GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN BẰNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM
4.2. Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật giải quyết tranh chấp trong công ty cổ phần bằng Tòa án ở Việt Nam
4.2.1. Xây dựng và hoàn thiện các nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong công ty cổ phần bằng Tòa án.
Quá trình giải quyết tranh chấp bằng Tòa án vận dụng triệt để các nguyên tắc được quy định trong BLTTDS. Tuy nhiên, xuất phát từ mối quan hệ bất bình đẳng trong tranh chấp giữa cổ đông với công ty hoặc người quản lý công ty (NQLCT), pháp luật cần tiếp tục quan tâm bổ sung các nguyên tắc đặc thù, bao gồm:
Nguyên tắc đảo nghĩa vụ chứng minh
Nguyên tắc đảo nghĩa vụ chứng minh buộc chủ thể có nghĩa vụ phải chứng minh mình không vi phạm, trường hợp không chứng minh được thì phải chịu trách nhiệm.
Nguyên tắc này góp phần làm giảm chi phí xác minh, tạo điều kiện cho bên yếu thế thực hiện các quyền và nghĩa vụ thuận lợi hơn. Chẳng hạn trong trường hợp cổ đông có tranh chấp về việc công ty về việc không đảm bảo quyền dự họp ĐHĐCĐ vì đã không gửi tài liệu đại hội cho cổ đông. Lỗi của việc cổ đông không nhận được tài liệu trước khi tiến hành Đại hội được xác định thuộc về công ty trừ khi công ty chứng minh được đã gửi tài liệu đó đến đúng địa chỉ đã đăng ký của cổ đông trong thời hạn quy định.
Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
Do đặc thù của tranh chấp trong CTCP nên việc xác định quan hệ tranh chấp có thể không tồn tại quan hệ tương ứng trực tiếp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tranh chấp.
Mặt khác, trong các mối quan hệ giữa cổ đông với công ty, với tư cách là chủ sở hữu, cổ đông vừa mang quyền vừa có nghĩa vụ đối với tổ chức và hoạt động của công ty. Quá trình duy trì và thực hiện các mối quan hệ này luôn có khả năng tồn tại các quyền và nghĩa vụ tiềm ẩn nhưng chưa được luật hóa một cách cụ thể. Để không bỏ sót nội dung tranh chấp, việc xác định tranh chấp giữa các cổ đông, giữa cổ đông với công ty cần được đặt trong nguyên tắc quyền và lợi ích chính đáng của các bên.
Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng dễ nhầm lẫn với việc cổ đông khởi kiện nhân danh công ty được ghi nhận tại Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2020. Tuy nhiên, trong khởi kiện nhân danh công ty, quyền và lợi ích chính đáng vẫn thuộc về công ty và công ty vẫn có quyền khởi kiện nhưng vì công ty không thực hiện nên cổ đông nhân danh công ty khởi kiện và vì lợi ích của công ty.
4.2.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật doanh nghiệp giải quyết tranh chấp trong công ty cổ phần
Hoàn thiện các quy định pháp luật về xác định tư cách cổ đông, các quyền và nghĩa vụ của cổ đông và công ty
Quy định về xác định tư cách cổ đông có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng Tòa án. Một cá nhân, tổ chức được xác định có tư cách cổ đông từ thời điểm nào, các hợp pháp hay không là vấn đề tòa án phải xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, để từ đó xác định các quyền và nghĩa vụ của cổ đông phát sinh, chấm dứt ở những thời điểm cụ thể nào, để từ đó thực hiện việc đánh giá mức độ vi phạm giữa công ty và cổ đông khi có tranh chấp xảy ra.
Đối với trường hợp xác lập tư cách cổ đông khi góp vốn thành lập công ty, với quan niệm Công ty cổ phần được thành lập dựa trên thỏa thuận kinh doanh của các cổ đông, pháp luật chỉ nên căn cứ vào hồ sơ khi thành lập công ty để xác định tư cách cổ đông. Cổ phần chưa góp được coi là khoản nợ của cổ đông với công ty. Việc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của cổ đông cam kết góp vốn phụ thuộc vào ý chí của cổ đông đó, với sự thỏa thuận với các cổ đông còn lại và được thể hiện bằng một quyết định hợp pháp của công ty. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về thời hạn góp vốn, thời hạn được xác định khi công ty yêu cầu cổ đông thực hiện việc góp vốn.
Đối với việc xác lập tư cách cổ đông thông qua hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, pháp luật cần có quy định thời điểm xác lập tư cách cổ đông sau khi hợp đồng đã được giao kết có hiệu lực và đã được thực hiện trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về giao kết và thực hiện hợp đồng được quy định trong BLDS. Pháp luật hiện nay xác định tư cách cổ đông từ thời điểm công ty phải ghi tên người nhận vào sổ đăng ký cổ đông vô tình đã tạo kẽ hở cho những giao dịch không thiện chí.
Hoàn thiện các quy định về quyền khởi kiện
Quyền khởi kiện là một trong những quyền cơ bản của cổ đông và được ghi nhận trong pháp luật công ty của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Pháp luật doanh nghiệp nước ta cũng có quy định cụ thể quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) tại Điều 151 và quyền khởi kiện đối với NQLCT tại Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2020.
Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp trong công ty cổ phần (CTCP) tại Tòa án, quyền khởi kiện của cổ đông cần tiếp tục được nghiên cứu và thiết kế cho phù hợp, tương thích giữa pháp luật doanh nghiệp, tố tụng dân sự và thực tiễn giải quyết tranh chấp.
Bổ sung các quy định về nghĩa vụ cẩn trọng, trung thành của NQLCT
Điều 165 Luật Doanh nghiệp quy định về trách nhiệm của NQLCT. Trường hợp vi phạm các quy định về trách nhiệm của NQLCT thì họ có thể bị công ty khởi kiện hoặc cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông nhân danh công ty khởi kiện bằng Tòa án. Tuy nhiên, vấn đề vướng mắc trong thực tiễn là nghĩa vụ cẩn trọng, trung thành của NQLCT đến nay vẫn chưa có bất kỳ quy định hoặc hướng dẫn nào.
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, đa số các yêu cầu khởi kiện đối với nghĩa vụ cẩn trọng, trung thành của NQLCT thường khiến các Tòa án rất “ngại” và đưa ra nhiều lý do để người khởi kiện tự nguyện rút đơn. Nhiều yêu cầu mang “dáng dấp” của vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng, trung thành nhưng được thể hiện dưới dạng yêu cầu bồi thường thiệt hại. Chẳng hạn như yêu cầu phản tố của Công ty ô tô 3/2 Đăklăk buộc ông Luyến bồi thường thiệt hại cho công ty trong thời gian ông giữ chức Tổng giám đốc công ty trong vụ Tranh chấp giữa cổ đông ông Bùi Quốc Luyến và Công ty cổ phần ô tô 3/2 Đăklăk về việc yêu cầu công ty thanh toán hợp đồng vay tiền giữa ông và công ty là yêu cầu liên quan đến nghĩa vụ cẩn trọng của NQLCT.
Theo: Nguyễn Hữu Hưng
Link luận văn: tại đây