0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c88256bd600-photo-1589216532372-1c2a367900d9.jpg.webp

Khái quát về thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

2.1. Khái quát về thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

2.1.1. Khái niệm thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Trong đời sống con người, nhu cầu thông tin là một nhu cầu rất cơ bản. Nhu cầu đó không ngừng tăng lên cùng với sự gia tăng các mối quan hệ trong xã hội. Sự quan tâm đến hiện tượng thông tin gia tăng đột biến vào thế kỷ XX và ngày nay chúng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành chuyên môn, trong đó có triết học, vật lý, sinh học, ngôn ngữ học, thông tin học và tin học, kỹ thuật điện tử và truyền thông, khoa học quản lý và nhiều ngành khoa học xã hội. Về phương diện thương mại, công nghiệp dịch vụ, thông tin đã trở thành một nền công nghiệp mới mẻ mang tính toàn cầu. Ngày nay, hầu như không một ngành công nghiệp, sản xuất và dịch vụ nào lại không quan tâm đến thông tin. Những quan điểm và hiện tượng khác nhau của lĩnh vực này đã dẫn đến những khái niệm và định nghĩa khác nhau về thông tin. Vậy thông tin là gì?

Theo Từ điển Tiếng Việt, “thông tin là điều hoặc tin được truyền đi cho biết sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó.”

Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh.

Trong lĩnh vực tin học, thông tin là tập hợp các dữ liệu sau khi được xử lý cho ta những hiểu biết về một vấn đề nào đó. Thông tin là những dữ liệu có thể làm thay đổi tình trạng kiến thức của một người (những gì mà người đó biết) và đại diện vật chất cho những gì trừu tượng có thể tạo ra được sự thay đổi này.

Dưới góc độ kinh tế, thông tin được hiểu là tin tức, nội dung thông tin phải hàm chứa giá trị nhất định, đặc biệt phải thể hiện tính mới hoặc có tính tri thức.

Như vậy, mỗi lĩnh vực khác nhau thì có định nghĩa khác nhau về thông tin. Các khái niệm, quan điểm về thông tin rất đa dạng tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu.

Trong lĩnh vực HĐNH, chủ thể cung ứng sản phẩm dịch vụ cho khách hàng là các TCTD - đó là doanh nghiệp kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Chủ thể còn lại là khách hàng - bên còn lại trong quan hệ dân sự, thương mại với tư cách là người mua sản phẩm, dịch vụ từ TCTD. Để thực hiện việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ của mình, đồng thời thực hiện việc kiểm soát các giao dịch thì TCTD cần phải biết thông tin khách hàng. Vậy thông tin khách hàng trong HĐNH của TCTD là gì?

Thông tin khách hàng trong HĐNH là những thông tin mà các TCTD có được thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình. Tuy nhiên, thông tin ấy cụ thể gồm những gì thì được quy định không giống nhau ở từng nước. Việc xác định và ghi nhận khái niệm thông tin khách hàng của các TCTD có thể khái quát thành hai nhóm:

Một là, thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp liệt kê.

Ở những quốc gia thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp này thì thường liệt kê cụ thể tất cả các thông tin liên quan đến các giao dịch được thực hiện giữa TCTD với khách hàng. Chẳng hạn, theo Luật Ngân hàng của Singapore năm 1970, được sửa đổi, bổ sung năm 2018, thông tin khách hàng là: “a) thông tin liên quan đến hoặc bất kỳ thông tin nào về tài khoản của khách hàng, cho dù tài khoản đó là khoản vay, đầu tư hoặc bất kỳ loại giao dịch nào khác, nhưng không bao gồm thông tin không thể tham chiếu đến khách hàng hoặc nhóm khách hàng được định danh; hoặc b) “thông tin tiền gửi”, - thông tin tiền gửi là thông tin liên quan đến i) bất kỳ khoản tiền gửi nào của khách hàng, ii) các quỹ của khách hàng do ngân hàng quản lý; hoặc là c) két an toàn hoặc bất kỳ thỏa thuận lưu ký an toàn được thực hiện bởi một khách hàng với ngân hàng, nhưng cũng không bao gồm thông tin không được đề cập đến bất kỳ khách hàng hoặc nhóm khách hàng định danh nào”.15

Như vậy, theo quy định của Luật Ngân hàng Singapore, thông tin khách hàng là thông tin mà phải xác định được danh tính của khách hàng, những thông tin không thể xác định được danh tính của khách hàng không được coi là thông tin khách hàng. Ví dụ: thông tin về tài khoản, tiền gửi được trao đổi thông qua các cuộc trò chuyện điện thoại với khách hàng mà chỉ xác định là A, B hoặc C thì không bị coi là thông tin khách hàng.

Hoặc theo quy định của Luật Ngân hàng và công ty ủy thác Bahamas năm 2000, được sửa đổi bổ sung năm 2010,16 thông tin khách hàng là “thông tin liên quan đến danh tính, tài sản, nợ, giao dịch hoặc tài khoản của khách hàng hoặc bất kỳ thông tin nào trong hồ sơ yêu cầu của khách hàng tiềm năng”. Như vậy, theo quy định của pháp luật Bahamas, thông tin khách hàng trong HĐNH mặc dù được liệt kê nhưng nội hàm thông

Hai là, thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp loại trừ.

Tại một số quốc gia, khái niệm “thông tin khách hàng” của TCTD được ghi nhận thông qua phương pháp loại trừ thì thường ghi nhận tất cả các thông tin liên quan trong quá trình giao dịch của khách hàng với các TCTD và loại trừ những thông tin khách hàng đã công bố rộng rãi hoặc được nhiều người biết đến. Chẳng hạn Thụy Sĩ, theo quy định của luật pháp nước này thì các ngân hàng bị ràng buộc về mặt pháp lý để giữ bí mật liên quan đến những giao dịch với khách hàng cũng như bất kỳ thông tin nào có được từ các giao dịch đó.17 Có thể thấy, theo pháp luật Thụy Sĩ, thông tin khách hàng được quy định rất rộng gồm bất cứ thông tin phát sinh trong mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng.

Như vậy, mặc dù có sự khác nhau về cách thức ghi nhận, nhưng có thể thấy rằng, hầu hết các quốc gia đều thống nhất thông tin khách hàng trong HĐNH không chỉ là các thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi và các giao dịch khác của khách hàng mà còn bất kỳ thông tin nào trong hồ sơ yêu cầu của khách hàng.

Ở Việt Nam, thông tin khách hàng không được ghi nhận trong Luật các TCTD năm 2010, tuy nhiên theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 của Chính phủ về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Nghị định số 117/2018/NĐ-CP) thì:

Thông tin khách hàng của TCTD, CNNHNNg (sau đây gọi là thông tin khách hàng) là thông tin do khách hàng cung cấp, thông tin phát sinh trong quá trình khách hàng đề nghị hoặc được TCTD, CNNHNNg cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng, sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động được phép, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: thông tin về tài khoản, thông tin về tiền gửi, thông tin về tài sản gửi, thông tin về giao dịch, thông tin về tổ chức, cá nhân là bên bảo đảm tại TCTD, CNNHNNg và các thông tin có liên quan khác.”

Như vậy, thông tin khách hàng là những thông tin mà các TCTD có được thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình, có thể gồm những thông tin sau: thông tin thuộc về lý lịch của cá nhân, tổ chức; các thông tin cá biệt hóa cá nhân, tổ chức (tên, tuổi, chứng minh thư, hộ chiếu, địa chỉ, điện thoại, email…; tên gọi tổ chức, trụ sở của tổ chức, thông tin về cơ cấu tổ chức...); thông tin về ngành nghề hiện tại của khách hàng; thông tin liên quan đến tiền gửi, tài sản gửi của khách hàng; thông tin liên quan đến khách hàng trong hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán...

Nếu trước đây, Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng đã không hướng dẫn một cách rõ ràng, cụ thể các thông tin khách hàng thì hiện nay, Nghị định số 117/2018/NĐ-CP đã hướng dẫn rất chi tiết về thông tin khách hàng tại Điều 3. Theo đó, thông tin định danh khách hàng là thông tin sau đây: “Đối với khách hàng cá nhân: họ và tên, mẫu chữ ký, chữ ký điện tử, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, nghề nghiệp, địa chỉ nơi đăng ký thường trú, nơi ở hiện tại, địa chỉ nơi đăng ký cư trú ở nước ngoài đối với người nước ngoài, số điện thoại, địa chỉ thư điện tử, số, ngày cấp, nơi cấp chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu (thông tin về thị thực đối với khách hàng cá nhân là người nước ngoài) của khách hàng hoặc của người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền (gọi chung là người đại diện hợp pháp)

và các thông tin có liên quan khác;

Đối với khách hàng là tổ chức: tên giao dịch đầy đủ, tên viết tắt, giấy phép hoặc quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc văn bản tương đương; địa chỉ đặt trụ sở chính, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử và thông tin quy định tại điểm a khoản này của người đại diện hợp pháp và các thông tin có liên quan khác”.

Thông tin về tài khoản của khách hàng là “thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: tên tài khoản, số hiệu tài khoản, số dư tài khoản, thông tin liên quan đến giao dịch nộp tiền, rút tiền, chuyển tiền, nhận tiền của khách hàng và các thông tin có liên quan khác”.

Thông tin về tiền gửi của khách hàng là “thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: thông tin liên quan đến giao dịch gửi tiền của khách hàng, số dư các loại tiền gửi theo quy định của pháp luật của khách hàng tại TCTD, CNNHNNg và các thông tin có liên quan khác”.

Thông tin về tài sản gửi của khách hàng là “thông tin về tài sản của khách hàng

(vật, tiền, giấy tờ có giá, các quyền tài sản) gửi tại TCTD, CNNHNNg, thông tin về tài sản của khách hàng do TCTD, CNNHNNg nhận quản lý, bảo quản theo quy định của pháp luật, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: tên loại tài sản, giá trị tài sản, chứng từ chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hoặc lợi ích hợp pháp đối với tài sản của khách hàng và các thông tin có liên quan khác”.

Thông tin về giao dịch của khách hàng là “thông tin phát sinh từ các giao dịch của khách hàng với TCTD, CNNHNNg, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: chứng từ giao dịch, thời điểm giao dịch, số lượng giao dịch, giá trị giao dịch, số dư giao dịch và các thông tin có liên quan khác”.

Như vậy, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận khái niệm thông tin khách hàng khá cụ thể và theo phương pháp liệt kê. Theo đó, thông tin khách hàng là những thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi và các giao dịch của khách hàng. Đồng thời pháp luật Việt Nam cũng đã có những quy định cụ thể hơn về thông tin khách hàng. Đó không chỉ là thông tin được hình thành khi thiết lập hợp đồng mà còn là những thông tin được hình thành trong quá trình khách hàng đề nghị TCTD cung ứng các sản phẩm, dịch vụ. Điều này có nghĩa là, theo quy định của pháp luật Việt Nam, thông tin khách hàng còn bao gồm cả những thông tin của các khách hàng tiềm năng của các TCTD. Việc quy định như vậy có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ niềm tin của khách hàng cũng như xác định phạm vi, giới hạn, trách nhiệm của TCTD sau này.

Cùng với xu thế phát triển công nghệ thông tin, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, một khái niệm được sử dụng khá phổ biến và có mối liên hệ nhất định với thông tin khách hàng đó là dữ liệu cá nhân. Có thể hiểu dữ liệu cá nhân là các dữ liệu về một cá nhân mà qua đó có thể xác định được danh tính của người đó.

Dưới góc độ pháp lý, luật pháp một số nước đã ghi nhận khái niệm này như sau: Theo Điều 4.1 Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu 2016 (General Data Protection Regulation

- GDPR), dữ liệu cá nhân là “bất kỳ thông tin nào liên quan đến một cá thể dữ liệu (“data subject”) đã được nhận định danh tính, hoặc có thể được nhận định danh tính, dù trực tiếp hay gián tiếp, cụ thể là bằng cách chỉ ra một định danh như tên, số định danh, dữ liệu vị trí, định danh trên mạng, hay một hoặc nhiều yếu tố chỉ định danh tính của một cá nhân mang tính vật lý, sinh lý, sinh thực, tâm lý, kinh tế, văn hoá, hoặc xã hội”.

Hay theo quy định của Điều 2.1 Luật Bảo vệ Dữ liệu cá nhân Singapore năm 2012, dữ liệu cá nhân là các dữ liệu, dù đúng hay sai, về một cá nhân mà có thể xác định được danh tính của họ từ các dữ liệu đó; hoặc từ các dữ liệu đó và các thông tin khác mà các tổ chức có hoặc có thể có quyền truy cập.

Như vậy, thông tin khách hàng và thông tin dữ liệu cá nhân có những điểm giao nhau dù mục đích điều chỉnh có sự khác nhau. Nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của ngân hàng tập trung vào việc giới hạn việc tiết lộ/ cung cấp thông tin khách hàng. Bởi bảo mật thông tin khách hàng là bảo đảm các thông tin biết được về khách hàng được an toàn, bí mật, ngăn chặn những người không có thẩm quyền tiếp cận thông tin của khách hàng để bảo đảm quyền được bảo mật thông tin của họ, bảo vệ niềm tin của khách hàng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nghĩa vụ này sẽ bị can thiệp bởi những người có thẩm quyền tương ứng.19 Do đó, pháp luật phải quy định giới hạn cụ thể để bảo vệ khách hàng. Còn các quy tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân thì rộng hơn và ảnh hưởng đến việc thu thập, lưu trữ và sử dụng dữ liệu cá nhân. Song, so với dữ liệu cá nhân, thông tin khách hàng trong HĐNH của các TCTD có những điểm khác biệt sau.

Theo: Nguyễn Thị Kim Thoa

Link luận án: Link

Lã Thị Ái Vi
256 ngày trước
Khái quát về thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng
2.1. Khái quát về thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng2.1.1. Khái niệm thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàngTrong đời sống con người, nhu cầu thông tin là một nhu cầu rất cơ bản. Nhu cầu đó không ngừng tăng lên cùng với sự gia tăng các mối quan hệ trong xã hội. Sự quan tâm đến hiện tượng thông tin gia tăng đột biến vào thế kỷ XX và ngày nay chúng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành chuyên môn, trong đó có triết học, vật lý, sinh học, ngôn ngữ học, thông tin học và tin học, kỹ thuật điện tử và truyền thông, khoa học quản lý và nhiều ngành khoa học xã hội. Về phương diện thương mại, công nghiệp dịch vụ, thông tin đã trở thành một nền công nghiệp mới mẻ mang tính toàn cầu. Ngày nay, hầu như không một ngành công nghiệp, sản xuất và dịch vụ nào lại không quan tâm đến thông tin. Những quan điểm và hiện tượng khác nhau của lĩnh vực này đã dẫn đến những khái niệm và định nghĩa khác nhau về thông tin. Vậy thông tin là gì?Theo Từ điển Tiếng Việt, “thông tin là điều hoặc tin được truyền đi cho biết sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó.”Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh.Trong lĩnh vực tin học, thông tin là tập hợp các dữ liệu sau khi được xử lý cho ta những hiểu biết về một vấn đề nào đó. Thông tin là những dữ liệu có thể làm thay đổi tình trạng kiến thức của một người (những gì mà người đó biết) và đại diện vật chất cho những gì trừu tượng có thể tạo ra được sự thay đổi này.Dưới góc độ kinh tế, thông tin được hiểu là tin tức, nội dung thông tin phải hàm chứa giá trị nhất định, đặc biệt phải thể hiện tính mới hoặc có tính tri thức.Như vậy, mỗi lĩnh vực khác nhau thì có định nghĩa khác nhau về thông tin. Các khái niệm, quan điểm về thông tin rất đa dạng tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu.Trong lĩnh vực HĐNH, chủ thể cung ứng sản phẩm dịch vụ cho khách hàng là các TCTD - đó là doanh nghiệp kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Chủ thể còn lại là khách hàng - bên còn lại trong quan hệ dân sự, thương mại với tư cách là người mua sản phẩm, dịch vụ từ TCTD. Để thực hiện việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ của mình, đồng thời thực hiện việc kiểm soát các giao dịch thì TCTD cần phải biết thông tin khách hàng. Vậy thông tin khách hàng trong HĐNH của TCTD là gì?Thông tin khách hàng trong HĐNH là những thông tin mà các TCTD có được thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình. Tuy nhiên, thông tin ấy cụ thể gồm những gì thì được quy định không giống nhau ở từng nước. Việc xác định và ghi nhận khái niệm thông tin khách hàng của các TCTD có thể khái quát thành hai nhóm:Một là, thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp liệt kê.Ở những quốc gia thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp này thì thường liệt kê cụ thể tất cả các thông tin liên quan đến các giao dịch được thực hiện giữa TCTD với khách hàng. Chẳng hạn, theo Luật Ngân hàng của Singapore năm 1970, được sửa đổi, bổ sung năm 2018, thông tin khách hàng là: “a) thông tin liên quan đến hoặc bất kỳ thông tin nào về tài khoản của khách hàng, cho dù tài khoản đó là khoản vay, đầu tư hoặc bất kỳ loại giao dịch nào khác, nhưng không bao gồm thông tin không thể tham chiếu đến khách hàng hoặc nhóm khách hàng được định danh; hoặc b) “thông tin tiền gửi”, - thông tin tiền gửi là thông tin liên quan đến i) bất kỳ khoản tiền gửi nào của khách hàng, ii) các quỹ của khách hàng do ngân hàng quản lý; hoặc là c) két an toàn hoặc bất kỳ thỏa thuận lưu ký an toàn được thực hiện bởi một khách hàng với ngân hàng, nhưng cũng không bao gồm thông tin không được đề cập đến bất kỳ khách hàng hoặc nhóm khách hàng định danh nào”.15Như vậy, theo quy định của Luật Ngân hàng Singapore, thông tin khách hàng là thông tin mà phải xác định được danh tính của khách hàng, những thông tin không thể xác định được danh tính của khách hàng không được coi là thông tin khách hàng. Ví dụ: thông tin về tài khoản, tiền gửi được trao đổi thông qua các cuộc trò chuyện điện thoại với khách hàng mà chỉ xác định là A, B hoặc C thì không bị coi là thông tin khách hàng.Hoặc theo quy định của Luật Ngân hàng và công ty ủy thác Bahamas năm 2000, được sửa đổi bổ sung năm 2010,16 thông tin khách hàng là “thông tin liên quan đến danh tính, tài sản, nợ, giao dịch hoặc tài khoản của khách hàng hoặc bất kỳ thông tin nào trong hồ sơ yêu cầu của khách hàng tiềm năng”. Như vậy, theo quy định của pháp luật Bahamas, thông tin khách hàng trong HĐNH mặc dù được liệt kê nhưng nội hàm thôngHai là, thông tin khách hàng được ghi nhận thông qua phương pháp loại trừ.Tại một số quốc gia, khái niệm “thông tin khách hàng” của TCTD được ghi nhận thông qua phương pháp loại trừ thì thường ghi nhận tất cả các thông tin liên quan trong quá trình giao dịch của khách hàng với các TCTD và loại trừ những thông tin khách hàng đã công bố rộng rãi hoặc được nhiều người biết đến. Chẳng hạn Thụy Sĩ, theo quy định của luật pháp nước này thì các ngân hàng bị ràng buộc về mặt pháp lý để giữ bí mật liên quan đến những giao dịch với khách hàng cũng như bất kỳ thông tin nào có được từ các giao dịch đó.17 Có thể thấy, theo pháp luật Thụy Sĩ, thông tin khách hàng được quy định rất rộng gồm bất cứ thông tin phát sinh trong mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng.Như vậy, mặc dù có sự khác nhau về cách thức ghi nhận, nhưng có thể thấy rằng, hầu hết các quốc gia đều thống nhất thông tin khách hàng trong HĐNH không chỉ là các thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi và các giao dịch khác của khách hàng mà còn bất kỳ thông tin nào trong hồ sơ yêu cầu của khách hàng.Ở Việt Nam, thông tin khách hàng không được ghi nhận trong Luật các TCTD năm 2010, tuy nhiên theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 của Chính phủ về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Nghị định số 117/2018/NĐ-CP) thì:“Thông tin khách hàng của TCTD, CNNHNNg (sau đây gọi là thông tin khách hàng) là thông tin do khách hàng cung cấp, thông tin phát sinh trong quá trình khách hàng đề nghị hoặc được TCTD, CNNHNNg cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng, sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động được phép, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: thông tin về tài khoản, thông tin về tiền gửi, thông tin về tài sản gửi, thông tin về giao dịch, thông tin về tổ chức, cá nhân là bên bảo đảm tại TCTD, CNNHNNg và các thông tin có liên quan khác.”Như vậy, thông tin khách hàng là những thông tin mà các TCTD có được thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình, có thể gồm những thông tin sau: thông tin thuộc về lý lịch của cá nhân, tổ chức; các thông tin cá biệt hóa cá nhân, tổ chức (tên, tuổi, chứng minh thư, hộ chiếu, địa chỉ, điện thoại, email…; tên gọi tổ chức, trụ sở của tổ chức, thông tin về cơ cấu tổ chức...); thông tin về ngành nghề hiện tại của khách hàng; thông tin liên quan đến tiền gửi, tài sản gửi của khách hàng; thông tin liên quan đến khách hàng trong hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán...Nếu trước đây, Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng đã không hướng dẫn một cách rõ ràng, cụ thể các thông tin khách hàng thì hiện nay, Nghị định số 117/2018/NĐ-CP đã hướng dẫn rất chi tiết về thông tin khách hàng tại Điều 3. Theo đó, thông tin định danh khách hàng là thông tin sau đây: “Đối với khách hàng cá nhân: họ và tên, mẫu chữ ký, chữ ký điện tử, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, nghề nghiệp, địa chỉ nơi đăng ký thường trú, nơi ở hiện tại, địa chỉ nơi đăng ký cư trú ở nước ngoài đối với người nước ngoài, số điện thoại, địa chỉ thư điện tử, số, ngày cấp, nơi cấp chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu (thông tin về thị thực đối với khách hàng cá nhân là người nước ngoài) của khách hàng hoặc của người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền (gọi chung là người đại diện hợp pháp)và các thông tin có liên quan khác;Đối với khách hàng là tổ chức: tên giao dịch đầy đủ, tên viết tắt, giấy phép hoặc quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc văn bản tương đương; địa chỉ đặt trụ sở chính, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử và thông tin quy định tại điểm a khoản này của người đại diện hợp pháp và các thông tin có liên quan khác”.Thông tin về tài khoản của khách hàng là “thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: tên tài khoản, số hiệu tài khoản, số dư tài khoản, thông tin liên quan đến giao dịch nộp tiền, rút tiền, chuyển tiền, nhận tiền của khách hàng và các thông tin có liên quan khác”.Thông tin về tiền gửi của khách hàng là “thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: thông tin liên quan đến giao dịch gửi tiền của khách hàng, số dư các loại tiền gửi theo quy định của pháp luật của khách hàng tại TCTD, CNNHNNg và các thông tin có liên quan khác”.Thông tin về tài sản gửi của khách hàng là “thông tin về tài sản của khách hàng(vật, tiền, giấy tờ có giá, các quyền tài sản) gửi tại TCTD, CNNHNNg, thông tin về tài sản của khách hàng do TCTD, CNNHNNg nhận quản lý, bảo quản theo quy định của pháp luật, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: tên loại tài sản, giá trị tài sản, chứng từ chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hoặc lợi ích hợp pháp đối với tài sản của khách hàng và các thông tin có liên quan khác”.Thông tin về giao dịch của khách hàng là “thông tin phát sinh từ các giao dịch của khách hàng với TCTD, CNNHNNg, bao gồm thông tin định danh khách hàng và thông tin sau đây: chứng từ giao dịch, thời điểm giao dịch, số lượng giao dịch, giá trị giao dịch, số dư giao dịch và các thông tin có liên quan khác”.Như vậy, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận khái niệm thông tin khách hàng khá cụ thể và theo phương pháp liệt kê. Theo đó, thông tin khách hàng là những thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi và các giao dịch của khách hàng. Đồng thời pháp luật Việt Nam cũng đã có những quy định cụ thể hơn về thông tin khách hàng. Đó không chỉ là thông tin được hình thành khi thiết lập hợp đồng mà còn là những thông tin được hình thành trong quá trình khách hàng đề nghị TCTD cung ứng các sản phẩm, dịch vụ. Điều này có nghĩa là, theo quy định của pháp luật Việt Nam, thông tin khách hàng còn bao gồm cả những thông tin của các khách hàng tiềm năng của các TCTD. Việc quy định như vậy có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ niềm tin của khách hàng cũng như xác định phạm vi, giới hạn, trách nhiệm của TCTD sau này.Cùng với xu thế phát triển công nghệ thông tin, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, một khái niệm được sử dụng khá phổ biến và có mối liên hệ nhất định với thông tin khách hàng đó là dữ liệu cá nhân. Có thể hiểu dữ liệu cá nhân là các dữ liệu về một cá nhân mà qua đó có thể xác định được danh tính của người đó.Dưới góc độ pháp lý, luật pháp một số nước đã ghi nhận khái niệm này như sau: Theo Điều 4.1 Luật Bảo vệ Dữ liệu châu Âu 2016 (General Data Protection Regulation- GDPR), dữ liệu cá nhân là “bất kỳ thông tin nào liên quan đến một cá thể dữ liệu (“data subject”) đã được nhận định danh tính, hoặc có thể được nhận định danh tính, dù trực tiếp hay gián tiếp, cụ thể là bằng cách chỉ ra một định danh như tên, số định danh, dữ liệu vị trí, định danh trên mạng, hay một hoặc nhiều yếu tố chỉ định danh tính của một cá nhân mang tính vật lý, sinh lý, sinh thực, tâm lý, kinh tế, văn hoá, hoặc xã hội”.Hay theo quy định của Điều 2.1 Luật Bảo vệ Dữ liệu cá nhân Singapore năm 2012, dữ liệu cá nhân là các dữ liệu, dù đúng hay sai, về một cá nhân mà có thể xác định được danh tính của họ từ các dữ liệu đó; hoặc từ các dữ liệu đó và các thông tin khác mà các tổ chức có hoặc có thể có quyền truy cập.Như vậy, thông tin khách hàng và thông tin dữ liệu cá nhân có những điểm giao nhau dù mục đích điều chỉnh có sự khác nhau. Nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của ngân hàng tập trung vào việc giới hạn việc tiết lộ/ cung cấp thông tin khách hàng. Bởi bảo mật thông tin khách hàng là bảo đảm các thông tin biết được về khách hàng được an toàn, bí mật, ngăn chặn những người không có thẩm quyền tiếp cận thông tin của khách hàng để bảo đảm quyền được bảo mật thông tin của họ, bảo vệ niềm tin của khách hàng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nghĩa vụ này sẽ bị can thiệp bởi những người có thẩm quyền tương ứng.19 Do đó, pháp luật phải quy định giới hạn cụ thể để bảo vệ khách hàng. Còn các quy tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân thì rộng hơn và ảnh hưởng đến việc thu thập, lưu trữ và sử dụng dữ liệu cá nhân. Song, so với dữ liệu cá nhân, thông tin khách hàng trong HĐNH của các TCTD có những điểm khác biệt sau.Theo: Nguyễn Thị Kim ThoaLink luận án: Link