PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI HOA KỲ
2.4.1. Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường nước tại Hoa Kỳ
Luật Nước sạch năm 1972 được ban hành khi ô nhiễm nước ở Mỹ đã trở thành vấn nạn quốc gia, bắt nguồn từ sự kiện dòng sông Cuyahoga (Tiểu bang Ohio) bị bốc cháy vào tháng 6/1969.
Cho đến nay Luật Nước sạch đã được sửa đổi, điều chỉnh và bổ sung 3 lần (1977, 1987, 2002) để đáp ứng những thách thức mới phát sinh cũng như tiếp tục hoàn thiện. Sau 25 năm tồn tại, chất lượng nước các sông, hồ, vịnh đã được cải thiện đáng kể nhờ các nỗ lực hợp tác giữa chính quyền liên bang, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng trong các chương trình KSONN và sức khỏe công cộng. Hai phần ba các vùng nước được khảo sát đảm bảo an toàn cho các hoạt động câu cá và bơi lội, lượng đất bị mất do nước thải nông nghiệp cắt giảm 1 tỷ tấn một năm, và số người dân có được sự phục vụ của các cơ sở xử lý nước thải tăng gấp đôi lên tới 173 triệu người.
Luật gồm 234 trang, 6 chương, 94 điều, 607 khoản. Về cấu trúc, Luật gồm các chương sau:
- Chương 1: Nghiên cứu và các chương trình liên quan.
- Chương 2: Tài trợ cho các công trình xây dựng hệ thống xử lý nước thải công.
- Chương 3: Tiêu chuẩn và thực thi.
- Chương 4: Giấy phép.
- Chương 5: Các điều khoản chung
- Chương 6: Quỹ Quay vòng kiểm soát ô nhiễm nước cấp tiểu bang
Trong Luật Nước sạch Hoa Kỳ có nhiều nội dung đáng chú ý có thể kể đến như sau:
Giấy phép xả thải
Được quy định trong Chương 4 từ điều 401 đến 406, Luật Nước sạch sửa đổi năm 2022. Luật Nước sạch Hoa Kỳ thiết lập chương trình “Hệ thống quốc gia về loại bỏ các chất ô nhiễm” (NPDES), trong đó yêu cầu tất cả các cơ sở xả thải thông qua nguồn điểm vào các vùng nước mặt phải có giấy phép xả thải (Điều 402). Giấy phép xả thải quy định các tiêu chuẩn xả thải với 2 mức độ: giới hạn theo công nghệ và giới hạn theo chất lượng nước.
Trong quá trình phê duyệt giấy phép, cả 2 loại tiêu chuẩn xả thải này đều được xây dựng, giới hạn nào nghiêm ngặt hơn sẽ được đưa vào giấy phép để áp dụng. Điều này thể hiện quan điểm xử lý tối đa chất ô nhiễm theo công nghệ tiên tiến nhất, dù việc hạ thấp mức độ xử lý vẫn có thể đảm bảo chất lượng nguồn nước tiếp nhận. Ngoài ra, trong cùng một giấy phép có thể áp dụng cả 2 loại giới hạn, tùy thuộc vào từng thông số ô nhiễm cụ thể.
Giấy phép xả thải do Cục Bảo vệ môi sinh Hoa Kỳ (USEPA) hoặc cơ quan môi trường của bang ban hành. Tại các bang này, USEPA vẫn giữ quyền thu hồi giấy phép, hoặc can thiệp vào việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế và xử phạt cần thiết nếu như cơ quan môi trường của bang không thực hiện trách nhiệm một cách nghiêm minh.
Thời hạn của giấy phép xả thải tối đa đến 5 năm, có thể được gia hạn hoặc cấp lại bất cứ lúc nào sau khi chủ giấy phép đăng kí. Việc xả thải không có giấy phép hoặc không tuân thủ các nội dung trong giấy phép sẽ bị xử phạt hành chính nghiêm trọng, thậm chí bị truy tố hình sự. Mức phạt dân sự cao nhất lên đến 37.500 USD/ngày, mức phạt đối với cơ quan hành chính tối đa là 177.500 USD.
Tiêu chuẩn xả thải
Tiêu chuẩn xả thải được quy định ở 2 cấp độ: Tiêu chuẩn xả thải dựa trên công nghệ và Tiêu chuẩn xả thải dựa trên tiêu chuẩn chất lượng nước của vùng nước tiếp nhận. Luật Nước sạch quy định về tiêu chuẩn tại Chương 3, từ điều 301 đến điều 320.
Tiêu chuẩn xả thải dựa trên công nghệ được thiết lập căn cứ vào việc cân nhắc chi phí và tính khả thi của các công nghệ hiện hành. USEPA đã xây dựng các hướng dẫn về tiêu chuẩn xả thải cho rất nhiều ngành công nghiệp, tính đến nay đã có khoảng 56 ngành với 35.000 - 45.000 nhà máy được áp dụng. Với các nguồn thải không thuộc danh mục các ngành công nghiệp này, cơ quan cấp phép phải xây dựng giới hạn dựa trên đánh giá chuyên môn tốt nhất cho từng nguồn thải.
Giới hạn BPT được xác định dựa trên mức trung bình hiệu suất xử lý tốt nhất của các nhà máy/hệ thống xử lý nước thải đang vận hành trong cùng một ngành công nghiệp, trong đó có cân nhắc tương quan giữa chi phí và hiệu quả xử lý nước thải.
Tiêu chuẩn BCT được áp dụng cho các trường hợp mà việc loại bỏ nhiều hơn nữa chất ô nhiễm được cho là hợp lý về mặt chi phí - lợi ích. Các phân tích chi phí - lợi ích cho việc áp dụng công nghệ đề xuất để đạt được tiêu chuẩn dòng thải BCT được thực hiện cho từng ngành công nghiệp và cho từng trường hợp cụ thể.
Giới hạn BAT được áp dụng cho các chất ô nhiễm đặc biệt và chất độc. Giới hạn BAT được thiết lập dựa trên hiệu suất xử lý tốt nhất có thể trong một ngành công nghiệp cụ thể của các nhà máy đang vận hành hoặc các nghiên cứu thử nghiệm.
Tiêu chuẩn cao nhất trong các tiêu chuẩn xả thải là NSPS được USEPA áp dụng cho một số trường hợp cụ thể các nhà máy mới được xây dựng. Giới hạn NSPS phản ánh mức độ cao nhất trong xử lý chất ô nhiễm nhờ áp dụng các tiến bộ mới nhất trong công nghệ, phương pháp vận hành, quản lý, và nhiều yếu tố khác, mà không chú trọng đến yếu tố chi phí.
Có thể nói, quy định về tiêu chuẩn xả thải dựa trên công nghệ là lý do chính cho sự thành công trong thực thi của Luật Nước sạch trong việc ngăn ngừa ô nhiễm từ các nguồn điểm. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn xả thải dựa trên công nghệ có thể không đủ để ngăn ngừa ô nhiễm vùng nước tiếp nhận. Vì vậy, Luật Nước sạch cũng quy định (Điều 302) USEPA cần phải ban hành các tiêu chuẩn xả thải dựa trên tiêu chuẩn chất lượng nước nếu việc xả thải không đảm bảo được chất lượng nước phù hợp cho các mục đích sử dụng. Các mục đích sử dụng được bảo vệ bởi Luật Nước sạch bao gồm: cấp nước công cộng, cấp nước nông nghiệp và công nghiệp, bảo vệ và nhân giống các loài cá, loài có vỏ và động vật hoang dã, và phục vụ các hoạt động giải trí của con người.
Giám sát thực thi
Ngoài việc yêu cầu các bên xả thải tự quan trắc và báo cáo định kỳ với cơ quan quản lý, Luật Nước sạch cũng quy định bên xả thải cần tự phát hiện/đoán trước, và báo cáo với cơ quan quản lý các các vấn đề đã/có thể xảy ra có thể dẫn tới vi phạm các yêu cầu của giấy phép xả thải và các biện pháp khắc phục.
Trên thực tế, đa phần các doanh nghiệp tuân thủ tốt nhưng cũng có phần trăm đáng kể không tuân thủ. Để phát hiện những vi phạm, ngoài biện pháp “tự kiểm toán” nêu trên, USEPA cũng đưa ra nhiều biện pháp như:
- Thông qua báo cáo của các đối thủ cạnh trạnh: Đây được xem là một khía cạnh để các doanh nghiệp canh tranh với nhau. Do đó khi có một doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật thì doanh nghiệp này đã tạo ra một sự cạnh tranh không bình đẳng với các doanh nghiệp nghiêm túc thực hiện. Các doanh nghiệp cùng ngành có quyền lên tiếng để bảo vệ sự bình đẳng của mình trước pháp luật và cơ quan quản lý sẽ vào cuộc để xử lý.
- Thông qua việc thanh tra của USEPA từ trung ương đến địa phương: Luật pháp cho phép USEPA có quyền thanh tra trên diện rộng và nhiều lần các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm. Và việc gây ô nhiễm có thể được quy vào tội hình sự khi đủ cơ sở.
- Thông qua cộng đồng và các tổ chức xã hội như tổ chức phi chính phủ (NGO): luật pháp cho phép các NGO hoặc công dân được kiểm tra các hoạt động của USEPA và kiện USEPA ra tòa nếu như USEPA không thực hiện đúng chức năng và phận sự của mình. Đồng thời cho phép NGO và cá nhân có thể kiện các doanh nghiệp gây ô nhiễm ra tòa mà không phải thông qua USEPA.
Theo: Hồ Anh Tuấn
Link luận án: Tại đây