Quản trị Doanh nghiệp
2.1.1. Về quản trị Doanh nghiệp
a) Khái niệm quản trị doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức, một tập hợp của nhiều cá nhân con người riêng lẻ kết hợp với nhau để hoạt động nhằm mục đích kinh doanh. Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2020, thì doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Thuật ngữ quản trị doanh nghiệp với nghĩa tương ứng “corporate governance” được công nhận rộng rãi, phổ biến trong nhiều tác phẩm kinh tế, luật học trên thế giới, có thể kể đến như: Bob Tricker , “Corporate Governance: Principles, Policies, and Practices” [79], Christine A.Mallin, “Corporate Governance” [81], Humera Khatab, Maryam Masood and et al (2011), Corporate Governance Firm Performance: a case study of Karachi
Stock Market [88], John Farrar , “Corporate Governance: Theories, Principles, and Practices” [91], Thomas Clarke “Theories of Corporate
Governce. The Philosophical Foundation of Corporate Governce” [95], Wong (2004) trong Improving Corporate Governance in SOEs: An
Intergrated Approach [97] v.v. Ở Việt Nam, thuật ngữ trên được biết đến nhiều nhất qua nội dung cuốn “The OECD Principles of Corporate
Governance” (1999, sửa đổi bổ sung 2004, 2010), khi được đề cập trong các nghiên cứu của OECD giúp Việt Nam xây dựng bộ nguyên tắc quản trị của doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần [37].
Như NCS đã khẳng định ở mục đối tượng nghiên cứu, luận án này sẽ theo sát vấn đề về quản trị doanh nghiệp theo nghĩa hẹp, hạn chế các yếu tố bên ngoài như môi trường xã hội, đối tác kinh doanh... Ngay việc theo đuổi nội dung của quản trị doanh nghiệp theo nghĩa hẹp thì các khái niệm của các nhà nghiên cứu đưa ra cũng rất phong phú, cụ thể là:
Luật Công ty của Vương quốc Anh (1985) đã xác định, quản trị công ty là một thiết chế pháp lý về mối quan hệ giữa cổ đông, các nhà quản lý và Kiểm soát viên. Luật Quản trị Công ty của Vương quốc Bỉ (2004) xác định ngay trong lời nói đầu của mình rằng, quản trị công ty là một tập hợp các quy tắc và cách xử sự mà theo đó công ty được quản lý và kiểm soát [76.tr203, 204].
Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa, quản trị công ty là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của công ty. Theo WB, đặc điểm cơ bản nhất của quản trị công ty là: (i) tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý, (ii) bảo đảm thực thi các quyền của tất cả các cổ đông, (iii) các thành viên của Hội đồng quản trị có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý, giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý, miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết [76.tr204].
Tương tự cách tiếp cận của WB, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) xác định, quản trị công ty bao gồm một hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa các cổ đông, các chức danh quản lý, các chủ nợ và những người có liên quan khác cũng như hệ thống các cơ chế đảm bảo thực hiện các quy định trên [76.tr204].
Đánh giá của Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) thì quản trị công ty là “những cơ cấu, những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty”, một nền quản trị công ty tốt sẽ mang lại những hiệu quả cơ bản sau: (i) thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh; (ii) nâng cao hiệu quả tiếp cận thị trường vốn; (iii) giảm chi phí vốn và (iv) nâng cao uy tín doanh nghiệp [115, tr6, tr17-tr21].
Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, Quản trị doanh nghiệp được công nhận là “cốt lõi” đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Theo đó, quản trị công ty được hiểu là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của chủ đầu tư và những người liên quan đến công ty [76,tr203].
Trên cơ sở quan điểm các tổ chức quốc tế có uy tín về quản trị doanh nghiệp, định nghĩa của OECD được công nhận như là một chuẩn mực chung nhất: "Quản trị công ty bao gồm việc thiết lập các mối quan hệ giữa cơ cấu quản lý công ty, hội đồng quản lý công ty, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác. Quản trị công ty cũng cung cấp cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của công ty được thực hiện và những biện pháp để đạt được những mục tiêu và khả năng giám sát là được xác định" [37]. Các nguyên tắc về quản trị doanh nghiệp của OECD cũng được công nhận rộng rãi trên thế giới và Việt Nam. Đây cũng là cơ sở để NCS soi chiếu đối với loại hình công ty TNHH trong nghiên cứu của mình (có phù hợp không? Phù hợp ở mức độ nào?).
Tại Việt Nam, tuy đã du nhập nhiều thập kỉ, nhưng qua rà soát nội dung Hiến pháp, Luật doanh nghiệp và các luật liên quan, thuật ngữ “quản trị doanh nghiệp” (corporate governance) chưa được công nhận như một thuật ngữ pháp lý chính thức và thống nhất về khái niệm (nội hàm và ngoại diên). Điều này đã tác động khiến chỉ số xếp hạng về quản trị doanh nghiệp tốt của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn khiêm tốn về số lượng và thứ hạng tại khu vực châu Á và ASEAN [77, tr96].
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ở Việt Nam các nhà nghiên cứu không đồng nhất về khái niệm quản trị doanh nghiệp mà có sự khác nhau là do phạm vi được nghiên cứu, đề cập đến. Theo nghĩa rộng (liên quan đến các vấn đề nội tại và yếu tố tác động bên ngoài), luật gia Nguyễn Ngọc Bích trong nghiên cứu của mình đã cho rằng, quản trị công ty là một tập hợp các cơ chế liên quan đến việc điều hành và kiểm soát công ty. Nó đề ra cách phân chia quyền hạn và nghĩa vụ giữa cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và những người có lợi ích liên quan khác như người lao động, nhà cung cấp. Và theo nghĩa hẹp (liên quan đến các quan hệ về điều hành-kiểm soát, chủ sở hữu, chủ nợ), tác giả Đinh Văn Ân cho rằng, quản trị công ty là cơ chế quản lý-giám sát của chủ sở hữu đối với người quản lý công ty theo những mục tiêu và định hướng của chủ sở hữu. Thậm chí, theo Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng, quản trị doanh nghiệp có thể chia theo nghĩa hẹp hơn nữa, tức là chỉ bao gồm hoạt động quản trị, là một trong bốn yếu tố của hoạt động tổ chức quản lý công ty, bao gồm: sở hữu, quản trị, điều hành và kiểm soát [41.tr299]. Như vậy, vấn đề quản trị công ty dù theo phạm vi rộng hay hẹp, dưới góc độ pháp lý đều không liên quan đến hoạt động tác nghiệp điều hành các công việc hàng ngày của công ty mà hướng đến xác định các quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể quản lý, giám sát công ty (cổ đông, HĐQT, giám đốc (Tổng giám đốc), Ban kiểm soát và chủ thể có liên quan...), cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện (xây dựng các nguyên tắc, thủ tục để ra quyết định về những vấn đề của công ty).
b) Đặc điểm của quản trị doanh nghiệp.
Những đặc điểm chung nhất về quản trị doanh nghiệp là:
Thứ nhất, Quản trị doanh nghiệp là một hệ thống các mối quan hệ được xác định bởi các cơ cấu và quy trình. Đó là mối quan hệ giữa ông chủ với người làm công, giữa người quản lý với người điều hành và mối quan hệ giữa chính công ty với cộng đồng xã hội. Điển hình cho mối quan hệ giữa chủ sở hữu với người làm công là thành viên với Ban Giám đốc điều hành công ty khi các thành viên cung cấp vốn cho công ty nhằm đầu tư thu về lợi nhuận và ngược lại Ban Giám đốc có trách nhiệm duy trì hoạt động kinh doanh hiệu quả mang lại lợi nhuận mong muốn cho các thành viên. Bên cạnh đó, thành viên còn có mối quan hệ với Hội đồng thành viên, Ban Kiểm soát khi họ bầu ra các cơ quan này để đại diện và duy trì bảo đảm quyền lợi cho họ. Hội đồng thành viên, Ban Kiểm soát định hướng chiến lược cho Ban Giám đốc và thực hiện việc giám sát hoạt động của Ban Giám đốc. Và tất nhiên, HĐTV, BKS có trách nhiệm với các thành viên trong việc duy trì sự phát triển bền vững của công ty. Trong quá trình hoạt động, bên cạnh các mối quan hệ nội bộ, công ty còn có các mối quan hệ tương tác với xã hội, cộng đồng và dân chúng. Đó là mối quan hệ giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng, giữa người cung cấp các sản phẩm dịch vụ với người có nhu cầu sử dụng, giữa con nợ với các chủ nợ; giữa một tổ chức với môi trường,... Các mối quan hệ này thường được thể hiện thành các quy chế, quy trình và tổng hòa các mối quan hệ này tạo thành Quản trị công ty.
Thứ hai, trong quản trị doanh nghiệp thì các mối quan hệ trong công ty liên quan đến các bên có lợi ích khác nhau, thậm chí xung đột lợi ích. Điển hình là giữa thành viên và Ban Giám đốc, đó là mối xung đột lợi ích giữa “nhóm tài chính công ty” và “nhóm điều hành công ty”. Một bên muốn kiểm soát hoạt động của nhóm điều hành để đảm bảo rằng lợi ích của họ không bị thất thoát bởi sự điều hành kém hiệu quả. Ngược lại, nhóm điều hành cho rằng chính sự kiểm soát đó sẽ cản trở/và gây ảnh hưởng tới việc ra các quyết định liên quan đến hoạt động của công ty. Sự xung đột này còn xuất hiện khi Ban Giám đốc ra các quyết định điều hành nhằm mục đích che dấu hoặc đạt được những mục đích lợi ích cá nhân hoặc một nhóm người nhưng gây phương hại đến lợi ích của công ty và các thành viên công ty.
Thứ ba, các bên trong mối quan hệ đều liên quan đến việc định hướng và kiểm soát công ty. Trong công ty, quyền kiểm soát công ty là một trong các phương tiện để bảo vệ được những lợi ích rất khác nhau trong công ty. Nếu thành viên, những người bỏ vốn đầu tư vào công ty nhưng không trực tiếp điều hành công ty thì việc muốn duy trì và tăng cường sự kiểm soát hoạt động của Ban Giám đốc đối với họ là một điều dễ hiểu. Trong khi đó, đối với Ban
Giám đốc, việc họ cần là được chủ động ra các quyết định điều hành công ty và việc dành quyền kiểm soát công ty để thực hiện những hành động nhằm thu lợi cho cá nhân.
Thứ tư, mục đích cuối cùng của các bên trong quản trị công ty là nhằm phân chia quyền lợi và trách nhiệm một cách phù hợp, qua đó làm gia tăng giá trị lâu dài của các thành viên. Công ty là một tổ chức gồm tập hợp nhiều thành phần với các lợi ích khác nhau. Vì vậy, mọi người trong công ty đều xác định trách nhiệm, bổn phận của mình trong mái nhà chung công ty. Do đó, cũng tương đồng với các tổ chức khác, các bên tham gia dù với những lợi ích khác nhau, hướng tới sự kiểm soát không đồng nhất thì cũng đều hướng tới mục đích cuối cùng là sự phân chia quyền lợi và trách nhiệm; và lẽ dĩ nhiên thực hiện mục tiêu chung của công ty là đảm bảo lợi nhuận cao nhất của công ty và thành viên công ty.
c) Các nguyên tắc về quản trị Doanh nghiệp
Các nhà làm luật Việt Nam đã đưa nội dung các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp cơ bản đồng nhất theo OECD. Báo cáo Thường niên VCCI 2016/2017: Chủ đề Quản trị công ty [77], và trong nghiên cứu tổng kết đề tài “Cải cách pháp luật về doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” (Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ), Hà Nội (2016) của Viện Nhà nước và Pháp luật do PGS.TS Bùi Nguyên Khánh là Chủ nhiệm đề tài [76], các nguyên tắc về quản trị công ty bao gồm 6 nội dung: (i) Đảm bảo cho việc quản trị công ty hiệu quả; (ii) Đảm bảo quyền lợi của cổ đông; (iii) Đối xử bình đẳng đối với cổ đông; (iv) Đảm bảo vai trò của các bên có quyền lợi liên quan; (v) Công bố thông tin minh bạch; (vi) Làm rõ trách nhiệm của Hội đồng quản trị. Trong từng nội dung, nhà nghiên cứu đã đưa ra những tiêu chí cụ thể để làm rõ vai trò của chủ đầu tư, chủ doanh nghiệp, chủ nợ, cổ đông và người có liên quan. Các tiêu chí đánh giá có ý nghĩa xếp hạng doanh nghiệp, nhằm giúp doanh nghiệp Việt xây dựng nền tảng, hình ảnh, thương hiệu và thu hút được sự quan tâm, đầu tư từ các phía đối tác trong và ngoài nước, vươn ra tầm khu vực và thế giới. Nhưng theo đuổi mục đích nghiên cứu của đề tài, lại đặt ra vấn đề cho tác giả là: những tiêu chuẩn trên chủ yếu phù hợp với loại hình doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần do quy mô lớn, tính chất xã hội của hai loại hình doanh nghiệp này. Cụ thể, dễ thấy nhất là yêu cầu cần thiết phải có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước và nhu cầu thu hút đầu tư của doanh nghiệp. Thực tế, trên thế giới và Việt Nam đều xây dựng cẩm nang về nguyên tắc quản trị doanh nghiệp cho công ty cổ phần và doanh nghiệp nhà nước [37] mà không xây dựng cho loại hình công ty TNHH. Vậy có phải là thiên cưỡng không khi áp dụng các nguyên tắc quản trị của OECD vào loại hình công ty TNHH vốn phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ?
Theo quan điểm của nghiên cứu sinh, thì các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD vốn chủ yếu dành cho loại hình công ty cổ phần và doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, cũng có thể nghiên cứu áp dụng nguyên tắc trên cho loại hình công ty TNHH nhưng không đúng hoàn toàn bởi mức độ kiểm soát, can thiệp của nhà nước ở đây sẽ ít hơn, theo hướng giao quyền tự quyết nhiều hơn cho doanh nghiệp, đồng nghĩa với các quy định pháp luật liên quan sẽ lỏng lẻo hơn.
Về phương diện Luật học, các nguyên tắc về quản trị doanh nghiệp nên được xem xét ở góc độ tác động chủ yếu của pháp luật về doanh nghiệp là “ghi nhận quyền thành lập, tổ chức quản lý doanh nghiệp và đảm bảo sự an toàn pháp lý trong đầu tư vốn cho các chủ thể tham gia vào doanh nghiệp” [76.tr28]. Cụ thể, các nguyên tắc về quản trị doanh nghiệp dưới góc độ luật học thể hiện ở các mặt sau: (i) đảm bảo quyền tự do kinh doanh; (ii) kiểm soát rủi ro và (iii) bảo vệ quyền của các chủ nợ.
- Thứ nhất, về nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh.
Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của con người. Theo đó, nhà đầu tư có quyền thành lập doanh nghiệp, việc tổ chức, quản lý nội bộ doanh nghiệp phải trước hết và chủ yếu do chủ sở hữu doanh nghiệp quyết định. Pháp luật vừa mang tính bắt buộc vừa mang tính tùy nghi để thiết lập nên “khung pháp lý” cho hoạt động của doanh nghiệp.
Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp được quy định thống nhất trong Hiến pháp và các đạo luật. Cụ thể như: Điều 33 Hiến pháp 2013 “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”; khoản 4 Điều 5 Luật Đầu tư 2020 về “Chính sách về đầu tư kinh doanh”; Điều 5 Luật Doanh nghiệp 2020 về “Bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp”. Pháp luật tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp nhưng trong những trường hợp cần thiết sẽ có những quy định hạn chế. Theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 và khoản 2 Điều 2 Bộ luật Dân sự 2015, quyền tự do đầu tư kinh doanh bị hạn chế vì các lý do an ninh quốc phòng; trật tự, an toàn xã hội; đạo đức xã hội; sức khỏe cộng đồng. Ngoài ra, dự án đầu tư của doanh nghiệp có thể bị chấm dứt (một phần hoặc toàn bộ) theo khoản 2 Điều 48 Luật Đầu tư 2020 về “Chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư”. Và còn có một số quy định gián tiếp khác như: điều kiện huy động vốn, vay vốn; tăng vốn và phát hành cổ phần, trái phiếu; thuế; tuyển dụng lao động... Đối với loại hình công ty TNHH, quyền tự do kinh doanh thể hiện trên nhiều khía cạnh, bên cạnh việc các thành viên được chủ động chọn loại hình thành lập công ty theo mô hình TNHH theo nhu cầu, loại hình công ty TNHH cũng được tăng vốn thông qua việc phát hành trái phiếu như CTCP v.v.
- Thứ hai, nguyên tắc quản trị rủi ro. Từ khi gia nhập thị trường, quá trình quản trị doanh nghiệp và rút khỏi thị trường, hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú như việc góp vốn của cổ đông/thành viên công ty, thu hút vốn của nhà đầu tư, thu hồi vốn của chủ nợ… Các hoạt động này không phải lúc nào cũng suôn sẻ mà thường xảy ra tranh chấp, xung đột.
Đôi khi, lợi ích của nhà đầu tư sẽ mang đến rủi ro cho khách hàng, các chủ nợ. Vì vậy, pháp luật về doanh nghiệp cần cụ thể hóa nguyên tắc quản trị rủi ro để bảo vệ quyền lợi của thành viên, chủ nợ và xã hội trước những hành vi tư lợi của nhà quản lý, bảo vệ cổ đông thiểu số, yếu thế v.v
- Thứ ba, nguyên tắc bảo vệ quyền của các chủ nợ. Trong các loại hình, ngoài doanh nghiệp tư nhân là chủ sở hữu đồng thời là người điều hành doanh nghiệp sẽ chịu mọi trách nhiệm cuối cùng về các khoản nợ thì việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp cũng một phần là do ý chí của chủ doanh nghiệp với các khoản nợ. Và ngay từ giai đoạn đầu tiên thành lập doanh nghiệp, pháp luật cũng đồng thời bảo hộ cho quyền lợi của các chủ nợ.
Tất cả các loại hình công ty TNHH HTV trở lên, công ty TNHH MTV, CTCP và CTHD đều có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; đồng thời đều là pháp nhân thương mại và là thương nhân [41, tr149]. Mức độ trách nhiệm hữu hạn của pháp nhân với từng loại hình doanh nghiệp (công ty đối vốn hay đối nhân) được thể hiện rõ nhất qua hậu quả pháp lý khi phá sản doanh nghiệp. Khoản 1 Điều 46 về “Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”; khoản 4 Điều 47 về “Góp vốn thành lập công ty và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp”; khoản 1 Điều 74 về “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên”; điểm c khoản 1 Điều 111 về “Công ty cổ phần”; điểm c khoản 1 Điều 177 về “Công ty hợp danh”, Luật doanh nghiệp 2020 quy định với tất cả các loại hình công ty này là: khi bị phá sản thì doanh nghiệp chỉ giới hạn trách nhiệm trả nợ trong phạm vi tài sản công ty. Theo luật định, trừ trường hợp chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết của chủ sở hữu, thành viên công ty TNHH; chủ sở hữu và cổ đông công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Tuy nhiên, riêng thành viên công ty hợp danh, theo điểm b khoản 1 Điều 177 về “Công ty hợp danh” – Luật doanh nghiệp 2020, sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty (trách nhiệm vô hạn).
Theo: Tống Hoàng Hà
Link: Tại đây