Giao kết hợp đồng theo mẫu
2.1.1. Giao kết hợp đồng theo mẫu
2.1.1.1. Chủ thể giao kết hợp đồng theo mẫu
Chủ thể của hợp đồng theo mẫu không có tên gọi cụ thể theo quy định của BLDS 2015 mà chỉ được gọi chung chung là bên đề nghị và bên được đề nghị. Trong khi đó, theo Điều 3 khoản 5 LBVQLNTD 2010, hợp đồng theo mẫu được giao kết giữa hai chủ thể là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng. Các quốc gia khác nhau trên thế giới cũng có những quan điểm khác nhau về tên gọi của chủ thể giao kết hợp đồng theo mẫu, ví dụ như BLDS Đức (sửa đổi năm 2002) tại Điều 305 khi đưa ra định nghĩa về điều khoản kinh doanh mẫu thì gọi là bên sử dụng và bên còn lại. Hay Đạo luật quy định các điều kiện và điều khoản Hàn Quốc 2013 tại Điều 3 có sử dụng thuật ngữ là thương nhân và khách hàng. Điều 1110 của BLDS Pháp sửa đổi năm 2016 khi đưa ra khái niệm hợp đồng theo mẫu cũng chỉ nói chung chung là các bên. Do vậy, để đảm bảo tính thống nhất và khái quát, NCS sẽ sử dụng thuật ngữ là bên đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu và bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu khi phân tích về chủ thể trong phần này.
Thứ nhất, đối với bên đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu
Như chúng ta đã biết, một đặc trưng của hợp đồng theo mẫu đó là tính áp dụng nhiều lần cho số lượng lớn các chủ thể khác nhau và do vậy, bên đề nghị giao kết phải là bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ một cách chuyên nghiệp. Để có thể trở thành nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chuyên nghiệp, các chủ thể cần đáp ứng yêu cầu về năng lực chủ thể bao gồm hai yếu tố: Thứ nhất là yếu tố về năng lực pháp luật, tức là phải có quyền được cung cấp hàng hóa, dịch vụ đó, đặc biệt phải đáp ứng các điều kiện mà pháp luật đưa ra nếu có đối với việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ đó như phải có các chứng chỉ, bằng cấp, giấy phép, phải tiến hành đăng ký hoạt động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền... Ví dụ như để có thể cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh dưới hình thức là bệnh viện đa khoa, Điều 23 Nghị định 109/2016/NĐCP ngày 1/7/2016 quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đưa ra rất nhiều các tiêu chí để được cấp giấy phép hoạt động như về quy mô có tối thiểu 30 giường bệnh, thiết kế khoa phòng theo mô hình tập trung, liên hoàn, khép kín, diện tích sàn xây dựng tối thiểu 50m2/giường bệnh, bảo đảm cơ cấu tổ chức các khoa, phòng cũng như số lượng nhân sự vô cùng khắt khe, chặt chẽ và phải được trực tiếp Bộ trưởng Bộ Y tế cấp phép. Hay trong lĩnh vực bảo hiểm, điều kiện để thành lập công ty TNHH bảo hiểm thì ngoài các điều kiện chung, các thành viên góp vốn thành lập phải là tổ chức và có tổng tài sản tối thiểu 2000 tỷ đồng vào năm liền kể trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép theo theo Nghị định 73/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm43; Thứ hai là yếu tố về năng lực hành vi, tức là khả năng của chính chủ thể đó bao gồm sự chuyên môn hóa, kinh nghiệm, kỹ năng, đội ngũ, tài chính trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ thường xuyên, liên tục đến cho khách hàng, mang lại hiệu quả mong muốn cũng như hạn chế các rủi ro có thể xảy ra.
Bên đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, miễn sao bảo đảm được yếu tố về năng lực chủ thể để cung cấp hàng hóa, dịch vụ một cách chuyên nghiệp đến cho khách hàng. Bản thân quy định của LBVQLNTD 2010 tại Điều 3 quy định về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cũng nêu rõ: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: a) Thương nh n theo quy định của Luật thương mại; b) Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh”. Tuy nhiên, một vấn đề đối với quy định nêu trên về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó là sự giới hạn về mặt chủ thể khi bỏ sót các pháp nhân phi thương mại như các đơn vị sự nghiệp công lập hoặc các doanh nghiệp xã hội khi đây cũng là những đơn vị thường xuyên cung cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Về điểm này, LBVQLNTD có thể học hỏi quy định tại Điều 1 Bộ luật tiêu dùng Pháp sửa đổi năm 2016 về “bên chuyên nghiệp”, theo đó “Bên chuyên nghiệp: bất kỳ cá nhân hoặc pháp nh n công hay tư thực hiện các hoạt động cho các mục đích thuộc phạm vi hoạt động thương mại, công nghiệp, nghề tự do hoặc nông nghiệp, kể cả khi thực hiện hoạt động nhân danh hoặc dưới danh nghĩa một bên chuyên nghiệp khác”. Ngoài ra, mặc dù bên đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu có thể là cá nhân hoặc tổ chức, nhưng thực tiễn cho thấy hầu hết, thậm chí là gần như 100% các chủ thể này là các tổ chức. Điều này được lý giải bởi việc các tổ chức có cơ cấu bộ máy bài bản, số lượng nhân sự đông đảo, hoạt động theo quy trình phối hợp giữa nhiều bên thì mới có thể tạo nên sự chuyên nghiệp, từ đó cung cấp dịch vụ được cho rất nhiều khách hàng sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Nếu bên đề nghị chỉ là cá nhân thì rõ ràng số lượng khách hàng phục vụ được sẽ bị hạn chế do quy mô nhỏ, một cá nhân không thể đảm đương quá nhiều công việc và phục vụ cho nhiều người cùng một lúc được.
Một điểm nổi trội của bên đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu, đó là sự vượt trội về vị thế thương lượng so với bên còn lại. Sự vượt trội này đến từ một số nguyên nhân như sau: Thứ nhất, bên đề nghị giao kết có lợi thế về mặt thông tin khi giao kết hợp đồng. Khi phân tích với những lập luận ở trên, chúng ta đã thấy rằng bản thân bên đề nghị giao kết là các cá nhân, tổ chức cung cấp hàng hóa, dịch vụ chuyên nghiệp. Do đó, họ có kỹ năng, có kinh nghiệm, có sự chuyên môn sâu về lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ cung cấp và tất nhiên nắm bắt thông tin vượt trội so với bên còn lại. Đồng thời, khi số lượng các giao dịch mà bên đề nghị giao kết thực hiện là rất lớn, thì chi phí bỏ ra cho từng giao dịch sẽ trở nên thấp hơn, từ đó tạo ra điều kiện về tài chính cho bên đề nghị giao kết tiếp tục đầu tư vào hoạt động nghiên cứu để có thêm thông tin phục vụ cho các giao dịch đó. Thứ hai, có sự mất cân bằng giữa cung và cầu trong các giao dịch liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có sử dụng hợp đồng theo mẫu. Nhiều lĩnh vực áp dụng hợp đồng theo mẫu là những lĩnh vực thiết yếu, cơ bản nên một số doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong lĩnh vực đó có lợi thế về sự cạnh tranh, thậm chí là độc quyền trong khi khách hàng không thể không sử dụng những hàng hóa, dịch vụ này. Có những lĩnh vực vẫn tồn tại sự cạnh tranh giữa các chủ thể cung cấp dịch vụ nhưng các chủ thể này gần như áp dụng cơ chế về hợp đồng theo mẫu cơ bản là tương tự nhau đối với khách hàng. Cả hai điều này tạo ra vị thế áp đảo rõ ràng của bên đề nghị giao kết hợp đồng so với bên còn lại, từ đó là cơ sở cho việc áp đặt các nội dung của hợp đồng theo mẫu lên ý chí của họ.
Thứ hai, đối với bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu
Từ góc nhìn của LBVQLNTD, chủ thể được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu chính là người tiêu dùng. Đây có thể được coi là chủ thể thường xuyên và phổ biến nhất của hợp đồng theo mẫu do loại hợp đồng này được sinh ra để áp dụng cho số lượng lớn người tiêu dùng khi tham gia vào các quan hệ mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Theo khoản 1 Điều 3 LBVQLNTD 2010, người tiêu dùng được hiểu là “người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nh n, gia đình, tổ chức”. Như vậy, dựa trên khái niệm người tiêu dùng đưa ra bởi quy định của LBVQLNTD 2010 thì có thể thấy rằng người tiêu dùng có thể là cá nhân hoặc tổ chức, miễn là mục đích giao kết hợp đồng là mục đích tiêu dùng chứ không phục vụ cho các hoạt động thương mại hoặc liên quan đến nghề nghiệp. Hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều những quan điểm khác nhau về việc khái niệm người tiêu dùng nhưng hầu hết đều không thừa nhận tổ chức là người tiêu dùng. Điều 2 của Chỉ thị số 93/13/EEC về các điều khoản bất công bằng của Hội đồng Châu Âu có quy định người tiêu dùng phải là con người tự nhiên. Bộ luật tiêu dùng của Pháp sửa đổi 2016 tại Điều 1 có đưa ra khái niệm: “Người tiêu dùng là bất kỳ cá nhân nào thực hiện các hoạt động cho các mục đích không thuộc về hoạt động thương mại, công nghiệp, thủ công, nghề tự do hoặc nông nghiệp của chính người đó”, bên cạnh đó Bộ luật tiêu dùng Pháp còn đưa ra thêm một khái niệm về “bên không chuyên nghiệp” để ghi nhận các pháp nhân giao kết hợp đồng vì mục đích tiêu dùng, bản thân các pháp nhân này cũng nhận được sự bảo vệ của pháp luật tương tự như đối với người tiêu dùng.
Tóm lại, mặc dù còn nhiều góc nhìn khác nhau về người tiêu dùng là cá nhân hay tổ chức, nhưng dưới góc độ là chủ thể được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu thì đã là người tiêu dùng, dù là cá nhân hay tổ chức, cũng sẽ đều có vị thế thương lượng thấp hơn so với bên đề nghị giao kết. Lý do là vì người tiêu dùng chỉ là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ vì mục đích sinh hoạt, tiêu dùng, nên cho dù có cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu các thông tin về sản phẩm, dịch vụ đó thì vẫn không thể so sánh với hoạt động chuyên nghiệp của bên đề nghị khi họ có kỹ năng, có đội ngũ chuyên gia tham vấn, có kinh nghiệm trong ngành nghề, lĩnh vực đó trong một khoảng thời gian rất dài, đồng thời sẵn sàng đầu tư nghiên cứu để có được những thông tin, hiểu biết vượt trội so với bên người tiêu dùng. Do đó, bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu cần được nhìn nhận về phạm vi bao gồm cả cá nhân và tổ chức, miễn là mục đích của họ về tiêu dùng, sinh hoạt thì đều cần có sự bảo vệ của pháp luật khi tham gia giao kết hợp đồng theo mẫu.
Bên cạnh đó, không phải mọi hợp đồng theo mẫu đều áp dụng cho quan hệ giữa cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng mà vẫn tồn tại một số loại hợp đồng theo mẫu được áp dụng giữa các chủ thể ko phải là người tiêu dùng. Ví dụ như hợp đồng nhượng quyền thương mại thì theo quy định của Luật thương mại 2005 cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều là thương nhân, khi tham gia vào hợp đồng nhượng quyền thì bên nhận quyền không tham gia vì mục đích tiêu dùng mà vì mục đích được tiến hành kinh doanh cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo hệ thống gắn với thương hiệu của bên nhượng quyền. Hoặc trong hợp đồng đại lý thương mại thì các chủ thể cũng đều là thương nhân, bên đại lý tham gia hợp đồng để nhận hàng hóa rồi từ đó tiếp tục bán hàng cho bên thứ ba chứ không tiêu dùng những hàng hóa đó. Hoặc các khách sạn, nhà hàng với vai trò là thương nhân có thể ký các hợp đồng mua dịch vụ truyền hình trả tiền để cung cấp và kiếm lời từ các khách hàng của mình. Trong những loại hợp đồng này, bên đề nghị giao kết có thể là những doanh nghiệp lớn, có tiếng tăm trên thị trường, có tiềm lực tài chính lớn và được quyền cung cấp độc quyền các loại hàng hóa, dịch vụ nhất định. Tuy nhiên, không phải lúc nào hàng hóa, dịch vụ cũng đến trực tiếp đến tay người tiêu dùng ngay lập tức mà thường phải qua nhiều khâu trung gian khác nhau thông qua các hoạt động thương mại. Do vậy, các thương nhân khi tham gia vào quá trình phân phối thương mại này vẫn có thể phải giao kết các hợp đồng theo mẫu, được đưa ra bởi các doanh nghiệp lớn và không có quyền đàm phán, thương lượng cũng như vị thế vẫn sẽ thấp hơn bên đề nghị giao kết.
Như vậy, chúng ta thấy rằng hợp đồng theo mẫu vẫn có thể phát sinh giữa các chủ thể không phải là người tiêu dùng, ko có mục đích tham gia giao kết hợp đồng để tiêu dùng mà tham gia với mục đích thương mại, kiếm lời từ những hoạt động này. Hiện nay Luật người tiêu dùng Úc 2010, sau khi sửa đổi vào năm 2016, đã mở rộng các quy định nhằm bảo vệ cả các doanh nghiệp nhỏ (dưới 20 lao động, bao gồm cả lao động tạm thời) để tránh trường hợp áp dụng các điều khoản hợp đồng bất công bằng với các doanh nghiệp nàyhoặc Điều 310 (1) của BLDS Đức (sửa đổi năm 2002) cũng có quy định về việc giao kết các điều khoản theo mẫu giữa các chủ thể là doanh nghiệp với nhau
Tổng kết lại, bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu phần lớn là người tiêu dùng khi số lượng các hợp đồng tiêu dùng đối với các hàng hóa, dịch vụ là vô cùng lớn. Tuy nhiên, ngoài người tiêu dùng thì hiện nay hợp đồng theo mẫu cũng có thể được áp dụng giữa các chủ thể là thương nhân với nhau, dù không nhiều. Các chủ thể này khi tham gia giao kết hợp đồng theo mẫu vẫn phải bảo đảm các điều kiện chung theo quy định của pháp luật dân sự về năng lực chủ thể nói chung, bao gồm năng lực hành vi dân sự, phụ thuộc vào độ tuổi và khả năng nhận thức làm chủ hành vi và năng lực pháp luật dân sự, tức là họ có quyền được tham gia vào hợp đồng đó hay không. Tùy từng lĩnh vực giao dịch cụ thể mà pháp luật chuyên ngành có quy định cụ thể hơn về năng lực chủ thể của bên được đề nghị giao kết hợp đồng theo mẫu thì các chủ thể này cũng sẽ phải tuân theo các quy định riêng của luật chuyên ngành đó.
Theo Trần Ngọc Hiệp
Link: Tại đây