0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c738c2086a8-Pháp-luật-bảo-vệ-quyền-của-người-lao-động-làm-việc-tại-doanh-nghiệp-có-vốn-đầu-tư-nước-ngoài.jpg.webp

Pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

2.2. Pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

2.2.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

2.2.1.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trong quan hệ lao động, bảo vệ quyền của người lao động là một vấn đề quan trọng, cốt lõi trong việc duy trì, phát triển quan hệ này. Hiệu quả của việc bảo vệ quyền của người lao động chính là mức độ, nội dung các quyền của người lao động như: quyền việc làm, quyền được đảm bảo thu nhập và đời sống... được thực thi trên thực tế. Mức độ, nội dung của các quyền của người lao động được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện. Trên bình diện quốc tế, pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động được quy định trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (UDHR) từ điều 23 đến điều 27 và được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa xã hội (ICESCR) năm 1966 từ điều 6 đến điều 8. Kể từ khi UDHR và ICESCR được Đại hội đồng liên hợp quốc thông qua, đã có thêm nhiều quy định quốc tế và khu vực về vấn đề quyền con người trong lao động. Quyền lao động cũng được quy định ở Điều 8, khoản 3 (a), Điều 22 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; Điều 5, khoản (e) (i) Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Điều 1, khoản 1 (a) Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Điều 32 Công ước về quyền trẻ em; các điều 11,25,26,40,52 và 54 Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của những người lao động nhập cư và các thành viên gia đình họ; các Công ước quốc tế của Tổ chức lao động thế giới bao gồm: công ước số 97 và Công ước 143 về lao động di cư, Công ước 98 về quyền tổ chức và thỏa ước lao động tập thể và các thỏa ước liên quan, Công ước số 148 về “Bảo vệ người lao động chống những rủi ro nghề nghiệp do ô nhiễm không khí, ồn và rung tại nơi làm việc”... Theo các Công ước quốc tế này, pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ, bảo đảm các quyền của người lao động liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động được thực hiện trên thực tế, bao gồm các quyền: việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng.

Trong phạm vi mỗi quốc gia trên thế giới, vấn đề bảo vệ quyền của người lao động được quy định trong hiến pháp và cụ thể hóa trong các đạo luật, các chế định pháp luật như: Luật lao động, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản... Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, pháp luật bảo vệ quyền của người lao động bao gồm các quy phạm có nội dung ngăn ngừa sự xâm hại các quyền của người lao động và các quy định về cơ chế bảo vệ quyền của người lao động.

Ở Việt Nam, pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN được ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong văn bản luật khác nhau như: Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản, Bộ luật lao động, Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự, Luật hình sự...

Từ những phân tích nêu trên, khái niệm về pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN có thể hiểu là hệ thống các quy định pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình phòng ngừa và bảo vệ, bảo đảm các quyền của người lao động trong quan hệ lao động với người sử dụng lao động tại DNCVĐTNN được thực hiện trên thực tế.

Như đã phân tích ở trên, việc bảo vệ quyền của người lao động bao gồm việc phòng ngừa và đảm bảo các quyền đó được thực hiện trên thực tế. Vì vậy, pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN gồm có các quy định có nội dung ngăn ngừa sự xâm hại các quyền của người lao động và các quy định về cơ chế bảo vệ quyền của người lao động nhằm đảm bảo các quyền đó thực hiện trên thực tế.

Các quy định có nội dung phòng ngừa sự xâm phạm các quyền của người lao động được thể hiện trong các điều luật cụ thể bảo vệ từng quyền của người lao động như: bảo vệ quyền lao động, bảo vệ quyền được đảm bảo thu nhập và đời sống, bảo vệ quyền nhân thân, bảo vệ quyền công đoàn và quyền an sinh xã hội.

Pháp luật quy định các cơ chế bảo vệ quyền của người lao gồm các quy định về nội dung, nguyên tắc vận hành của các cơ chế bảo vệ quyền của người lao động. Do tính đa dạng và phong phú của quyền con người trong lĩnh vực lao động nên cơ chế bảo vệ quyền của người lao động theo quy định của pháp luật các quốc gia cũng rất đa dạng. Nhìn chung, đa số các quốc gia đều quy định cơ chế bảo vệ quyền của người lao động được thực hiện thông qua cơ quan chức năng nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội và cơ chế bảo vệ quyền của người lao động thông qua các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, hội nghề nghiệp, các hiệp hội kinh tế...

Theo: Trần Nguyên Cường

Link luận án:  Tại đây

avatar
Dang thu quynh
865 ngày trước
Pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
2.2. Pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài2.2.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài2.2.1.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiTrong quan hệ lao động, bảo vệ quyền của người lao động là một vấn đề quan trọng, cốt lõi trong việc duy trì, phát triển quan hệ này. Hiệu quả của việc bảo vệ quyền của người lao động chính là mức độ, nội dung các quyền của người lao động như: quyền việc làm, quyền được đảm bảo thu nhập và đời sống... được thực thi trên thực tế. Mức độ, nội dung của các quyền của người lao động được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện. Trên bình diện quốc tế, pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động được quy định trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (UDHR) từ điều 23 đến điều 27 và được quy định trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa xã hội (ICESCR) năm 1966 từ điều 6 đến điều 8. Kể từ khi UDHR và ICESCR được Đại hội đồng liên hợp quốc thông qua, đã có thêm nhiều quy định quốc tế và khu vực về vấn đề quyền con người trong lao động. Quyền lao động cũng được quy định ở Điều 8, khoản 3 (a), Điều 22 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; Điều 5, khoản (e) (i) Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Điều 1, khoản 1 (a) Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Điều 32 Công ước về quyền trẻ em; các điều 11,25,26,40,52 và 54 Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của những người lao động nhập cư và các thành viên gia đình họ; các Công ước quốc tế của Tổ chức lao động thế giới bao gồm: công ước số 97 và Công ước 143 về lao động di cư, Công ước 98 về quyền tổ chức và thỏa ước lao động tập thể và các thỏa ước liên quan, Công ước số 148 về “Bảo vệ người lao động chống những rủi ro nghề nghiệp do ô nhiễm không khí, ồn và rung tại nơi làm việc”... Theo các Công ước quốc tế này, pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ, bảo đảm các quyền của người lao động liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động được thực hiện trên thực tế, bao gồm các quyền: việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng.Trong phạm vi mỗi quốc gia trên thế giới, vấn đề bảo vệ quyền của người lao động được quy định trong hiến pháp và cụ thể hóa trong các đạo luật, các chế định pháp luật như: Luật lao động, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản... Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, pháp luật bảo vệ quyền của người lao động bao gồm các quy phạm có nội dung ngăn ngừa sự xâm hại các quyền của người lao động và các quy định về cơ chế bảo vệ quyền của người lao động.Ở Việt Nam, pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN được ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong văn bản luật khác nhau như: Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật phá sản, Bộ luật lao động, Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự, Luật hình sự...Từ những phân tích nêu trên, khái niệm về pháp luật bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN có thể hiểu là hệ thống các quy định pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình phòng ngừa và bảo vệ, bảo đảm các quyền của người lao động trong quan hệ lao động với người sử dụng lao động tại DNCVĐTNN được thực hiện trên thực tế.Như đã phân tích ở trên, việc bảo vệ quyền của người lao động bao gồm việc phòng ngừa và đảm bảo các quyền đó được thực hiện trên thực tế. Vì vậy, pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại DNCVĐTNN gồm có các quy định có nội dung ngăn ngừa sự xâm hại các quyền của người lao động và các quy định về cơ chế bảo vệ quyền của người lao động nhằm đảm bảo các quyền đó thực hiện trên thực tế.Các quy định có nội dung phòng ngừa sự xâm phạm các quyền của người lao động được thể hiện trong các điều luật cụ thể bảo vệ từng quyền của người lao động như: bảo vệ quyền lao động, bảo vệ quyền được đảm bảo thu nhập và đời sống, bảo vệ quyền nhân thân, bảo vệ quyền công đoàn và quyền an sinh xã hội.Pháp luật quy định các cơ chế bảo vệ quyền của người lao gồm các quy định về nội dung, nguyên tắc vận hành của các cơ chế bảo vệ quyền của người lao động. Do tính đa dạng và phong phú của quyền con người trong lĩnh vực lao động nên cơ chế bảo vệ quyền của người lao động theo quy định của pháp luật các quốc gia cũng rất đa dạng. Nhìn chung, đa số các quốc gia đều quy định cơ chế bảo vệ quyền của người lao động được thực hiện thông qua cơ quan chức năng nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội và cơ chế bảo vệ quyền của người lao động thông qua các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, hội nghề nghiệp, các hiệp hội kinh tế...Theo: Trần Nguyên CườngLink luận án:  Tại đây