0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c75db77b7d5-Giải-pháp-hoàn-thiện-pháp-luật-Việt-Nam-về-bảo-vệ-quyền-của-người-lao-động-làm-việc-tại-doanh-nghiệp-có-vốn-đầu-tư-nước-ngoài.jpg.webp

Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

4.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Một là, về các quy định bảo vệ quyền lao động của người lao động

Như trên đã phân tích, pháp luật đã có các quy định chặt chẽ để bảo vệ quyền của người lao động thực hiện đúng công việc như đã thỏa thuận, thống nhất với người sử dụng lao động. Tuy vậy, vẫn còn một số hạn chế trong các quy định pháp luật làm ảnh hưởng đến tính khả thi của chính các quy định pháp luật đó.

Việc quy định cho các DNCVĐTNN thực hiện dự án đầu tư đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì được hưởng các ưu đãi như: áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp... nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi DNCVĐTNN hoạt động, mở rộng đầu tư, phát triển kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Như đã phân tích ở mục 3.1.1, giữa Điều 15 và khoản 2 Điều 17 của Luật đầu tư chưa thống nhất trong việc xác định đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư nói trên. Trên thực tế, chính sách ưu đãi này là dành cho doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư, chứ không phải dành cho các nhà đầu tư. Vì vậy, để tạo điều kiện cho việc giải thích, áp dụng quy định pháp luật vào thực tế, cần thiết sửa đổi cụm từ “nhà đầu tư” thành “doanh nghiệp” tại khoản 2 Điều 17 Luật đầu tư.

Nhằm tạo điều kiện cho hoạt động quản lý Nhà nước về đầu tư, pháp luật quy định, nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện thủ tục đăng ký và đăng ký thay đổi cổ đông, thay đổi thành viên tổ chức kinh tế khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế. Như trên đã phân tích, Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp cùng có quy định về vấn đề này rất có thể dẫn đến việc trùng lặp về nội dung giữa các quy định. Vì vậy, để giảm bớt các thủ tục, tránh sự trùng nhau giữa các quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động đầu tư kinh doanh, cần thiết thống nhất việc quy định vấn đề trên vào trong một luật. Có thể thấy rằng, hoạt động góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài là hoạt động liên quan việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp. Do vậy, cần thiết sửa đổi, bổ sung khoản 3, Điều 26 Luật đầu tư nội dung như sau: “Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục đăng ký và đăng ký thay đổi cổ đông, thay đổi thành viên tổ chức kinh tế khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế theo quy định của Luật doanh nghiệp”.

Pháp luật quy định xử phạt người sử dụng lao động có hành vi giao kết hợp đồng lao động không đúng loại, không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản (Điều 22 BLLĐ 2012 và Điều 5 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013). Trên thực tế, việc vi phạm các quy định về giao kết hợp đồng lao động vẫn xảy ra. Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, theo tôi quy định này nên bổ sung theo hướng như sau: “Người sử dụng lao động phải khắc phục ngay hành vi vi phạm và nếu tiếp tục tái phạm thì phải chịu mức phạt gấp hai lần”.

Với quy định hình thức xử lý vi phạm như trên, người sử dụng lao động sẽ cân nhắc, e dè trước khi thực hiện hành vi vi phạm các quy định pháp luật về giao kết hợp đồng lao động.

Như đã phân tích ở mục 3.1.1, Điều 31 Bộ luật lao động năm 2012 có nội dung còn chung chung và tạo ra sự không thống nhất trong việc hiểu và áp dụng quy định này trên thực tế. Vì thế, để khắc phục hạn chế trên, việc bổ sung Điều 31 theo hướng như sau là cần thiết:

a) Việc điều chuyển lao động do nhu cầu sản xuất, kinh doanh chỉ được thực hiện trong các trường hợp sau đây :

Doanh nghiệp phải gấp rút hoàn thành hợp đồng đã ký kết với khách hàng, nhằm đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất, kinh doanh của năm đã được thông qua từ đầu năm.

Kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp sụt giảm rõ rệt, cần tăng cường nhân sự cho một đơn vị nào đó thuộc doanh nghiệp trong thời gian ngắn hạn để đẩy mạnh hoạt động, tăng doanh số của doanh nghiệp.

b) Người sử dụng lao động phải chi trả cho người lao động tiền lương và các phúc lợi tương đương với công việc đã cam kết trong hợp đồng lao động”.

Theo phân tích ở mục 3.1.1, Điều 42 của Bộ luật lao động năm 2012 mới chỉ quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc cho người lao động có thời gian làm việc từ 12 tháng trở lên bị chấm dứt hợp đồng trái pháp luật nhưng họ không muốn tiếp tục làm việc nữa, còn những người lao động có thời gian làm việc dưới 12 tháng thì không có quy định trợ cấp thôi việc. Điều luật này chưa hợp lý ở chỗ, người lao động có thời gian làm việc nhiều hay ít nhưng đều là nạn nhân của quyết định trái pháp luật của người sử dụng lao động và họ đều gặp khó khăn trong thời gian bị mất việc làm. Vì vậy, để hạn chế người sử dụng lao động vi phạm quy định về hợp đồng lao động, đồng thời bảo vệ quyền việc làm của người lao động, hỗ trợ một phần kinh phí cho người lao động trong thời gian tìm kiếm công việc mới, khoản 2 Điều 42 nên sửa đổi, bổ sung theo hướng sau: “Trường hợp người lao động (bao gồm người lao động có thời gian làm việc dưới 12 tháng) không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này”.

Điều 49 Bộ luật lao động năm 2012 quy định trợ cấp mất việc làm cho người lao động trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ, thay đổi chủ sở hữu, tư cách doanh nghiệp. Người lao động được hưởng trợ cấp trong trường hợp này là những người lao động có thời gian làm việc thường xuyên, từ 12 tháng trở lên cho người sử dụng lao động, còn với người lao động làm việc dưới 12 tháng thì không có quy định trợ cấp mất việc làm. Đây là một sự thiệt thòi cho người lao động, người sử dụng lao động có thể lợi dụng quy định này để cho những người lao động chưa làm việc đủ 12 tháng thôi việc mà không bị bất cứ một hạn chế nào. Trong trường hợp này, để tạo điều kiện cho người lao động tìm kiếm công việc mới, theo tôi nên bổ sung khoản 1 Điều 49 Bộ luật lao động năm 2012 theo hướng sau: Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất cũng phải bằng 02 tháng tiền lương.

Đối với lao động nữ, pháp luật quy định những ưu tiên nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện tốt thiên chức làm mẹ, chăm sóc gia đình và để họ được bình đẳng với nam giới trong tuyển dụng, lao động. Song có thể thấy rằng, về thiên bẩm, đa số lao động nữ không có sức lực bằng lao động nam giới và lại phải chi phối bởi các công việc gia đình, do đó nhiều doanh nghiệp không thích tuyển dụng lao động nữ trong đơn vị của mình. Vì vậy, để các quy định ưu tiên với lao động nữ được thực thi đầy đủ trên thực tế nên bổ sung quy định nhằm khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động nữ như sau: “Doanh nghiệp có số lao động nữ từ 50% tổng số lao động của đơn vị trở lên sẽ được giảm thuế thu nhập từ 3-5%”.

Việc quy định giảm thuế thu nhập doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa động viên người sử dụng lao động nhận lao động nữ vào làm việc mà còn giúp giảm bớt chi phí sử dụng lao động nữ. Việc sử dụng lao động nữ với chi phí thấp hơn lại đem hiệu quả lao động như lao động nam giới sẽ là động lực để người sử dụng lao động tuyển dụng lao động nữ vào làm việc trong đơn vị mình.

Theo: Trần Nguyên Cường

Link luận án:  Tại đây

avatar
Dang thu quynh
869 ngày trước
Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài4.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàiMột là, về các quy định bảo vệ quyền lao động của người lao độngNhư trên đã phân tích, pháp luật đã có các quy định chặt chẽ để bảo vệ quyền của người lao động thực hiện đúng công việc như đã thỏa thuận, thống nhất với người sử dụng lao động. Tuy vậy, vẫn còn một số hạn chế trong các quy định pháp luật làm ảnh hưởng đến tính khả thi của chính các quy định pháp luật đó.Việc quy định cho các DNCVĐTNN thực hiện dự án đầu tư đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì được hưởng các ưu đãi như: áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp... nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi DNCVĐTNN hoạt động, mở rộng đầu tư, phát triển kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Như đã phân tích ở mục 3.1.1, giữa Điều 15 và khoản 2 Điều 17 của Luật đầu tư chưa thống nhất trong việc xác định đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư nói trên. Trên thực tế, chính sách ưu đãi này là dành cho doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư, chứ không phải dành cho các nhà đầu tư. Vì vậy, để tạo điều kiện cho việc giải thích, áp dụng quy định pháp luật vào thực tế, cần thiết sửa đổi cụm từ “nhà đầu tư” thành “doanh nghiệp” tại khoản 2 Điều 17 Luật đầu tư.Nhằm tạo điều kiện cho hoạt động quản lý Nhà nước về đầu tư, pháp luật quy định, nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện thủ tục đăng ký và đăng ký thay đổi cổ đông, thay đổi thành viên tổ chức kinh tế khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế. Như trên đã phân tích, Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp cùng có quy định về vấn đề này rất có thể dẫn đến việc trùng lặp về nội dung giữa các quy định. Vì vậy, để giảm bớt các thủ tục, tránh sự trùng nhau giữa các quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động đầu tư kinh doanh, cần thiết thống nhất việc quy định vấn đề trên vào trong một luật. Có thể thấy rằng, hoạt động góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài là hoạt động liên quan việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại doanh nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp. Do vậy, cần thiết sửa đổi, bổ sung khoản 3, Điều 26 Luật đầu tư nội dung như sau: “Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục đăng ký và đăng ký thay đổi cổ đông, thay đổi thành viên tổ chức kinh tế khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế theo quy định của Luật doanh nghiệp”.Pháp luật quy định xử phạt người sử dụng lao động có hành vi giao kết hợp đồng lao động không đúng loại, không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản (Điều 22 BLLĐ 2012 và Điều 5 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013). Trên thực tế, việc vi phạm các quy định về giao kết hợp đồng lao động vẫn xảy ra. Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, theo tôi quy định này nên bổ sung theo hướng như sau: “Người sử dụng lao động phải khắc phục ngay hành vi vi phạm và nếu tiếp tục tái phạm thì phải chịu mức phạt gấp hai lần”.Với quy định hình thức xử lý vi phạm như trên, người sử dụng lao động sẽ cân nhắc, e dè trước khi thực hiện hành vi vi phạm các quy định pháp luật về giao kết hợp đồng lao động.Như đã phân tích ở mục 3.1.1, Điều 31 Bộ luật lao động năm 2012 có nội dung còn chung chung và tạo ra sự không thống nhất trong việc hiểu và áp dụng quy định này trên thực tế. Vì thế, để khắc phục hạn chế trên, việc bổ sung Điều 31 theo hướng như sau là cần thiết:“a) Việc điều chuyển lao động do nhu cầu sản xuất, kinh doanh chỉ được thực hiện trong các trường hợp sau đây :Doanh nghiệp phải gấp rút hoàn thành hợp đồng đã ký kết với khách hàng, nhằm đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất, kinh doanh của năm đã được thông qua từ đầu năm.Kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp sụt giảm rõ rệt, cần tăng cường nhân sự cho một đơn vị nào đó thuộc doanh nghiệp trong thời gian ngắn hạn để đẩy mạnh hoạt động, tăng doanh số của doanh nghiệp.b) Người sử dụng lao động phải chi trả cho người lao động tiền lương và các phúc lợi tương đương với công việc đã cam kết trong hợp đồng lao động”.Theo phân tích ở mục 3.1.1, Điều 42 của Bộ luật lao động năm 2012 mới chỉ quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc cho người lao động có thời gian làm việc từ 12 tháng trở lên bị chấm dứt hợp đồng trái pháp luật nhưng họ không muốn tiếp tục làm việc nữa, còn những người lao động có thời gian làm việc dưới 12 tháng thì không có quy định trợ cấp thôi việc. Điều luật này chưa hợp lý ở chỗ, người lao động có thời gian làm việc nhiều hay ít nhưng đều là nạn nhân của quyết định trái pháp luật của người sử dụng lao động và họ đều gặp khó khăn trong thời gian bị mất việc làm. Vì vậy, để hạn chế người sử dụng lao động vi phạm quy định về hợp đồng lao động, đồng thời bảo vệ quyền việc làm của người lao động, hỗ trợ một phần kinh phí cho người lao động trong thời gian tìm kiếm công việc mới, khoản 2 Điều 42 nên sửa đổi, bổ sung theo hướng sau: “Trường hợp người lao động (bao gồm người lao động có thời gian làm việc dưới 12 tháng) không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này”.Điều 49 Bộ luật lao động năm 2012 quy định trợ cấp mất việc làm cho người lao động trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ, thay đổi chủ sở hữu, tư cách doanh nghiệp. Người lao động được hưởng trợ cấp trong trường hợp này là những người lao động có thời gian làm việc thường xuyên, từ 12 tháng trở lên cho người sử dụng lao động, còn với người lao động làm việc dưới 12 tháng thì không có quy định trợ cấp mất việc làm. Đây là một sự thiệt thòi cho người lao động, người sử dụng lao động có thể lợi dụng quy định này để cho những người lao động chưa làm việc đủ 12 tháng thôi việc mà không bị bất cứ một hạn chế nào. Trong trường hợp này, để tạo điều kiện cho người lao động tìm kiếm công việc mới, theo tôi nên bổ sung khoản 1 Điều 49 Bộ luật lao động năm 2012 theo hướng sau: Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất cũng phải bằng 02 tháng tiền lương.Đối với lao động nữ, pháp luật quy định những ưu tiên nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện tốt thiên chức làm mẹ, chăm sóc gia đình và để họ được bình đẳng với nam giới trong tuyển dụng, lao động. Song có thể thấy rằng, về thiên bẩm, đa số lao động nữ không có sức lực bằng lao động nam giới và lại phải chi phối bởi các công việc gia đình, do đó nhiều doanh nghiệp không thích tuyển dụng lao động nữ trong đơn vị của mình. Vì vậy, để các quy định ưu tiên với lao động nữ được thực thi đầy đủ trên thực tế nên bổ sung quy định nhằm khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động nữ như sau: “Doanh nghiệp có số lao động nữ từ 50% tổng số lao động của đơn vị trở lên sẽ được giảm thuế thu nhập từ 3-5%”.Việc quy định giảm thuế thu nhập doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa động viên người sử dụng lao động nhận lao động nữ vào làm việc mà còn giúp giảm bớt chi phí sử dụng lao động nữ. Việc sử dụng lao động nữ với chi phí thấp hơn lại đem hiệu quả lao động như lao động nam giới sẽ là động lực để người sử dụng lao động tuyển dụng lao động nữ vào làm việc trong đơn vị mình.Theo: Trần Nguyên CườngLink luận án:  Tại đây