0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c698b5251cc-Nâng-cao-hiệu-quả-kiểm-soát-chất-lượng-hàng-hóa.jpg.webp

Nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng hàng hóa

4.2.3.2. Nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng hàng hóa

Thứ nhất, đẩy mạnh kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu

Các cơ quan quản lý nhà nước cần thiết lập một hệ thống rà soát, đánh giá thông tin một cách thường xuyên về tác động của các loại hàng hóa nhập khẩu vi phạm về chất lượng, tăng cường hoạt động kiểm định về chất lượng. Phân luồng, nhận diện, giám sát đặc biệt đối với các sản phẩm hàng hóa nhập khẩu có nguy cơ vi phạm chất lượng cao như mỹ phẩm, dược phẩm, hàng nông sản, thực phẩm chức năng, máy móc thiết bị, công nghệ cũ, các loại sản phẩm hàng hóa sử dụng công nghệ mới như sản phẩm biến đổi gen, vật liệu mới... và sản phẩm có ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe cộng đồng được nhập khẩu vào Việt Nam để từ đó có những quy định phù hợp và kịp thời trong công tác quản lý nhập khẩu qua biên giới.

Thứ hai, nghiên cứu hợp nhất các văn bản pháp luật trong việc kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập qua biên giới để tránh sự chồng chéo về quy định và nhiệm vụ thực tiễn. Cần thực hiện tốt vai trò kiểm tra chuyên ngành thuộc thẩm quyền theo Luật chất lượng sản phẩm.

Theo đó, trong các văn bản pháp luật quy định về kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu cần phải được phân tích những tác động và hiệu quả từ các cơ quan có thẩm quyền về kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu; Tăng cường thiết lập hệ thống công nhận kết quả kiểm tra của các cơ quan có chứng năng. Về lâu dài, nên có hướng cho phép các doanh nghiệp tư nhân thực hiện kiểm định chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo yêu cầu của cơ quan hải quan khi xác định có dấu hiệu vi phạm. Quy định này thúc đẩy việc công bố kết quả giám định nhanh chóng, giảm tải công việc của cơ quan hải quan, cơ quan quản lý chuyên ngành, tạo sự minh bạch đối với việc kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.

Thứ ba, ban hành quy trình thủ tục tiếp nhận và công bố hợp quy đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giới

Để tháo gỡ rào cản cản trở sự phát triển của doanh nghiệp, quy định quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, nhất thiết phải đơn giản hóa thủ tục tiếp nhận, công bố hợp quy đối với hàng hóa xuất khẩu. Trong đó, các cơ quan chức năng không thực hiện yêu cầu tiếp nhận công bố hợp quy đối với hàng hóa chưa có quy chuẩn quốc gia. Các tổ chức đánh giá sự phù hợp trong nước cần được hướng dẫn, chủ động thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ chức nước ngoài đối với sản phẩm; hàng hóa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cao hơn Việt Nam…

Thứ tư, tăng cường áp dụng các quy định về quản lý rủi ro trong kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu.

Để đáp ứng việc hàng hóa được lưu thông một cách thuận tiện qua biên giới, hàng hóa cần được áp dụng phương pháp kiểm soát hiện đại. Vì vậy, nhà nước cần áp dụng phương pháp quản lý rủi ro tích cực. Doanh nghiệp sẽ được đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật để được áp dụng mức độ quản lý, kiểm soát phù hợp; tăng cường khâu hậu kiểm hơn tiền kiểm. Quy trình quản lý, kiểm tra chuyên ngành, danh mục hàng hóa phải kiểm tra và chi phí kiểm tra cần được minh bạch hóa. Đặc biệt, phải tính đến yếu tố công nhận chất lượng của những nhãn hiệu, nhà sản xuất nổi tiếng, hàng hóa được sản xuất tại các nước, khu vực có tiêu chuẩn chất lượng cao, tiên tiến.

Thứ năm, cần tiến hành thoả thuận quốc tế về “thừa nhận lẫn nhau” đối với kiểm soát chất lượng hàng hóa

Hiện nay, các nước phát triển có xu hướng đàm phán ký kết hiệp định song phương hoặc đa phương đồng ý công nhận phương pháp kiểm nghiệm và quy trình đánh giá sự hợp chuẩn của một bên khác (còn gọi là Hiệp định thừa nhận lẫn nhau- MRA). Ví dụ như Mỹ và Liên minh châu Âu gần đây đã kết thúc đàm phán hai hiệp định như vậy. Hiệp định thứ nhất áp dụng cho các sản phẩm công nghiệp và các lĩnh vực như thiết bị viễn thông, tương thích điện từ, an toàn điện, thiết bị giải trí, sản xuất, mua bán thuốc và các thiết bị y tế. Hiệp định thứ hai gồm các sản phẩm nông nghiệp như thịt đỏ, sản phẩm sữa, trứng, các sản phẩm cá và vật nuôi. Các hiệp định này, cả hai bên đồng ý dựa vào các giấy chứng nhận được nước xuất khẩu cấp chứ không cần giám định lại sản phẩm khi nhập khẩu. Dự kiến các hiệp định này sẽ làm giảm đáng kể thời gian giao hàng và tiết kiệm hàng tỷ đô la chi phí giám định tại nước nhập khẩu. Theo xu hướng đó, một số nước đang phát triển cũng đã tiến hành thoả thuận song phương với các đối tác thương mại chính, một nước nhập khẩu có thể theo các hiệp định song phương đồng ý cho phép nhập khẩu các sản phẩm như thịt, hoa quả, rau và các nông sản khác trên cơ sở chứng nhận do các nhà chức trách quản lý ở nước xuất khẩu cấp [102]. Ở Việt Nam, cần nghiên cứu có lộ trình tham gia, thực hiện các điều ước có lợi nêu trên, hoặc ghi nhận các quy định tiến bộ, phù hợp. Tuy nhiên cần đánh giá sự phù hợp và tương thích pháp luật hiệu quả một cách có hệ thống đảm bảo hiệu quả thiết thực nhất.

Theo: Trần Viết Long 

Link luận án:  Tại đây

 

 

avatar
Dang thu quynh
869 ngày trước
Nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng hàng hóa
4.2.3.2. Nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng hàng hóaThứ nhất, đẩy mạnh kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩuCác cơ quan quản lý nhà nước cần thiết lập một hệ thống rà soát, đánh giá thông tin một cách thường xuyên về tác động của các loại hàng hóa nhập khẩu vi phạm về chất lượng, tăng cường hoạt động kiểm định về chất lượng. Phân luồng, nhận diện, giám sát đặc biệt đối với các sản phẩm hàng hóa nhập khẩu có nguy cơ vi phạm chất lượng cao như mỹ phẩm, dược phẩm, hàng nông sản, thực phẩm chức năng, máy móc thiết bị, công nghệ cũ, các loại sản phẩm hàng hóa sử dụng công nghệ mới như sản phẩm biến đổi gen, vật liệu mới... và sản phẩm có ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe cộng đồng được nhập khẩu vào Việt Nam để từ đó có những quy định phù hợp và kịp thời trong công tác quản lý nhập khẩu qua biên giới.Thứ hai, nghiên cứu hợp nhất các văn bản pháp luật trong việc kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập qua biên giới để tránh sự chồng chéo về quy định và nhiệm vụ thực tiễn. Cần thực hiện tốt vai trò kiểm tra chuyên ngành thuộc thẩm quyền theo Luật chất lượng sản phẩm.Theo đó, trong các văn bản pháp luật quy định về kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu cần phải được phân tích những tác động và hiệu quả từ các cơ quan có thẩm quyền về kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu; Tăng cường thiết lập hệ thống công nhận kết quả kiểm tra của các cơ quan có chứng năng. Về lâu dài, nên có hướng cho phép các doanh nghiệp tư nhân thực hiện kiểm định chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo yêu cầu của cơ quan hải quan khi xác định có dấu hiệu vi phạm. Quy định này thúc đẩy việc công bố kết quả giám định nhanh chóng, giảm tải công việc của cơ quan hải quan, cơ quan quản lý chuyên ngành, tạo sự minh bạch đối với việc kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới.Thứ ba, ban hành quy trình thủ tục tiếp nhận và công bố hợp quy đối với hàng hóa nhập khẩu qua biên giớiĐể tháo gỡ rào cản cản trở sự phát triển của doanh nghiệp, quy định quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, nhất thiết phải đơn giản hóa thủ tục tiếp nhận, công bố hợp quy đối với hàng hóa xuất khẩu. Trong đó, các cơ quan chức năng không thực hiện yêu cầu tiếp nhận công bố hợp quy đối với hàng hóa chưa có quy chuẩn quốc gia. Các tổ chức đánh giá sự phù hợp trong nước cần được hướng dẫn, chủ động thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp của tổ chức nước ngoài đối với sản phẩm; hàng hóa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cao hơn Việt Nam…Thứ tư, tăng cường áp dụng các quy định về quản lý rủi ro trong kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu.Để đáp ứng việc hàng hóa được lưu thông một cách thuận tiện qua biên giới, hàng hóa cần được áp dụng phương pháp kiểm soát hiện đại. Vì vậy, nhà nước cần áp dụng phương pháp quản lý rủi ro tích cực. Doanh nghiệp sẽ được đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật để được áp dụng mức độ quản lý, kiểm soát phù hợp; tăng cường khâu hậu kiểm hơn tiền kiểm. Quy trình quản lý, kiểm tra chuyên ngành, danh mục hàng hóa phải kiểm tra và chi phí kiểm tra cần được minh bạch hóa. Đặc biệt, phải tính đến yếu tố công nhận chất lượng của những nhãn hiệu, nhà sản xuất nổi tiếng, hàng hóa được sản xuất tại các nước, khu vực có tiêu chuẩn chất lượng cao, tiên tiến.Thứ năm, cần tiến hành thoả thuận quốc tế về “thừa nhận lẫn nhau” đối với kiểm soát chất lượng hàng hóaHiện nay, các nước phát triển có xu hướng đàm phán ký kết hiệp định song phương hoặc đa phương đồng ý công nhận phương pháp kiểm nghiệm và quy trình đánh giá sự hợp chuẩn của một bên khác (còn gọi là Hiệp định thừa nhận lẫn nhau- MRA). Ví dụ như Mỹ và Liên minh châu Âu gần đây đã kết thúc đàm phán hai hiệp định như vậy. Hiệp định thứ nhất áp dụng cho các sản phẩm công nghiệp và các lĩnh vực như thiết bị viễn thông, tương thích điện từ, an toàn điện, thiết bị giải trí, sản xuất, mua bán thuốc và các thiết bị y tế. Hiệp định thứ hai gồm các sản phẩm nông nghiệp như thịt đỏ, sản phẩm sữa, trứng, các sản phẩm cá và vật nuôi. Các hiệp định này, cả hai bên đồng ý dựa vào các giấy chứng nhận được nước xuất khẩu cấp chứ không cần giám định lại sản phẩm khi nhập khẩu. Dự kiến các hiệp định này sẽ làm giảm đáng kể thời gian giao hàng và tiết kiệm hàng tỷ đô la chi phí giám định tại nước nhập khẩu. Theo xu hướng đó, một số nước đang phát triển cũng đã tiến hành thoả thuận song phương với các đối tác thương mại chính, một nước nhập khẩu có thể theo các hiệp định song phương đồng ý cho phép nhập khẩu các sản phẩm như thịt, hoa quả, rau và các nông sản khác trên cơ sở chứng nhận do các nhà chức trách quản lý ở nước xuất khẩu cấp [102]. Ở Việt Nam, cần nghiên cứu có lộ trình tham gia, thực hiện các điều ước có lợi nêu trên, hoặc ghi nhận các quy định tiến bộ, phù hợp. Tuy nhiên cần đánh giá sự phù hợp và tương thích pháp luật hiệu quả một cách có hệ thống đảm bảo hiệu quả thiết thực nhất.Theo: Trần Viết Long Link luận án:  Tại đây