến đảm bảo cao hơn yêu cầu về tính độc lập, trách nhiệm giải trình và minh bạch
Mặc dù Luật Cạnh tranh 2018 đã xây dựng mô hình một CQCT được cho là phù hợp hơn so với mô hình hai cơ quan theo quy định của Luật Cạnh tranh 2004. Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, với quy định hiện nay của Luật Cạnh tranh 2018, tính độc lập của CQCT vẫn chưa được bảo đảm, ngoài ra yêu cầu về tính minh bạch trong hoạt động và trách nhiệm giải trình của CQCT cũng cần được quan tâm nhằm hướng đến một thể chế thực thi luật cạnh tranh hiệu quả.
- Về tính độc lập: Nhiều quan điểm cho rằng việc CQCT là một đơn vị thuộc Bộ công thương như hiện nay là chưa hợp lý, làm ảnh hưởng đến tính độc lập của CQCT và chắc chắn làm ảnh hưởng đến tính hiệu lực, hiệu quả của việc thực thi pháp luật, chính sách cạnh tranh. Như quan điểm của phần đông các nước được OECD ghi nhận, tính độc lập với quyền lực chính trị của một cơ quan chức năng là yếu tố then chốt cho một chế độ cạnh tranh hiệu quả [14]. Các yếu tố được coi là có ảnh hưởng đến tính độc lập của CQCT là (i) Vị trí người lãnh đạo của CQCT do ai bổ nhiệm, (ii) CQCT nằm trong cơ cấu Chính Phủ hay không? Và (iii) có tự chủ về ngân sách hoạt động hay không. Hoạt động chủ yếu của cơ quan quản lý cạnh tranh là điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh. Trong bối cảnh khi mà các DNNN vẫn đang nắm giữ hầu hết các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế thì chính các DN này là đối tượng điều tra của CQCT. Trong khi, Bộ Công Thương lại là cơ quan chủ quản của nhiều tập đoàn, tổng công ty lớn thì việc để CQCT trực thuộc Bộ Công Thương như hiện nay sẽ dẫn tới việc “vừa đá bóng vừa thổi còi” và rõ ràng, CQCT sẽ không thể thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, “không phải việc cơ quan nào nằm trong cơ cấu của một hệ thống nào đó là đồng nghĩa với sự lệ thuộc của nó vào hệ thống. Trong một trật tự nhà nước pháp quyền, sự độc lập của một cơ quan, tổ chức lại được thiết lập bởi quy chế độc lập và việc thực hiện nó trên thực tế. Ngược lại, cũng trên thực tế, đã không thiếu các cơ quan tổ chức, khi sắp đặt đặt với mong muốn là chúng sẽ độc lập nhưng trên thực tế, khi hoạt động chúng bị chi phối bởi nhiều phía và kết cục là “đứng một mình” nhưng vẫn không độc lập” [17]. Việc quy định vị trí thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện và đặc điểm tình hình thị trường của từng quốc gia. Do vậy, giải pháp hoặc là tách CQCT thành cơ quan độc lập không thuộc Bộ Công thương hoặc là vẫn để nó trực thuộc Bộ Công thương nhưng phải xây dựng các quy định về trách nhiệm, quyền hạn, cơ chế trao quyền lực cho cơ quan này để đảm bảo nó có quyền lực đủ mạnh, độc lập trong việc xử lý các hành vi vi phạm luật cạnh tranh nói chung và vi phạm về lạm dụng VTTLTT nói riêng.
- Đảm bảo sự độc lập cho CQCT cũng cần tính đến quy định về thành viên của CQCT cũng phải đảm bảo tính độc lập. Bởi vậy, cũng cần sửa đổi quy định về thành viên tại Điều 48 Luật Cạnh tranh 2018 hiện nay, theo đó, bỏ quy định Thành viên Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là công chức của Bộ Công Thương, các Bộ, ngành có liên quan.
- Về trách nhiệm giải trình: Một khi CQCT được đảm bảo tính độc lập thì sẽ làm phát sinh trách nhiệm giải trình với Tòa án, Quốc hội, Chính phủ hay công chúng. Điều này đảm bảo tính đúng đắn trong hoạt động của CQCT, đặc biệt là CQCT còn có thẩm quyền áp dụng xử phạt. Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy, CQCT cần thực hiện trách nhiệm giải trình trước Quốc hội ít nhất mỗi năm một lần và để đại biểu Quốc hội chấn vấn trực tiếp hoặc bằng văn bản. Do đó, đồng thời với việc đảm bảo cao hơn tính độc lập của CQCT thì cần có quy định cụ thể về trách nhiệm giải trình trước Chính Phủ, Quốc hội và doanh nghiệp.
- Về tính minh bạch: Một khi CQCT được đảm bảo tính độc lập thì có nhu cầu về minh bạch tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, công chúng đối với các vụ việc được CQCT điều tra, xử lý theo pháp luật. Do đó, cần có quy định về trách nhiệm công khai thông tin của CQCT, nêu rõ phạm vi những thông tin bắt buộc phải công khai và các hình thức công khai. Yêu cầu về tính minh bạch trong hoạt động của CQCT vừa có ý nghĩa là công cụ để giám sát hoạt động của CQCT, đảm bảo hoạt động đúng đắn của nó, vừa có ý nghĩa trong việc nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về luật cạnh tranh, góp phần hạn chế hành vi vi phạm. Thực tiễn cho thấy các cơ quan thực thi luật cạnh trạnh của Việt Nam thời gian qua tuy có công bố hồ sơ về các vụ việc lạm dụng VTTLTT được điều ttra, xử lý. Song nội dung công bố thường chỉ trong phạm vi một trang thông tin cho mỗi vụ việc, trong đó thường thiếu những lý gỉai, cơ sở cho việc vận dụng các quy định luật vào các tình tiết cụ thể. Điều này rõ ràng thể hiện tính thiếu minh bạch và hệ quả dẫn tới là tính tuân thủ pháp luật từ cộng đồng doanh nghiệp cũng sẽ không cao.
Hai là, Xây dựng quy định về cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin, chính sách giữa cơ quan cạnh tranh với các cơ quan điều tiết ngành.
Thực thi pháp luật cạnh tranh là vấn đề rất phức tạp, bao trùm trong nhiều lĩnh vực liên quan đến nhiều Bộ, Ban ngành cả Trung ương và địa phương, trong khi đơn vị thực thi chỉ là cấp Cục thuộc Bộ thì chưa đủ mạnh, làm giảm hiệu quả công việc. Bên cạnh đó, phân tích kinh tế đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu khi áp dụng các quy định pháp luật cạnh tranh trong các vụ việc cụ thể. Những phân tích kinh tế mang tính đặc thù ngành sẽ là một thách thức rất lớn cho cơ quan quản lý cạnh tranh. Trong khi đó, Luật cạnh tranh Việt Nam chưa xây dựng được cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan quản lý cạnh tranh và các cơ quan điều tiết ngành cùng thực thi nhiệm vụ bảo vệ môi trường cạnh tranh sẽ là một hạn chế lớn làm giảm hiệu quả thực thi của Luật cạnh tranh. Do đó, việc hoàn thiện các quy định của Luật cạnh tranh nói chung và quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nói riêng cần tính đến việc xây dựng cơ chế phối hợp giữa CQCT và các cơ quan quản lý ngành trong việc thực thi Luật cạnh tranh. Một số giải pháp cụ thể để tăng cường phối hợp thực thi luật cạnh tranh giữa các cơ quan liên quan như:
- Thường xuyên và định kỳ có sự trao đổi, tổng kết giữa lãnh đạo CQCT với các cơ quan điều tiết ngành để tăng cường nhận thức về pháp luật cạnh tranh.
- Thường xuyên chia sẻ thông tin về tình hình thị trường, doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý ngành.
- Cho phép CQCT được tham vấn các chính sách ngành trước khi ban hành để đảm bảo các chính sách này phù hợp với các nguyên tắc cạnh tranh.
- Thường xuyên tiến hành rà soát pháp luật cạnh tranh với pháp luật chuyên ngành để chỉ ra những quy định không phù hợp với chính sách và pháp luật cạnh tranh.
Ba là, hoàn thiện các quy định về cơ chế giám sát doanh nghiệp để phát hiện và ngăn chặn kịp thời hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp.
Theo: Trần Thùy Linh
Link luận án: Tại đây