0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64c9cdfb9907e-photo-1431540015161-0bf868a2d407.jpg.webp

Các quy định về tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn 

Các quy định về tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn  

* Về cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn 

Luật Doanh nghiệp 2020 của Việt Nam quy định hai loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn tương đồng như nhiều nước khác là: công ty TNHH MTV và công ty TNHH HTV trở lên. Đối với công ty TNHH HTV trở lên có số lượng thành viên tối đa không quá 50 thành viên. 

Đối với công ty TNHH MTV thì tùy thuộc vào quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức và quản lý nội bộ của công ty TNHH MTV bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc/Tổng giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc/Tổng giám đốc. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc do điều lệ công ty quy định trên cơ sở các quy định của pháp luật. Việc tổ chức quản lý công ty TNHH MTV về cơ bản do chủ sở hữu công ty quyết định. 

Đối với công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên phải có: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng giám đốc. Trong trường hợp công ty TNHH HTV trở lên là doanh nghiệp nhà nước và công ty con của doanh nghiệp nhà nước thì phải thành lập Ban Kiểm soát; các trường hợp khác do công ty quyết định. Đây là điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2020 so với Luật Doanh nghiệp 2014 bắt buộc các công ty có từ 12 thành viên trở lên phải có Ban Kiểm soát. Một mặt, Luật Doanh nghiệp 2020 đã trao quyền tự quyết cho các chủ thể thành lập công ty, giảm thiểu sự cồng kềnh cho bộ máy của các công ty TNHH HTV có quy mô vốn nhỏ. Tuy nhiên, nhà nước đã từ bỏ quyền giám sát hoạt động doanh nghiệp, quyền được nhà nước bảo vệ lợi ích của mọi thành viên trong công ty TNHH HTV trở lên. 

Để gắn liền trách nhiệm của người quản lý, Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung khoản 3 Điều 54 quy định rõ công ty TNHH HTV trở lên phải có “ít nhất một người đại diện theo pháp luật là người giữ một trong các chức danh là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc/Tổng giám đốc”. Trước đây, Luật Doanh nghiệp 1999 quy định theo hướng mặc định Giám đốc/Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty. Nhưng sau quá trình sửa đổi, Luật Doanh nghiệp 2020 lại quy định ngược lại, trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng thành viên là người đại diện theo pháp luật của công ty. Vấn đề này liên quan đến việc phân chia quyền lực, tách bạch vai trò quản trị và điều hành, với chỉ một người đại diện theo pháp luật. Do đó, đương nhiên người đứng đầu cơ quan quyền lực cao nhất của công ty (Hội đồng thành viên) là người cuối cùng phải chịu trách nhiệm về các quyền và nghĩa vụ của công ty trước pháp luật.  

Ngoài ra, việc thay đổi người đại diện theo pháp luật trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định thay đổi. Vì pháp luật không quy định thời điểm có hiệu lực của việc thay đổi người đại diện theo pháp luật công ty là thời điểm ngày ra quyết định (thời điểm thông qua, ban hành, nộp hồ sơ…) hay ngày ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nên khi giao dịch trong khoảng thời gian này rất dễ xảy ra tranh chấp pháp lý nếu Điều lệ doanh nghiệp không quy định rõ. Do vậy để tránh rủi ro trong giao dịch, đảm bảo an toàn pháp lý thì nên dựa vào thời điểm người đại diện theo pháp luật mới được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp [41,tr281]. 

Trước đây, Luật Doanh nghiệp quy định mỗi pháp nhân chỉ có một người đại diện đã gây khó khăn cho hoạt động của các công ty, đặc biệt là công ty lớn có nhiều nhân viên, địa điểm kinh doanh… Vì vậy, Luật Doanh nghiệp hiện hành đã tháo gỡ vấn đề này, tạo điều kiện cho tất cả các loại hình công ty có thể có nhiều người đại diện và phải được ghi trong Điều lệ công ty. Đây là căn cứ pháp luật quan trọng ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp khi có tranh chấp. Điều lệ phải quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật. Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan… Tuy nhiên, điều này lại buộc các đối tác của doanh nghiệp cần cẩn trọng hơn trong giao dịch bởi có thể giao dịch bị vô hiệu khi ký kết với người không đúng thẩm quyền.   

* Về thẩm quyền và thể thức hoạt động của công ty TNHH 

Việc thông qua các quyết định của công ty là lựa chọn một trong hai cơ chế: quyết định cá nhân và quyết định tập thể. Ở công ty trách nhiệm hữu hạn, quyết định cá nhân là của chủ sở hữu công ty, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty và các chức danh mang tính chất cá nhân khác; quyết định tập thể là của Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Ủy ban kiểm toán hoặc cơ chế tập thể do pháp luật quy định hoặc doanh nghiệp lập ra. Quyết định của những người đứng đầu của những tập thể này là quyết định của tập thể mà người đó là thành viên. Ví dụ, quyết định của Chủ tịch Hội đồng thành viên ở mô hình công ty TNHH HTV trở lên không phải là quyết định cá nhân. Quyết định tập thể có thể được coi là Nghị quyết được thông qua trong các cuộc họp.   

Luật quy định việc triệu tập họp Hội đồng thành viên của công ty TNHH HTV trở lên là theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên hoặc nhóm thành viên có tỉ lệ sở hữu từ 10% số vốn điều lệ trở lên hoặc tỉ lệ khác nhỏ hơn theo Điều lệ công ty. Thông báo mời họp có thể gửi bằng nhiều hình thức (giấy mời, điện thoại, fax…) và được gửi trực tiếp đến từng thành viên Hội đồng thành viên (có thể do quy mô không quá 50 thành viên) và bảo đảm đến được địa chỉ liên lạc. Việc xác định rõ gửi trực tiếp và bảo đảm đến được địa chỉ liên lạc thì luật chưa làm rõ. Ngoài ra, luật cũng không đề cập đến quy định về thời gian gửi thông báo, kể cả chương trình, tài liệu họp, chỉ khi tài liệu sử dụng trong cuộc họp liên quan đến quyết định sửa đổi bổ sung điều lệ công ty thông qua chiến lược phát triển công ty, thông qua báo cáo tài chính hàng năm, tổ chức lại hoặc giải thể công ty thì gửi đến các thành viên công ty chậm nhất là 7 ngày làm việc trước ngày họp.   

  1. Đối với công ty TNHH HTV trở lên, Luật Doanh nghiệp quy định cuộc họp của Hội đồng thành viên được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu từ 65% vốn điều lệ trở lên (đã điều chỉnh giảm so với tỉ lệ 75% của Luật cũ). Tuy nhiên so với tỉ lệ của công ty cổ phần là 50% thì tỉ lệ này vẫn cao. Chỉ khi trường hợp thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành thì cuộc họp được triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi đạt tối thiểu 50%. Và cuộc họp lần ba không phụ thuộc vào số thành viên dự họp và số vốn điều lệ được đại diện bởi số thành viên dự họp.

Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng, nếu Luật không quy định trường hợp vì lý do khách quan, Điều lệ có quy định khác thì thành viên vắng mặt trong cuộc họp của Hội đồng thành viên là người chiếm giữ 90% vốn điều lệ (bị ốm đau nằm viện, bị tạm giam…) nhưng người hoặc nhóm sở hữu 10% vốn điều lệ hoàn toàn có thể triệu tập cuộc họp lần thứ ba để quyết định mọi vấn đề của công ty một cách hợp pháp [41, tr424].  

  1. Đối với công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sở hữu, cuộc họp của Hội đồng thành viên được tiến hành khi có ít nhất 2/3 tổng số thành viên dự họp, mà không cần căn cứ vào số vốn thành viên đại diện sở hữu. Điều này chưa thật sự phù hợp khi quy định về tỉ lệ biểu quyết tại công ty TNHH lấy căn cứ từ tỉ lệ số vốn góp.

Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp còn để mở quy định “tỉ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định” hoặc Điều lệ quy định “một tỉ lệ khác”. Do đó, TS. Phan Đức Hiếu, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, Điều lệ công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có thể quy định một tỉ lệ dự họp và biểu quyết thấp hơn tỉ lệ mà Luật quy định là 65%, thậm chí dưới 50%.   

Ngoài tỉ lệ tối thiểu dự họp, thì nghị quyết, quyết định được thông qua tại các cuộc họp khi đủ tỉ lệ tối thiểu thông qua. Việc thông qua các nghị quyết không đúng quy định về các tỷ lệ tối thiểu dự họp và tỉ lệ biểu quyết thông qua đối với các hợp đồng, giao dịch sẽ bị Tòa án tuyên bố vô hiệu hóa.

Theo: Tống Hoàng Hà

Link: Tại đây

avatar
Lã Thị Ái Vi
1179 ngày trước
Các quy định về tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn 
Các quy định về tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn  * Về cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn Luật Doanh nghiệp 2020 của Việt Nam quy định hai loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn tương đồng như nhiều nước khác là: công ty TNHH MTV và công ty TNHH HTV trở lên. Đối với công ty TNHH HTV trở lên có số lượng thành viên tối đa không quá 50 thành viên. Đối với công ty TNHH MTV thì tùy thuộc vào quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức và quản lý nội bộ của công ty TNHH MTV bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc/Tổng giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc/Tổng giám đốc. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc do điều lệ công ty quy định trên cơ sở các quy định của pháp luật. Việc tổ chức quản lý công ty TNHH MTV về cơ bản do chủ sở hữu công ty quyết định. Đối với công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên phải có: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng giám đốc. Trong trường hợp công ty TNHH HTV trở lên là doanh nghiệp nhà nước và công ty con của doanh nghiệp nhà nước thì phải thành lập Ban Kiểm soát; các trường hợp khác do công ty quyết định. Đây là điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2020 so với Luật Doanh nghiệp 2014 bắt buộc các công ty có từ 12 thành viên trở lên phải có Ban Kiểm soát. Một mặt, Luật Doanh nghiệp 2020 đã trao quyền tự quyết cho các chủ thể thành lập công ty, giảm thiểu sự cồng kềnh cho bộ máy của các công ty TNHH HTV có quy mô vốn nhỏ. Tuy nhiên, nhà nước đã từ bỏ quyền giám sát hoạt động doanh nghiệp, quyền được nhà nước bảo vệ lợi ích của mọi thành viên trong công ty TNHH HTV trở lên. Để gắn liền trách nhiệm của người quản lý, Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung khoản 3 Điều 54 quy định rõ công ty TNHH HTV trở lên phải có “ít nhất một người đại diện theo pháp luật là người giữ một trong các chức danh là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc/Tổng giám đốc”. Trước đây, Luật Doanh nghiệp 1999 quy định theo hướng mặc định Giám đốc/Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty. Nhưng sau quá trình sửa đổi, Luật Doanh nghiệp 2020 lại quy định ngược lại, trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng thành viên là người đại diện theo pháp luật của công ty. Vấn đề này liên quan đến việc phân chia quyền lực, tách bạch vai trò quản trị và điều hành, với chỉ một người đại diện theo pháp luật. Do đó, đương nhiên người đứng đầu cơ quan quyền lực cao nhất của công ty (Hội đồng thành viên) là người cuối cùng phải chịu trách nhiệm về các quyền và nghĩa vụ của công ty trước pháp luật.  Ngoài ra, việc thay đổi người đại diện theo pháp luật trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định thay đổi. Vì pháp luật không quy định thời điểm có hiệu lực của việc thay đổi người đại diện theo pháp luật công ty là thời điểm ngày ra quyết định (thời điểm thông qua, ban hành, nộp hồ sơ…) hay ngày ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nên khi giao dịch trong khoảng thời gian này rất dễ xảy ra tranh chấp pháp lý nếu Điều lệ doanh nghiệp không quy định rõ. Do vậy để tránh rủi ro trong giao dịch, đảm bảo an toàn pháp lý thì nên dựa vào thời điểm người đại diện theo pháp luật mới được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp [41,tr281]. Trước đây, Luật Doanh nghiệp quy định mỗi pháp nhân chỉ có một người đại diện đã gây khó khăn cho hoạt động của các công ty, đặc biệt là công ty lớn có nhiều nhân viên, địa điểm kinh doanh… Vì vậy, Luật Doanh nghiệp hiện hành đã tháo gỡ vấn đề này, tạo điều kiện cho tất cả các loại hình công ty có thể có nhiều người đại diện và phải được ghi trong Điều lệ công ty. Đây là căn cứ pháp luật quan trọng ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp khi có tranh chấp. Điều lệ phải quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật. Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan… Tuy nhiên, điều này lại buộc các đối tác của doanh nghiệp cần cẩn trọng hơn trong giao dịch bởi có thể giao dịch bị vô hiệu khi ký kết với người không đúng thẩm quyền.   * Về thẩm quyền và thể thức hoạt động của công ty TNHH Việc thông qua các quyết định của công ty là lựa chọn một trong hai cơ chế: quyết định cá nhân và quyết định tập thể. Ở công ty trách nhiệm hữu hạn, quyết định cá nhân là của chủ sở hữu công ty, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty và các chức danh mang tính chất cá nhân khác; quyết định tập thể là của Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Ủy ban kiểm toán hoặc cơ chế tập thể do pháp luật quy định hoặc doanh nghiệp lập ra. Quyết định của những người đứng đầu của những tập thể này là quyết định của tập thể mà người đó là thành viên. Ví dụ, quyết định của Chủ tịch Hội đồng thành viên ở mô hình công ty TNHH HTV trở lên không phải là quyết định cá nhân. Quyết định tập thể có thể được coi là Nghị quyết được thông qua trong các cuộc họp.   Luật quy định việc triệu tập họp Hội đồng thành viên của công ty TNHH HTV trở lên là theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên hoặc nhóm thành viên có tỉ lệ sở hữu từ 10% số vốn điều lệ trở lên hoặc tỉ lệ khác nhỏ hơn theo Điều lệ công ty. Thông báo mời họp có thể gửi bằng nhiều hình thức (giấy mời, điện thoại, fax…) và được gửi trực tiếp đến từng thành viên Hội đồng thành viên (có thể do quy mô không quá 50 thành viên) và bảo đảm đến được địa chỉ liên lạc. Việc xác định rõ gửi trực tiếp và bảo đảm đến được địa chỉ liên lạc thì luật chưa làm rõ. Ngoài ra, luật cũng không đề cập đến quy định về thời gian gửi thông báo, kể cả chương trình, tài liệu họp, chỉ khi tài liệu sử dụng trong cuộc họp liên quan đến quyết định sửa đổi bổ sung điều lệ công ty thông qua chiến lược phát triển công ty, thông qua báo cáo tài chính hàng năm, tổ chức lại hoặc giải thể công ty thì gửi đến các thành viên công ty chậm nhất là 7 ngày làm việc trước ngày họp.   Đối với công ty TNHH HTV trở lên, Luật Doanh nghiệp quy định cuộc họp của Hội đồng thành viên được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu từ 65% vốn điều lệ trở lên (đã điều chỉnh giảm so với tỉ lệ 75% của Luật cũ). Tuy nhiên so với tỉ lệ của công ty cổ phần là 50% thì tỉ lệ này vẫn cao. Chỉ khi trường hợp thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành thì cuộc họp được triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi đạt tối thiểu 50%. Và cuộc họp lần ba không phụ thuộc vào số thành viên dự họp và số vốn điều lệ được đại diện bởi số thành viên dự họp.Luật sư Trương Thanh Đức cho rằng, nếu Luật không quy định trường hợp vì lý do khách quan, Điều lệ có quy định khác thì thành viên vắng mặt trong cuộc họp của Hội đồng thành viên là người chiếm giữ 90% vốn điều lệ (bị ốm đau nằm viện, bị tạm giam…) nhưng người hoặc nhóm sở hữu 10% vốn điều lệ hoàn toàn có thể triệu tập cuộc họp lần thứ ba để quyết định mọi vấn đề của công ty một cách hợp pháp [41, tr424].  Đối với công ty TNHH MTV do tổ chức làm chủ sở hữu, cuộc họp của Hội đồng thành viên được tiến hành khi có ít nhất 2/3 tổng số thành viên dự họp, mà không cần căn cứ vào số vốn thành viên đại diện sở hữu. Điều này chưa thật sự phù hợp khi quy định về tỉ lệ biểu quyết tại công ty TNHH lấy căn cứ từ tỉ lệ số vốn góp.Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp còn để mở quy định “tỉ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định” hoặc Điều lệ quy định “một tỉ lệ khác”. Do đó, TS. Phan Đức Hiếu, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng, Điều lệ công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có thể quy định một tỉ lệ dự họp và biểu quyết thấp hơn tỉ lệ mà Luật quy định là 65%, thậm chí dưới 50%.   Ngoài tỉ lệ tối thiểu dự họp, thì nghị quyết, quyết định được thông qua tại các cuộc họp khi đủ tỉ lệ tối thiểu thông qua. Việc thông qua các nghị quyết không đúng quy định về các tỷ lệ tối thiểu dự họp và tỉ lệ biểu quyết thông qua đối với các hợp đồng, giao dịch sẽ bị Tòa án tuyên bố vô hiệu hóa.Theo: Tống Hoàng HàLink: Tại đây