0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c692bb6fd7c-Kiểm soát chất-lượng-hàng hóa nhập-khẩu.jpg.webp

Kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu

3.2.2. Kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu

Đối với kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới, hệ thống pháp luật đã cơ bản hoàn thiện như Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản hướng dẫn cơ bản giữa các Bộ ngành đã có sự đồng bộ và công tác phối hợp được quan tâm trong thực hiện pháp luật quản lý chất lượng sản phẩm. Những quy chuẩn, tiêu chuẩn đặt ra đã có sự tương thích, hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế. Mặt khác, nhà nước đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động thực thi trách nhiệm khi cam kết đối với chất lượng sản phẩm của mình đối với xã hội, thông qua hệ thống quản lý tiên tiến ISO; cải tiến chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mặt hàng; tạo lòng tin, uy tín thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Có thể nói, pháp luật hải quan đã cơ bản quy định phù hợp với quy chuẩn và thông lệ quốc tế, lực lượng kiểm soát đã có nghiệp vụ, trình độ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền kiểm soát. Quá trình kiểm soát nội dung này các cơ quan kiểm soát chuyên ngành về chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới đã thể hiện vai trò xác định, kiểm định chất lượng hàng hóa chính xác, nhanh chóng, công khai và minh bạch tạo niềm tin và sự công bằng cho doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, việc phát hiện sai phạm về chất lượng hàng hóa gặp nhiều khó khăn khi doanh nghiệp cố ý không trung thực, lợi dụng sự bất cập của pháp luật và kiểm soát của cán bộ quản lý. Những hành vi vi phạm về chất lượng hàng hóa như nhập khẩu hàng hóa có thương hiệu, giá trị cao nhưng lại khai báo hàng hóa từ các thương hiệu có giá trị thấp để lợi dụng chính sách thuế của nhà nước. Ví dụ nhưkhai báo hàng hoá có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng thực tế hàng hoá có xuất xứ từ Nhật, Mỹ. Điều này gây cản trở và bất cập khi quản lý chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.

Thứ nhất, chồng chéo về thẩm quyềnkiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.

Thống kê từ Tổng cục Đo lường chất lượng cho thấy, về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn thực hiện Luật về chất lượng hàng hóa, Luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản hướng dẫn, Bộ Quản lý Khoa học ban hành 50 văn bản, các Bộ Quản lý Chất lượng khác ban hành đến 220 văn bản. Về hệ thống tiêu chuẩn, có đến 9.500 bộ tiêu chuẩn Việt Nam, trong đó có 47% tiêu chuẩn Việt Nam đạt mức độ hài hòa tiêu chuẩn quốc tế. Còn với hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, có 650 quy chuẩn Việt Nam và 6 quy chuẩn địa phương[94].

Tuy nhiên, cùng với những lợi ích mang lại, việc quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật do các bộ ngành ban hành; nhiều hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn chất lượng của trung ương và địa phương đưa ra đang khiến doanh nghiệp như lạc vào “ma trận” về chất lượng hàng hóa. Theo đó, hiện đang có sự chồng chéo thẩm quyền quản lý giữa các bộ ngành với nhau và giữa bộ ngành với các đơn vị được chỉ định đánh giá sự phù hợp. Điều này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phải thực hiện đánh giá hai lần, gây lãng phí xã hội rất lớn.

Thứ hai, về quy định thời gian kiểm định chất lượng hàng hóa còn kéo dài

Trong quá trình giám sát việc tuân thủ pháp luật, đối với doanh nghiệp, thời gian kiểm định gây trở ngại lớn đối trong quá trình kinh doanh, do thủ tục kiểm tra phải qua quá nhiều bước. Thông thường thời gian kiểm tra theo quy định chỉ trong vòng 7 - 15 ngày nhưng thời gian áp dụng thực tế dài hơn. Ông Đinh Công Khương, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Dịch vụ Thép Khương Mai, cho biết: “Tính trung bình chi phí kiểm định 20.000đồng/tấn thép, nên với tổng lượng hàng hóa nhập khẩu khoảng3 - 4 triệu tấn/năm thì tổng chi phí kiểm tra, kiểm định chất lượng rất lớn. Trong khi doanh nghiệp nhập hàng về bị giữ ở kho, qua thời gian dài, giá cả thị trường biến động và thay đổi sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh và bị lỗ” 

Thứ ba, tỷ lệ hàng hóa bị kiểm tra chuyên ngành vẫn cao ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu, gây bất cập về thời gian thông quan, tác động xấu đến tâm lý doanh nghiệp,l àm kìm hãm sự hiện đại hóa hải quan. Đối với quy định về quản lý nhà nước, tại Nghị định 19/2016/NQ-CP, Điểm đ, Khoản 1, Mục II yêu cầu cải cách các quy định về quản lý chuyên ngành ,các cơ quan chức năng liên quan phải giảm tỷ lệ lô hàng nhập khẩu bị kiểm tra chuyên ngành tại giai đoạn thông quan từ 30% - 35% xuống còn 15%. Thế nhưng, theo Thạch Huê [99] chỉ ra rằng, sau gần 2 năm triển khai, thống kê của hải quan cho thấy, tỷ lệ lô hàng nhập khẩu bị kiểm tra chuyên ngành tại giai đoạn thông quan vẫn tồn tại 30%.

Đặc biệt, với danh mục sản phẩm, hàng hóa nhóm hai, hàng hóa hạn chế nhập khẩu, còn thiếu cụ thể và quá rộng, đã tạo điều kiện tồn tại tình trạng xin - cho giữa doanh nghiệp với các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Một số lĩnh vực hàng hóa chưa có quy định xử lý, hoạt động chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp của các bộ ngành còn chưa thống nhất. Điều này khiến những tổ chức đánh giá chất lượng sản phẩm không thể đáp ứng năng lực, trang thiết bị theo yêu cầu của từng đơn vị quản lý, gây lãng phí rất lớn cho hoạt động đầu tư.

Ở Hoa Kỳ, mọi hàng hoá nhập khẩu đều phải làm thủ tục Hải quan trừ các lô hàng có trị giá dưới 200 USD. Những lô hàng có trị giá dưới 1250 USD được coi là nhỏ và thủ tục hải quan đòi hỏi đơn giản hơn nhiều so với các lô hàng lớn, đơn giản chỉ cần vận đơn, hoá đơn và bản kê đóng gói hàng hoá. Nếu trị giá hàng hoá trên 1250 USD thì phải làm thủ tục hải quan chính thức. Thông thường nhà nhập khẩu Hoa Kỳ sử dụng môi giới Hải quan để làm thủ tục này. Họ có thể khai báo qua hệ thống ABI (Automated Broker Interface) sau đó môi giới hải quan làm tiếp các thủ tục còn lại. Ngoài thủ tục với Hải quan, người nhập khẩu còn phải làm thủ tục với các cơ quan khác tuỳ theo từng loại hàng hoá. Ví dụ, các mặt hàng chịu sự kiểm soát của cơ quan Quản lý thực phẩm và thuốc bệnh (FDA), cần phải liên hệ với đại diện FDA gần nhất; Hoặc các mặt hàng như rượu, thuốc lá, vũ khí, sản phẩm động vật hoang dã (lông, da, ..), ô tô, và các hàng hoá do các cơ quan chuyên ngành liên bang quản lý [102].

Theo: Trần Viết Long 

Link luận án:  Tại đây

 

avatar
Dang thu quynh
869 ngày trước
Kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu
3.2.2. Kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩuĐối với kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới, hệ thống pháp luật đã cơ bản hoàn thiện như Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản hướng dẫn cơ bản giữa các Bộ ngành đã có sự đồng bộ và công tác phối hợp được quan tâm trong thực hiện pháp luật quản lý chất lượng sản phẩm. Những quy chuẩn, tiêu chuẩn đặt ra đã có sự tương thích, hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế. Mặt khác, nhà nước đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động thực thi trách nhiệm khi cam kết đối với chất lượng sản phẩm của mình đối với xã hội, thông qua hệ thống quản lý tiên tiến ISO; cải tiến chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mặt hàng; tạo lòng tin, uy tín thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Có thể nói, pháp luật hải quan đã cơ bản quy định phù hợp với quy chuẩn và thông lệ quốc tế, lực lượng kiểm soát đã có nghiệp vụ, trình độ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền kiểm soát. Quá trình kiểm soát nội dung này các cơ quan kiểm soát chuyên ngành về chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới đã thể hiện vai trò xác định, kiểm định chất lượng hàng hóa chính xác, nhanh chóng, công khai và minh bạch tạo niềm tin và sự công bằng cho doanh nghiệp.Thực tế cho thấy, việc phát hiện sai phạm về chất lượng hàng hóa gặp nhiều khó khăn khi doanh nghiệp cố ý không trung thực, lợi dụng sự bất cập của pháp luật và kiểm soát của cán bộ quản lý. Những hành vi vi phạm về chất lượng hàng hóa như nhập khẩu hàng hóa có thương hiệu, giá trị cao nhưng lại khai báo hàng hóa từ các thương hiệu có giá trị thấp để lợi dụng chính sách thuế của nhà nước. Ví dụ nhưkhai báo hàng hoá có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng thực tế hàng hoá có xuất xứ từ Nhật, Mỹ. Điều này gây cản trở và bất cập khi quản lý chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.Thứ nhất, chồng chéo về thẩm quyềnkiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.Thống kê từ Tổng cục Đo lường chất lượng cho thấy, về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn thực hiện Luật về chất lượng hàng hóa, Luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản hướng dẫn, Bộ Quản lý Khoa học ban hành 50 văn bản, các Bộ Quản lý Chất lượng khác ban hành đến 220 văn bản. Về hệ thống tiêu chuẩn, có đến 9.500 bộ tiêu chuẩn Việt Nam, trong đó có 47% tiêu chuẩn Việt Nam đạt mức độ hài hòa tiêu chuẩn quốc tế. Còn với hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, có 650 quy chuẩn Việt Nam và 6 quy chuẩn địa phương[94].Tuy nhiên, cùng với những lợi ích mang lại, việc quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật do các bộ ngành ban hành; nhiều hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn chất lượng của trung ương và địa phương đưa ra đang khiến doanh nghiệp như lạc vào “ma trận” về chất lượng hàng hóa. Theo đó, hiện đang có sự chồng chéo thẩm quyền quản lý giữa các bộ ngành với nhau và giữa bộ ngành với các đơn vị được chỉ định đánh giá sự phù hợp. Điều này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phải thực hiện đánh giá hai lần, gây lãng phí xã hội rất lớn.Thứ hai, về quy định thời gian kiểm định chất lượng hàng hóa còn kéo dàiTrong quá trình giám sát việc tuân thủ pháp luật, đối với doanh nghiệp, thời gian kiểm định gây trở ngại lớn đối trong quá trình kinh doanh, do thủ tục kiểm tra phải qua quá nhiều bước. Thông thường thời gian kiểm tra theo quy định chỉ trong vòng 7 - 15 ngày nhưng thời gian áp dụng thực tế dài hơn. Ông Đinh Công Khương, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Dịch vụ Thép Khương Mai, cho biết: “Tính trung bình chi phí kiểm định 20.000đồng/tấn thép, nên với tổng lượng hàng hóa nhập khẩu khoảng3 - 4 triệu tấn/năm thì tổng chi phí kiểm tra, kiểm định chất lượng rất lớn. Trong khi doanh nghiệp nhập hàng về bị giữ ở kho, qua thời gian dài, giá cả thị trường biến động và thay đổi sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh và bị lỗ” Thứ ba, tỷ lệ hàng hóa bị kiểm tra chuyên ngành vẫn cao ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu, gây bất cập về thời gian thông quan, tác động xấu đến tâm lý doanh nghiệp,l àm kìm hãm sự hiện đại hóa hải quan. Đối với quy định về quản lý nhà nước, tại Nghị định 19/2016/NQ-CP, Điểm đ, Khoản 1, Mục II yêu cầu cải cách các quy định về quản lý chuyên ngành ,các cơ quan chức năng liên quan phải giảm tỷ lệ lô hàng nhập khẩu bị kiểm tra chuyên ngành tại giai đoạn thông quan từ 30% - 35% xuống còn 15%. Thế nhưng, theo Thạch Huê [99] chỉ ra rằng, sau gần 2 năm triển khai, thống kê của hải quan cho thấy, tỷ lệ lô hàng nhập khẩu bị kiểm tra chuyên ngành tại giai đoạn thông quan vẫn tồn tại 30%.Đặc biệt, với danh mục sản phẩm, hàng hóa nhóm hai, hàng hóa hạn chế nhập khẩu, còn thiếu cụ thể và quá rộng, đã tạo điều kiện tồn tại tình trạng xin - cho giữa doanh nghiệp với các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Một số lĩnh vực hàng hóa chưa có quy định xử lý, hoạt động chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp của các bộ ngành còn chưa thống nhất. Điều này khiến những tổ chức đánh giá chất lượng sản phẩm không thể đáp ứng năng lực, trang thiết bị theo yêu cầu của từng đơn vị quản lý, gây lãng phí rất lớn cho hoạt động đầu tư.Ở Hoa Kỳ, mọi hàng hoá nhập khẩu đều phải làm thủ tục Hải quan trừ các lô hàng có trị giá dưới 200 USD. Những lô hàng có trị giá dưới 1250 USD được coi là nhỏ và thủ tục hải quan đòi hỏi đơn giản hơn nhiều so với các lô hàng lớn, đơn giản chỉ cần vận đơn, hoá đơn và bản kê đóng gói hàng hoá. Nếu trị giá hàng hoá trên 1250 USD thì phải làm thủ tục hải quan chính thức. Thông thường nhà nhập khẩu Hoa Kỳ sử dụng môi giới Hải quan để làm thủ tục này. Họ có thể khai báo qua hệ thống ABI (Automated Broker Interface) sau đó môi giới hải quan làm tiếp các thủ tục còn lại. Ngoài thủ tục với Hải quan, người nhập khẩu còn phải làm thủ tục với các cơ quan khác tuỳ theo từng loại hàng hoá. Ví dụ, các mặt hàng chịu sự kiểm soát của cơ quan Quản lý thực phẩm và thuốc bệnh (FDA), cần phải liên hệ với đại diện FDA gần nhất; Hoặc các mặt hàng như rượu, thuốc lá, vũ khí, sản phẩm động vật hoang dã (lông, da, ..), ô tô, và các hàng hoá do các cơ quan chuyên ngành liên bang quản lý [102].Theo: Trần Viết Long Link luận án:  Tại đây