0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64dcf4eee9803-photo-1431540015161-0bf868a2d407.jpg

Sản phẩm quảng cáo thương mại trên mạng xã hội

3.2. Sản phẩm quảng cáo thương mại trên mạng xã hội 

3.2.1. Quy định của pháp luật hiện hành về sản phẩm quảng cáo thương mại trên mạng xã hội 

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 2, LQC 2012, “Sản phẩm quảng cáo bao gồm nội dung và hình thức quảng cáo được thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng và các hình thức tương tự”.  

Sản phẩm QCTM trên mạng xã hội được thể hiện dưới các hình thức video, clip quảng cáo, thông điệp quảng cáo được phát hành trên mạng xã hội. Khác với các phương tiện quảng cáo truyền thống với hình ảnh “tĩnh”, cố định và không thay đổi (ví dụ quảng cáo ngoài trời), sản phẩm QCTM trên mạng xã hội có đặc điểm là được thể hiện bằng bài viết có thể kèm hình ảnh, video mang tính “động” và có phần “hư cấu”. Hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, màu sắc đa dạng, kỹ xảo hấp dẫn khiến sản phẩm Sản phẩm QCTM trên mạng xã hội có những nét đặc trưng cơ bản. 

Về nội dung: Quy định về nội dung các thông tin quảng cáo cần có sự phù hợp với các văn bản pháp lý liên quan đến đối tượng do cơ quan Nhà nước quản lý lĩnh vực chuyên môn cấp phép như các loại giấy phép, giấy xác nhận... 

Để sản phẩm quảng cáo chất lượng, hiệu quả, tuân thủ quy định của pháp luật thì sản phẩm quảng cáo trên mạng xã hội phải đáp ứng yêu cầu nội dung quảng cáo. Theo quy định, tất cả các sản phẩm quảng cáo đều phải đảm bảo nội dung “trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây hại đến người sản xuất, kinh doanh và người tiếp thị”. Yếu tố “trung thực, chính xác, rõ ràng” không được giải thích rõ trong LTM 2005 và LQC 2012, xét ở góc độ QCTM nói chung, để thể hiện tính “trung thực, chính xác, rõ ràng” đòi hỏi nội dung sản phẩm quảng cáo phải nêu rõ tính ưu việt, tiện ích của sản phẩm, không quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn, không phóng đại sự thật. Tuy vậy, trong QCTM trên mạng xã hội, việc kiểm soát các yếu tố nói trên gặp nhiều khó khăn do đặc thù phương tiện quảng cáo này được thực hiện trên môi trường số. Nhìn chung, LQC 2012 và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP, các văn bản pháp luật có liên quan đã có những quy định cụ thể nhằm quy định về sản phẩm quảng cáo. Theo đó, doanh nghiệp phải tìm hiểu các quy định về (i) Những quảng cáo trên phương tiện nào phải đăng ký xác nhận nội dung; (ii) Những sản phẩm nào phải đăng ký; (iii) Điều kiện đăng ký;114 (iv) Trình tự, thủ tục đăng ký; (v) Trường hợp thẩm định nội dung quảng cáo.116 Trong hoạt động QCTM trên mạng xã hội và QCTM nói chung, không phải mọi sản phẩm quảng cáo đều phải thông qua bước thẩm định nội dung quảng cáo trước khi phát sóng quảng cáo. Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo tiến hành thẩm định sản phẩm quảng cáo theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân trong các trường hợp sau: (i) Sản phẩm quảng cáo có nội dung liên quan đến quy định tại Điều 7 và Điều 8 của LQC 2012; (ii) Sản phẩm quảng cáo bị người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo từ chối thực hiện do không đảm bảo về tính hợp pháp của sản phẩm quảng cáo; (iii) Có ý kiến khác nhau về nội dung sản phẩm quảng cáo giữa cơ quan quản lý Nhà nước với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quảng cáo; Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. 

Về hình thức: Hình thức biểu hiện của sản phẩm quảng cáo bao gồm tiếng nói, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc hình thức tương tự có khả năng truyền đạt nội dung quảng cáo đến công chúng.Như đã đề cập, hình thức thể hiện của sản phẩm QCTM trên mạng xã hội có âm thanh, tiếng nói rõ ràng, màu sắc đa dạng, kỹ xảo hấp dẫn và mang tính “động”, được trao đổi, chia sẻ đến nhiều người người dùng khác nhau, đây là công cụ để truyền tải sản phẩm quảng cáo hiệu quả đến người tiếp nhận quảng cáo. 

3.2.2. Một số bất cập trong quy định pháp luật từ thực tiễn thực thi 

Tại Việt Nam, Ngày 03/11/2020, Bộ TTTT đã có Công văn số 4295/BTTTT- CBC đề nghị các cơ quan báo chí có loại hình báo điện tử, tạp chí điện tử: (i) Có biện pháp chấn chỉnh hoạt động phát hành quảng cáo do các mạng lưới quảng cáo (Adnetwork) xuyên biên giới cung cấp; Triển khai các biện pháp kỹ thuật kiểm soát, ngăn chặn các quảng cáo vi phạm pháp luật. (ii) Thận trọng trong việc lựa chọn mạng lưới quảng cáo (Adnetwork) xuyên biên giới để hợp tác nhằm đảm bảo hoạt động quảng cáo tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Khi thực hiện phát hành quảng cáo do các mạng lưới quảng cáo (Adnetwork) xuyên biên giới cung cấp, cần tăng cường công tác kiểm soát nội dung, vị trí, ngôn ngữ quảng cáo, nhất là đường link quảng cáo do các mạng lưới quảng cáo (Adnetwork) xuyên biên giới cung cấp. Mặc dù đã được Bộ TTTT đưa ra các khuyến cáo, tuy nhiên hiện tượng vi phạm các quy định liên quan đến kiểm soát sản phẩm quảng cáo vẫn diễn ra. Tuy nhiên, trên thực tế còn tồn tại nhiều khó khăn trong thực tiễn, cụ thể là: 

Một là, Nhà nước gặp khó khăn trong việc quản lý nội dung quảng cáo trên các nền tảng không có hiện diện thương mại tại Việt Nam. Lý do xuất phát từ cả 2 phía là đại lý quảng cáo và từ phía doanh nghiệp, về phía khách hàng, giá rẻ là lý do mà họ lựa chọn. Việc xác định nghĩa vụ của các mạng lưới quảng cáo, Google và Facebook chưa có pháp nhân tại Việt Nam nên nghĩa vụ kiểm soát thông tin của các mạng lưới quảng cáo này khá khó khăn. Để quảng cáo đến với người tiếp nhận quảng cáo, các Ad Network có vai trò rất lớn. Đây là đơn vị phân phối mẫu quảng cáo của nhãn hàng hoặc các đại lý trên các nền tảng số. Mạng lưới quảng cáo có nhiều nền tảng trong hệ thống thì càng có lợi thế và được nhiều doanh nghiệp lựa chọn. Việc kiểm soát tất cả các mạng lưới, các nền tảng quảng cáo là thách thức đối với cơ quan quản lý Nhà nước về QCTM trên mạng xã hội. 

Hai là, hiện nay có trường hợp một người hoặc một nhóm người, hoặc một nhóm thương nhân dùng chung một tài khoản để tạo các thông tin hấp dẫn, thu hút người xem trên mạng xã hội nhằm đạt được mục đích quảng cáo (do các chủ thể này gắn các mẫu quảng cáo vào các thông tin hấp dẫn nói trên). Lúc này, người hoặc nhóm người này trở thành người phát hành quảng cáo, tức họ đang sử dụng lại thông tin quảng cáo để đăng tải trên các trang của mình. Chủ thể này đang thực hiện một trong số các công đoạn quảng cáo và kiếm lợi nhuận, cơ quan chức năng không xử lý được vì không có cơ sở pháp lý để truy cứu nghĩa vụ. Vì vậy, nội dung quảng cáo được truyền tải nhanh chóng, trong khi các thông tin xấu độc vẫn hàng ngày được tạo dựng bởi các chủ thể này. Lý do xuất phát từ việc pháp luật chỉ quan tâm điều chỉnh hành vi vi phạm của người quản lý mạng xã hội mà không xử lý đối với chính đối tượng tạo ra nội dung độc hại đó. Đây cũng chính là bất cập trong quá trình áp dụng luật. 

Bên cạnh đó, nhiều QCTM trên mạng xã hội về việc các cá nhân (không phải là người nổi tiếng, chủ yếu là những người dân được thuê để tham gia quảng cáo), quảng cáo các loại thực phẩm chức năng hoặc thuốc đông y. Nội dung quảng cáo thể hiện quá trình sử dụng hiệu quả (từ lúc người này mua sản phẩm để sử dụng, đến khi sản phẩm phát huy hiệu quả). Trên thực tế, không rõ hiệu quả sản phẩm quảng cáo có đúng như chất lượng mà quảng cáo cung cấp hay không. Giả thiết, sản phẩm quảng cáo này sai lệch thông tin và không đúng như hiệu quả sản phẩm được quảng cáo, vậy cơ chế để kiểm soát tình trạng quảng cáo này là gì? Hiện pháp luật chưa quy định rõ. 

Ba là, trường hợp các sản phẩm quảng cáo chứa nội dung quảng cáo thuốc, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc đã và đang là vấn nạn khó giải quyết tại Việt Nam. Theo số liệu của Cục Quản lý y dược cổ truyền (Bộ Y tế), chỉ có 30 trong số 1.548 cơ sở y học cổ truyền tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh được thanh, kiểm tra. Ðây là con số quá thấp trong khi thực tế tình trạng quảng cáo thuốc y học cổ truyền không rõ nguồn gốc tràn lan trên mạng xã hội”. Tại Việt Nam, hiện nay có khoảng 6.000 doanh nghiệp kinh doanh quảng cáo. Tuy vậy, các doanh nghiệp QCTM trên mạng xã hội gặp lúng túng hoặc cố tình lách luật vì các quy định về đối tượng QCTM nói chung được áp dụng cho cả QCTM trên mạng xã hội, pháp luật chưa thực sự phù hợp và bắt kịp xu hướng phát triển và tính đặc thù của loại hình quảng cáo này. Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ VHTT và DL trong việc phổ biến quy định của pháp luật về quảng cáo, rà soát và đánh giá tính phù hợp trong các văn bản pháp luật liên quan, phát hiện và xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm về quảng cáo hàng hoá, dịch vụ đặc biệt thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế. Đồng thời, Bộ Y tế cũng phối hợp với Bộ TTTT xác nhận về nội dung quảng cáo hàng hoá, dịch vụ thuộc lĩnh vực đặc biệt của Bộ Y tế. Tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý QCTM trên mạng xã hội không thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế, vì vậy Cục An toàn thực phẩm phối hợp và đôn đốc Bộ TTTT để xử lý vi phạm. Bộ TTTT cũng gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý đối với quảng cáo sai phạm của người phát hành quảng cáo trên mạng xã hội, trong trường hợp chủ thể này có máy chủ đặt ở nước ngoài. Mặt khác, tình trạng quảng cáo thực phẩm chức năng, các loại thuốc hoặc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác thuộc các sản phẩm bị cấm theo quy định của LQC 2012 diễn ra rất phổ biến, tuy nhiên việc thiếu cơ chế quản lý nội dung, hình thức bài viết đăng tải… là lý do khiến các chủ thể quảng cáo lách luật để tiến hành đưa thông tin quảng cáo bằng mọi cách để tiếp cận người tiêu dùng, đưa các thông tin quảng cáo không trung thực, không lành mạnh. 

Bốn là, cơ quan chức năng đã phát hiện ra hai hình thức có biểu hiện lách luật đối với các quảng cáo tại mạng xã hội Youtube khiến việc kiểm soát nội dung sản phẩm QCTM trên mạng xã hội gặp nhiều khó khăn: 

  1. Chèn sản phẩm quảng cáo trong các video có nội dung xấu độc, tùy tiện về thời lượng, tần suất xuất hiện. Các clip có nội dung xấu độc trên Youtube lại xuất hiện quảng cáo của các nhãn hàng đang kinh doanh tại thị trường Việt Nam, ví dụ như sản phẩm Vaseline, Comfort; Vinhomes, Samsung Việt Nam,...; Dù người sử dụng đang xem các nội dung giải trí lành mạnh trên Youtube, chẳng hạn như ca nhạc trong nước, tính năng gợi ý video liên quan ở bên phải giao diện màn hình Youtube vẫn cố tình giới thiệu kèm thêm các clip chứa nội dung xấu độc, chống phá Nhà nước Việt Nam. Các nội dung quảng cáo trên đều đã qua kiểm duyệt và cấp phép quảng cáo tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là các nội dung quảng cáo này lại được phát trong các clip xấu độc trên Youtube, có thể ngay đầu clip hoặc chèn giữa hay cuối nội dung clip.

Lý do Youtube thực hiện việc chèn clip quảng cáo nói trên là: (i) Youtube đang tận dụng môi trường internet để buông lỏng khâu kiểm duyệt, quản lý, xử lý nội dung quảng cáo. Youtube, Facebook, Google chiếm 80% tổng doanh thu quảng cáo, tuy nhiên những doanh nghiệp này áp dụng cơ chế hậu kiểm. Chính cơ chế hậu kiểm tồn tại những hạn chế như thiếu chặt chẽ, không có sự phối hợp cơ quan chức năng trước khi đưa nội dung quảng cáo lên phương tiện điện tử. Khi có khiếu nại các doanh nghiệp này sẽ giải quyết theo mặc định bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI); (ii) Các nền tảng quảng cáo này đặt máy chủ ở nước ngoài nên Việt Nam khó kiểm soát; (iii) Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối với hoạt động quảng cáo trên trang thông tin điện tử xuyên biên giới, trong trường hợp trang thông tin điện tử xuyên biên giới có phát sinh doanh thu quảng cáo tại Việt Nam thì phải thực hiện thông báo bằng văn bản cho Bộ VHTT và DL. Tuy nhiên, trường hợp nói trên Youtube không thực hiện thủ tục thông báo mà đã thể hiện các nội dung quảng cáo, các đại lý quảng cáo không báo cáo với cơ quan Nhà nước về hoạt động thực hiện dịch vụ quảng cáo có liên quan đến doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới. Bộ VHTT và DL đã tiến hành kiểm tra và xử phạt hành vi không thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP, tuy nhiên trên thực tế còn rất nhiều đại lý quảng cáo và cả Youtube vi phạm nghĩa vụ thông báo. 

  1. Chèn quảng cáo thuốc, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc trên các nền tảng quảng cáo xuyên biên giới. Tìm hiểu từ Google Ads,[9] để một quảng cáo được chạy trên nền tảng Youtube phải thông qua các bước kiểm duyệt khác nhau. Đầu tiên, khi người quảng cáo/ người phát hành quảng cáo đưa sản phẩm quảng cáo, chương trình quảng cáo trực tuyến của Google sẽ bắt đầu quy trình xem xét nội dung như: hình ảnh, video, tiêu đề, nội dung mô tả về hàng hoá, dịch vụ. Nội dung quảng cáo lúc này chưa được đăng tải mà vẫn đang giai đoạn “đang được xem xét”. Sau đó, khi chương trình quảng cáo trực tuyến của Google thấy rằng nội dung quảng cáo đã đạt chuẩn thì sẽ chuyển sản phẩm quảng cáo này sang trạng thái “đủ điều kiện” và bắt đầu chạy quảng cáo. Tuy nhiên, nếu nội dung quảng cáo rơi vào trường hợp các sản phẩm quảng cáo bị cấm như rượu, thuốc chữa bệnh nằm trong danh sách cấm quảng cáo… thì tuyệt nhiên doanh nghiệp sẽ không được quảng cáo trên nền tảng Youtube của Google Ads.

 Thực tế vì sao nhiều tổ chức, cá nhân vẫn chèn các mẫu quảng cáo thuốc không rõ nguồn gốc là vì các lý do cơ bản sau đây: Thứ nhất: Trong danh sách các chất không được chấp thuận quảng cáo của Google lại không có thuốc đông y. Vì vậy, các tổ chức, cá nhân lách luật bằng cách liệt kê trong nội dung là sản phẩm quảng cáo thuốc đông y, trong khi đó Google Ads duyệt nội dung quảng cáo thông qua thuật toán nên rất khó xác định đâu là thuốc bị cấm quảng cáo. Thứ hai: Theo quy định trong chương trình quảng cáo trực tuyến của Google, không cho phép nhập số điện thoại trong văn bản quảng cáo, thay vào đó là sử dụng tiện ích cuộc gọi. Quy định là vậy, tuy nhiên với đặc thù quảng cáo trên Youtube là quảng cáo bằng video, nên các tổ chức, cá nhân cố tình đưa số điện thoại chèn lên giao diện của video để giúp khách hàng dễ dàng liên hệ. Đây chính là hai lý do cơ bản khiến tình trạng quảng cáo “thần dược” xuất hiện tràn lan trong thời gian gần đây. 

Theo Bộ TTTT (Cục An toàn thông tin) năm 2021, Bộ TTTT đã phối hợp với cơ quan chức năng xử lý, ngăn chặn 1000 trang thông tin điện tử vi phạm pháp luật quảng cáo. Năm 2020, chặn 500 video quảng cáo sai phạm trên Youtube. Tuy nhiên, so với mức độ phát triển của QCTM trên mạng xã hội thì những con số nêu trên chưa thực sự lớn, bởi lẽ bằng nhiều cách thức khác nhau, chính sách kiểm duyệt nội dung khác nhau, cơ quan chức năng khó có thể phát hiện và ngăn chặn hết các sản phẩm quảng cáo vi phạm về tính hợp pháp, trung thực, chính xác trên mạng xã hội. Nguyên nhân dẫn đến các thực trạng nói trên là do quy định của pháp luật về quản lý sản phẩm quảng cáo trên mạng xã hội hiện nay còn nhiều hạn chế, cụ thể như sau: 

Thứ nhất: Pháp luật chưa có quy định đặc thù về nội dung quảng cáo thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng trên mạng xã hội 

Về quảng cáo thuốc chữa bệnh, Nghị định số 54/2017/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Dược 2016 quy định quảng cáo thuốc trên báo điện tử, trang thông tin điện tử, thiết bị điện tử, màn hình chuyên quảng cáo và các phương tiện quảng cáo khác phải tuân theo quy định pháp luật về quảng cáo. Nội dung quảng cáo có âm thanh phải trình bày nội dung quảng cáo như đối với báo nói, báo hình, bao gồm đầy đủ các thông tin: Tên thuốc; Thành phần dược chất hoặc dược liệu ghi trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đã được phê duyệt. Đối với dược liệu phải viết tên tiếng Việt, trường hợp không có tên tiếng Việt thì ghi tên La - tin; Chỉ định; Chống chỉ định, những khuyến cáo cho đối tượng đặc biệt (phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú, trẻ em, người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính); Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất thuốc; Lời dặn "Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng"; Đồng thời, Điều 126 Nghị định số 54/2017/NĐ-CP quy định  các thông tin, hình ảnh không được sử dụng trong nội dung quảng cáo thuốc, ví dụ như: Các nội dung tạo ra cách hiểu: Thuốc này là số một; thuốc này là tốt hơn tất cả; sử dụng thuốc này là biện pháp tốt nhất; sử dụng thuốc này không cần ý kiến của thầy thuốc; thuốc này hoàn toàn vô hại; thuốc không có chống chỉ định; thuốc không có tác dụng không mong muốn; thuốc không có tác dụng có hại; Không được sử dụng các từ, cụm từ: “điều trị tận gốc”, “tiệt trừ”, “chuyên trị”, “hàng đầu”, “đầu bảng”, “đầu tay”, “lựa chọn”, “chất lượng cao”, “đảm bảo 100%”, “an toàn”, “dứt”, “cắt đứt”, “chặn đứng”, “giảm ngay”, “giảm liền”, “giảm tức thì”, “khỏi ngay”, “khỏi hẳn”, “yên tâm”, “không lo”, “khỏi lo”, “khuyên dùng”, “hotline”, “điện thoại tư vấn” và các từ, cụm từ có ý nghĩa tương tự. Như vậy, mặc dù đã có văn bản quy định cụ thể về nội dung quảng cáo thuốc, trong đó có đề cập đến các chỉ định không đưa vào nội dung thuốc, tuy nhiên với sự phát triển và lan truyền mạnh mẽ của quảng cáo thuốc trên mạng xã hội, quy định những thông tin cấm đưa vào nội dung quảng cáo trong pháp luật Việt Nam là chưa đủ, chưa điều chỉnh hết những nguy cơ từ hoạt động quảng cáo này. 

Về quảng cáo thực phẩm chức năng, theo điểm đ, khoản 4 Điều 20 LQC 2012 và Điều 5 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP, Điều 7 Thông tư số 09/2015/TT-BYT, nội dung quảng cáo thực phẩm chức năng phải đáp ứng những điều kiện cụ thể. Quảng cáo thực phẩm chức năng trên báo nói, báo hình phải thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 5 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP và các nội dung như: Tác dụng chính và các tác dụng phụ (nếu có); Khuyến cáo “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”; Không được quảng cáo thực phẩm chức năng gây hiểu nhầm sản phẩm đó là thuốc. Theo quy định, việc quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt (trừ quảng cáo thức ăn chăn nuôi) chỉ thực hiện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo. Có thể thấy, đây chính là những quy định đặc trưng nhằm điều chỉnh hoạt động quảng cáo trên các phương tiện quảng cáo là báo nói, báo hình. Pháp luật cũng đã có những điều chỉnh nhất định trong quy định về nội dung quảng cáo để phù hợp từng loại phương tiện quảng cáo. 

Tuy vậy, như đã đề cập ở trên, đối với QCTM trên mạng xã hội, pháp luật chưa có quy định đặc thù nhằm xác định rõ những nội dung “cấm” trong sản phẩm quảng cáo khi tổ chức, cá nhân quảng cáo thuốc chữa bệnh hoặc thực phẩm chức năng trên mạng xã hội. Thực tiễn cho thấy, tình trạng quảng cáo thực phẩm chức năng, các loại thuốc chữa bệnh diễn ra rất phổ biến trên mạng xã hội, chủ thể tham gia quảng cáo đa phần là các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, nhân viên y tế… quảng cáo không đúng về công dụng của thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng, điều này đã tác động không nhỏ đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng, kèm theo đó là những hệ lụy về sức khỏe, tài chính, tinh thần. Trong nhiều trường hợp, người tiếp nhận quảng cáo đôi khi không nhận biết đâu là hình ảnh thật của hàng hóa, dịch vụ, đâu là sản phẩm quảng cáo phóng đại sự thật. Ngoài ra, với đặc điểm sử dụng lời nói, hình ảnh rất cụ thể, nêu công dụng hay tác dụng trị bệnh rất hấp dẫn, nói lặp đi, lặp lại rất kỹ (đặc biệt là đối với quảng cáo thực phẩm chức năng, quảng cáo thuốc), sản phẩm quảng cáo khiến người tiếp nhận quảng cáo mặc nhiên cho rằng đó như là thuốc trị bệnh, ít người nghĩ đó là thực phẩm chức năng. Tuy nhiên, việc thiếu cơ chế quản lý nội dung, hình thức bài viết, video quảng cáo đăng tải trên mạng xã hội đối với loại hàng hóa đặc biệt này đang là hạn chế trong pháp luật Việt Nam. 

Tham khảo pháp luật Pháp. Quy định về quản lý nội dung quảng cáo sản phẩm dược của quốc gia này cho thấy, Pháp quy định khá cụ thể và đầy đủ về quy trình thẩm định và điều kiện thẩm định nội dung sản phẩm quảng cáo trên phương tiện kỹ thuật số (quy định này áp dụng cho cả QCTM trên mạng xã hội), kèm những nội dung cần có trong sản phẩm quảng cáo thuốc, chế tài xử lý vi phạm. Cụ thể, Bộ Luật Y tế Cộng đồng của Pháp có các quy định tác động trực tiếp đến QCTM trên mạng xã hội tại Pháp như: 

(i) Quảng cáo sản phẩm thuốc đến người tiêu dùng không được chứa các yếu tố sau: “Có nội dung gợi ý rằng tình trạng sức khỏe có thể trở nên bình thường ngay lập tức nếu sử dụng thuốc”; “Nội dung chứa khuyến nghị từ các nhà khoa học, chuyên gia y tế nhằm khuyến khích người tiêu dùng tiêu thụ các sản phẩm thuốc có liên quan”; “Có sử dụng các hình ảnh đáng sợ về cơ thể người hoặc gây hiểu lầm về những thay đổi trên cơ thể người nhằm chứng minh tác dụng thần kỳ của thuốc”.125 (ii) Về quy trình phê duyệt sản phẩm quảng cáo, theo quy định pháp luật Pháp, sản phẩm quảng cáo phải tuân thủ quy tắc của ANSM (Agence Nationale de Sécurité du Médicament - Cơ quan quản lý dược phẩm và sản phẩm y tế của Pháp). 

Theo đó, công ty quảng cáo phải có bộ phận chuyên trách về y tế để thẩm định sản phẩm quảng cáo của chính doanh nghiệp mình. ANSM là cơ quan phê duyệt nội dung quảng cáo (trong đó bao gồm QCTM trên mạng xã hội), thời hạn có giấy phép là 2 năm và có thể thu hồi nếu không tuân thủ pháp luật.Đặc biệt, cấm sử dụng tính năng “like”, hiển thị số người đã nhấn nút thích trên trang quảng cáo. Ngoài quy định nói trên, các doanh nghiệp QCTM trên mạng xã hội của Pháp có thể tham gia vào tổ chức nghề nghiệp Pháp và các công ty Dược, có tên gọi LEEM.

Những quy định về những nội dung cần có trong nội dung quảng cáo cùng quy định về chế tài xử phạt trong pháp luật quảng cáo của Pháp sẽ là kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về QCTM trên mạng xã hội về sản phẩm quảng cáo. 

Tham khảo pháp luật Trung Quốc. Luật Quảng cáo Trung Quốc (sửa đổi, bổ sung 2021) đặc biệt nhấn mạnh đến nội dung quảng cáo thực phẩm chức năng, chế tài xử phạt khi có hành vi vi phạm, luật này được áp dụng điều chỉnh cả hành vi quảng cáo trên mạng xã hội. Theo đó, quảng cáo thực phẩm tốt cho sức khỏe không được có các nội dung sau đây: (i) Khẳng định và bảo đảm tính hiệu quả, an toàn của thực phẩm này; (ii) Có chức năng phòng và chữa bệnh; (iii) Ngụ ý rằng sản phẩm chức năng này là cần thiết để bảo vệ sức khỏe; (iv) So sánh các loại thuốc và thực phẩm tốt cho sức khỏe khác; (v) Sử dụng người phát ngôn nhằm chứng nhận về hàng hóa, dịch vụ là tốt. Nếu sản phẩm quảng cáo có chứa nội dung thứ nhất (i) và thứ năm (v) thì người quảng cáo sẽ bị tịch thu nguồn lợi bất chính, phạt tiền không dưới 1 lần nhưng không quá 2 lần số tiền thu lợi bất chính. Có thể thấy, Luật Quảng cáo sửa đổi của Trung Quốc đã có quy định cụ thể, chi tiết nhằm vào hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội nói riêng và quảng cáo trên các phương tiện truyền thông nói chung. Những yếu tố “bị cấm”, cùng quy định chế tài nói trên là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi hoàn thiện quy định về sản phẩm quảng cáo thực phẩm chức năng trên mạng xã hội. 

Tham khảo quy định của DuBai. Năm 2021, Bộ phận tiêu chuẩn và chính sách y tế DuBai ban hành “Tiêu chuẩn về nội dung quảng cáo y tế trên mạng xã hội”. Đây là bản tiêu chuẩn đầy đủ quy định về những điều kiện về nội dung, hình thức, điều kiện quảng cáo liên quan đến y tế (bao gồm thuốc, các dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, các vật tư y tế…). Chuyên gia chăm sóc sức khỏe phải tự chịu trách nhiệm về tất cả nội dung quảng cáo trên tài khoản cá nhân của họ nếu không đề cập đến cơ sở y tế. Không quảng cáo, đề cập đến lợi ích của các nội dung liên quan đến y tế trên mạng xã hội, trừ khi mình là một chuyên gia chăm sóc sức khỏe. 

Tham khảo pháp luật của Pháp, Trung Quốc, DuBai có thể thấy đặc điểm chung của pháp luật 3 quốc gia này đều tập trung quy định cụ thể về nội dung sản phẩm quảng cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ “đặc biệt” trên mạng xã hội. Theo đó, một trong những nội dung bị “cấm” đưa vào sản phẩm quảng cáo là các khuyến cáo từ các nhà khoa học, chuyên gia y tế nhằm chứng nhận về hàng hóa, dịch vụ là tốt. Pháp luật các quốc gia này đã nắm bắt được xu hướng phát triển quảng cáo trên mạng xã hội cùng thực trạng các sản phẩm quảng cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt trên mạng xã hội. So sánh với pháp luật một số quốc gia nói trên, pháp luật Việt Nam mặc dù đã có những quy định điều chỉnh liên quan đến sản phẩm quảng cáo là thuốc, thực phẩm chức năng trên báo nói, báo hình. Tuy nhiên, pháp luật chưa điều chỉnh đến các quy định đặc thù về nội dung quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ “đặc biệt” trên mạng xã hội, thiếu chế tài đối với các hành vi vi phạm về nội dung quảng cáo thuốc, thực phẩm chức năng trên mạng xã hội là hạn chế của pháp luật, vì vậy cần thiết phải quy định bổ sung nhằm thích ứng với quảng cáo trên môi trường kỹ thuật số. 

Thứ hai: Pháp luật quy định về thời gian chờ tắt quảng cáo trên báo chí nhưng không kiểm soát thời gian chờ tắt, tần suất xuất hiện QCTM trên mạng xã hội đã phần nào dẫn đến việc khó kiểm soát nội dung sản phẩm QCTM trên mạng xã hội. 

Để quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo ở Việt Nam và ở nước ngoài, tổ chức cá nhân nước người trên lãnh thổ Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2021/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo. Nghị định số 38/2021/NĐ-CP quy định “không cho phép thời gian chờ tắt hoặc mở quảng cáo vượt quá 1,5 giây đối với quảng cáo trên báo chí”. Quy định này nhằm bảo vệ người tiếp nhận quảng cáo. Tuy nhiên, mặt trái của Nghị định lại vô tình tạo bất lợi cho ngành báo chí, bởi quảng cáo là thu nhập chính của các tờ báo điện tử, ở khía cạnh khác, quy định nói trên tạo điều kiện để doanh nghiệp lựa chọn các mạng xã hội như Youtube, Facebook … (nơi mà quảng cáo có thể kéo dài hơn 5 giây hoặc hơn) trong bối cảnh tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay. Trong đại dịch Covid 19, các doanh nghiệp vì giãn cách, có nhu cầu sử dụng các kênh báo chí nhiều hơn để tiếp cận công chúng. Nghị định số 38/2021/NĐ-CP như một rào cản khiến việc quảng bá sản phẩm, dịch vụ khó khăn hơn. Người quảng cáo không được sử dụng kênh báo chí hiệu quả sẽ chuyển sang các nền tảng khác mà việc thu thuế hiện là vấn đề nan giải. Đồng thời, quy định trên tạo sự bất lợi cho doanh nghiệp trong nước bởi sự cạnh tranh bất bình đẳng giữa các chủ thể, và hơn hết, động lực phát triển ngành kinh tế sáng tạo sẽ bị suy giảm đáng kể.Từ góc độ này, chính người tiếp nhận quảng cáo cũng bị ảnh hưởng, bởi lẽ các mạng xã hội sẽ không chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin như báo chính thống được. 

Theo tài liệu tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2020 của Bộ TTTT giữa năm 2020, lĩnh vực phát thanh - truyền hình đang đứng trước thách thức chưa từng có, nhiều kênh truyền hình liên kết đang gặp khó khăn, miếng bánh quảng cáo chuyển mạnh sang các nền tảng xuyên biên giới như: Youtube, Facebook. Doanh thu từ hoạt động quảng cáo của các đài phát thanh, truyền hình trong năm 2020 đạt 7.250 tỷ đồng, giảm tới 25% so với năm 2019.133 Ngoài ra, doanh thu quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam khoảng 630 triệu USD/năm (khoảng 14.500 tỷ đồng), trong khi đó, tổng doanh thu của báo chí điện tử mỗi năm chỉ khoảng trên 4.000 tỷ đồng. Có thể thấy, quy định về hạn chế thời gian tắt, mở quảng cáo cùng chế tài xử phạt đối với quảng cáo trên báo chí sẽ tác động xấu hơn nữa tình hình hoạt động của các phương tiện quảng cáo khác, bao gồm quảng cáo trên báo chí và trang thông tin điện tử nhưng lại là điều kiện phát triển thị phần QCTM trên mạng xã hội vì việc không kiểm soát tần suất, thời lượng QCTM trên mạng xã hội phần nào cũng dẫn đến thông tin quảng cáo tràn lan, điều này tác động đến việc đảm bảo tính trung thực, chính xác, hợp pháp của sản phẩm quảng cáo. 

Theo Võ Thị Thanh Linh

Link: Tại đây

avatar
Lã Thị Ái Vi
972 ngày trước
Sản phẩm quảng cáo thương mại trên mạng xã hội
3.2. Sản phẩm quảng cáo thương mại trên mạng xã hội 3.2.1. Quy định của pháp luật hiện hành về sản phẩm quảng cáo thương mại trên mạng xã hội Theo quy định tại Khoản 3, Điều 2, LQC 2012, “Sản phẩm quảng cáo bao gồm nội dung và hình thức quảng cáo được thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng và các hình thức tương tự”.  Sản phẩm QCTM trên mạng xã hội được thể hiện dưới các hình thức video, clip quảng cáo, thông điệp quảng cáo được phát hành trên mạng xã hội. Khác với các phương tiện quảng cáo truyền thống với hình ảnh “tĩnh”, cố định và không thay đổi (ví dụ quảng cáo ngoài trời), sản phẩm QCTM trên mạng xã hội có đặc điểm là được thể hiện bằng bài viết có thể kèm hình ảnh, video mang tính “động” và có phần “hư cấu”. Hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, màu sắc đa dạng, kỹ xảo hấp dẫn khiến sản phẩm Sản phẩm QCTM trên mạng xã hội có những nét đặc trưng cơ bản. Về nội dung: Quy định về nội dung các thông tin quảng cáo cần có sự phù hợp với các văn bản pháp lý liên quan đến đối tượng do cơ quan Nhà nước quản lý lĩnh vực chuyên môn cấp phép như các loại giấy phép, giấy xác nhận... Để sản phẩm quảng cáo chất lượng, hiệu quả, tuân thủ quy định của pháp luật thì sản phẩm quảng cáo trên mạng xã hội phải đáp ứng yêu cầu nội dung quảng cáo. Theo quy định, tất cả các sản phẩm quảng cáo đều phải đảm bảo nội dung “trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây hại đến người sản xuất, kinh doanh và người tiếp thị”. Yếu tố “trung thực, chính xác, rõ ràng” không được giải thích rõ trong LTM 2005 và LQC 2012, xét ở góc độ QCTM nói chung, để thể hiện tính “trung thực, chính xác, rõ ràng” đòi hỏi nội dung sản phẩm quảng cáo phải nêu rõ tính ưu việt, tiện ích của sản phẩm, không quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn, không phóng đại sự thật. Tuy vậy, trong QCTM trên mạng xã hội, việc kiểm soát các yếu tố nói trên gặp nhiều khó khăn do đặc thù phương tiện quảng cáo này được thực hiện trên môi trường số. Nhìn chung, LQC 2012 và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP, các văn bản pháp luật có liên quan đã có những quy định cụ thể nhằm quy định về sản phẩm quảng cáo. Theo đó, doanh nghiệp phải tìm hiểu các quy định về (i) Những quảng cáo trên phương tiện nào phải đăng ký xác nhận nội dung; (ii) Những sản phẩm nào phải đăng ký; (iii) Điều kiện đăng ký;114 (iv) Trình tự, thủ tục đăng ký; (v) Trường hợp thẩm định nội dung quảng cáo.116 Trong hoạt động QCTM trên mạng xã hội và QCTM nói chung, không phải mọi sản phẩm quảng cáo đều phải thông qua bước thẩm định nội dung quảng cáo trước khi phát sóng quảng cáo. Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo tiến hành thẩm định sản phẩm quảng cáo theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân trong các trường hợp sau: (i) Sản phẩm quảng cáo có nội dung liên quan đến quy định tại Điều 7 và Điều 8 của LQC 2012; (ii) Sản phẩm quảng cáo bị người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo từ chối thực hiện do không đảm bảo về tính hợp pháp của sản phẩm quảng cáo; (iii) Có ý kiến khác nhau về nội dung sản phẩm quảng cáo giữa cơ quan quản lý Nhà nước với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quảng cáo; Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Về hình thức: Hình thức biểu hiện của sản phẩm quảng cáo bao gồm tiếng nói, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc hình thức tương tự có khả năng truyền đạt nội dung quảng cáo đến công chúng.Như đã đề cập, hình thức thể hiện của sản phẩm QCTM trên mạng xã hội có âm thanh, tiếng nói rõ ràng, màu sắc đa dạng, kỹ xảo hấp dẫn và mang tính “động”, được trao đổi, chia sẻ đến nhiều người người dùng khác nhau, đây là công cụ để truyền tải sản phẩm quảng cáo hiệu quả đến người tiếp nhận quảng cáo. 3.2.2. Một số bất cập trong quy định pháp luật từ thực tiễn thực thi Tại Việt Nam, Ngày 03/11/2020, Bộ TTTT đã có Công văn số 4295/BTTTT- CBC đề nghị các cơ quan báo chí có loại hình báo điện tử, tạp chí điện tử: (i) Có biện pháp chấn chỉnh hoạt động phát hành quảng cáo do các mạng lưới quảng cáo (Adnetwork) xuyên biên giới cung cấp; Triển khai các biện pháp kỹ thuật kiểm soát, ngăn chặn các quảng cáo vi phạm pháp luật. (ii) Thận trọng trong việc lựa chọn mạng lưới quảng cáo (Adnetwork) xuyên biên giới để hợp tác nhằm đảm bảo hoạt động quảng cáo tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Khi thực hiện phát hành quảng cáo do các mạng lưới quảng cáo (Adnetwork) xuyên biên giới cung cấp, cần tăng cường công tác kiểm soát nội dung, vị trí, ngôn ngữ quảng cáo, nhất là đường link quảng cáo do các mạng lưới quảng cáo (Adnetwork) xuyên biên giới cung cấp. Mặc dù đã được Bộ TTTT đưa ra các khuyến cáo, tuy nhiên hiện tượng vi phạm các quy định liên quan đến kiểm soát sản phẩm quảng cáo vẫn diễn ra. Tuy nhiên, trên thực tế còn tồn tại nhiều khó khăn trong thực tiễn, cụ thể là: Một là, Nhà nước gặp khó khăn trong việc quản lý nội dung quảng cáo trên các nền tảng không có hiện diện thương mại tại Việt Nam. Lý do xuất phát từ cả 2 phía là đại lý quảng cáo và từ phía doanh nghiệp, về phía khách hàng, giá rẻ là lý do mà họ lựa chọn. Việc xác định nghĩa vụ của các mạng lưới quảng cáo, Google và Facebook chưa có pháp nhân tại Việt Nam nên nghĩa vụ kiểm soát thông tin của các mạng lưới quảng cáo này khá khó khăn. Để quảng cáo đến với người tiếp nhận quảng cáo, các Ad Network có vai trò rất lớn. Đây là đơn vị phân phối mẫu quảng cáo của nhãn hàng hoặc các đại lý trên các nền tảng số. Mạng lưới quảng cáo có nhiều nền tảng trong hệ thống thì càng có lợi thế và được nhiều doanh nghiệp lựa chọn. Việc kiểm soát tất cả các mạng lưới, các nền tảng quảng cáo là thách thức đối với cơ quan quản lý Nhà nước về QCTM trên mạng xã hội. Hai là, hiện nay có trường hợp một người hoặc một nhóm người, hoặc một nhóm thương nhân dùng chung một tài khoản để tạo các thông tin hấp dẫn, thu hút người xem trên mạng xã hội nhằm đạt được mục đích quảng cáo (do các chủ thể này gắn các mẫu quảng cáo vào các thông tin hấp dẫn nói trên). Lúc này, người hoặc nhóm người này trở thành người phát hành quảng cáo, tức họ đang sử dụng lại thông tin quảng cáo để đăng tải trên các trang của mình. Chủ thể này đang thực hiện một trong số các công đoạn quảng cáo và kiếm lợi nhuận, cơ quan chức năng không xử lý được vì không có cơ sở pháp lý để truy cứu nghĩa vụ. Vì vậy, nội dung quảng cáo được truyền tải nhanh chóng, trong khi các thông tin xấu độc vẫn hàng ngày được tạo dựng bởi các chủ thể này. Lý do xuất phát từ việc pháp luật chỉ quan tâm điều chỉnh hành vi vi phạm của người quản lý mạng xã hội mà không xử lý đối với chính đối tượng tạo ra nội dung độc hại đó. Đây cũng chính là bất cập trong quá trình áp dụng luật. Bên cạnh đó, nhiều QCTM trên mạng xã hội về việc các cá nhân (không phải là người nổi tiếng, chủ yếu là những người dân được thuê để tham gia quảng cáo), quảng cáo các loại thực phẩm chức năng hoặc thuốc đông y. Nội dung quảng cáo thể hiện quá trình sử dụng hiệu quả (từ lúc người này mua sản phẩm để sử dụng, đến khi sản phẩm phát huy hiệu quả). Trên thực tế, không rõ hiệu quả sản phẩm quảng cáo có đúng như chất lượng mà quảng cáo cung cấp hay không. Giả thiết, sản phẩm quảng cáo này sai lệch thông tin và không đúng như hiệu quả sản phẩm được quảng cáo, vậy cơ chế để kiểm soát tình trạng quảng cáo này là gì? Hiện pháp luật chưa quy định rõ. Ba là, trường hợp các sản phẩm quảng cáo chứa nội dung quảng cáo thuốc, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc đã và đang là vấn nạn khó giải quyết tại Việt Nam. Theo số liệu của Cục Quản lý y dược cổ truyền (Bộ Y tế), chỉ có 30 trong số 1.548 cơ sở y học cổ truyền tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh được thanh, kiểm tra. Ðây là con số quá thấp trong khi thực tế tình trạng quảng cáo thuốc y học cổ truyền không rõ nguồn gốc tràn lan trên mạng xã hội”. Tại Việt Nam, hiện nay có khoảng 6.000 doanh nghiệp kinh doanh quảng cáo. Tuy vậy, các doanh nghiệp QCTM trên mạng xã hội gặp lúng túng hoặc cố tình lách luật vì các quy định về đối tượng QCTM nói chung được áp dụng cho cả QCTM trên mạng xã hội, pháp luật chưa thực sự phù hợp và bắt kịp xu hướng phát triển và tính đặc thù của loại hình quảng cáo này. Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ VHTT và DL trong việc phổ biến quy định của pháp luật về quảng cáo, rà soát và đánh giá tính phù hợp trong các văn bản pháp luật liên quan, phát hiện và xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm về quảng cáo hàng hoá, dịch vụ đặc biệt thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế. Đồng thời, Bộ Y tế cũng phối hợp với Bộ TTTT xác nhận về nội dung quảng cáo hàng hoá, dịch vụ thuộc lĩnh vực đặc biệt của Bộ Y tế. Tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý QCTM trên mạng xã hội không thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế, vì vậy Cục An toàn thực phẩm phối hợp và đôn đốc Bộ TTTT để xử lý vi phạm. Bộ TTTT cũng gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý đối với quảng cáo sai phạm của người phát hành quảng cáo trên mạng xã hội, trong trường hợp chủ thể này có máy chủ đặt ở nước ngoài. Mặt khác, tình trạng quảng cáo thực phẩm chức năng, các loại thuốc hoặc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác thuộc các sản phẩm bị cấm theo quy định của LQC 2012 diễn ra rất phổ biến, tuy nhiên việc thiếu cơ chế quản lý nội dung, hình thức bài viết đăng tải… là lý do khiến các chủ thể quảng cáo lách luật để tiến hành đưa thông tin quảng cáo bằng mọi cách để tiếp cận người tiêu dùng, đưa các thông tin quảng cáo không trung thực, không lành mạnh. Bốn là, cơ quan chức năng đã phát hiện ra hai hình thức có biểu hiện lách luật đối với các quảng cáo tại mạng xã hội Youtube khiến việc kiểm soát nội dung sản phẩm QCTM trên mạng xã hội gặp nhiều khó khăn: Chèn sản phẩm quảng cáo trong các video có nội dung xấu độc, tùy tiện về thời lượng, tần suất xuất hiện. Các clip có nội dung xấu độc trên Youtube lại xuất hiện quảng cáo của các nhãn hàng đang kinh doanh tại thị trường Việt Nam, ví dụ như sản phẩm Vaseline, Comfort; Vinhomes, Samsung Việt Nam,...; Dù người sử dụng đang xem các nội dung giải trí lành mạnh trên Youtube, chẳng hạn như ca nhạc trong nước, tính năng gợi ý video liên quan ở bên phải giao diện màn hình Youtube vẫn cố tình giới thiệu kèm thêm các clip chứa nội dung xấu độc, chống phá Nhà nước Việt Nam. Các nội dung quảng cáo trên đều đã qua kiểm duyệt và cấp phép quảng cáo tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là các nội dung quảng cáo này lại được phát trong các clip xấu độc trên Youtube, có thể ngay đầu clip hoặc chèn giữa hay cuối nội dung clip.Lý do Youtube thực hiện việc chèn clip quảng cáo nói trên là: (i) Youtube đang tận dụng môi trường internet để buông lỏng khâu kiểm duyệt, quản lý, xử lý nội dung quảng cáo. Youtube, Facebook, Google chiếm 80% tổng doanh thu quảng cáo, tuy nhiên những doanh nghiệp này áp dụng cơ chế hậu kiểm. Chính cơ chế hậu kiểm tồn tại những hạn chế như thiếu chặt chẽ, không có sự phối hợp cơ quan chức năng trước khi đưa nội dung quảng cáo lên phương tiện điện tử. Khi có khiếu nại các doanh nghiệp này sẽ giải quyết theo mặc định bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI); (ii) Các nền tảng quảng cáo này đặt máy chủ ở nước ngoài nên Việt Nam khó kiểm soát; (iii) Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối với hoạt động quảng cáo trên trang thông tin điện tử xuyên biên giới, trong trường hợp trang thông tin điện tử xuyên biên giới có phát sinh doanh thu quảng cáo tại Việt Nam thì phải thực hiện thông báo bằng văn bản cho Bộ VHTT và DL. Tuy nhiên, trường hợp nói trên Youtube không thực hiện thủ tục thông báo mà đã thể hiện các nội dung quảng cáo, các đại lý quảng cáo không báo cáo với cơ quan Nhà nước về hoạt động thực hiện dịch vụ quảng cáo có liên quan đến doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới. Bộ VHTT và DL đã tiến hành kiểm tra và xử phạt hành vi không thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP, tuy nhiên trên thực tế còn rất nhiều đại lý quảng cáo và cả Youtube vi phạm nghĩa vụ thông báo. Chèn quảng cáo thuốc, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc trên các nền tảng quảng cáo xuyên biên giới. Tìm hiểu từ Google Ads,[9] để một quảng cáo được chạy trên nền tảng Youtube phải thông qua các bước kiểm duyệt khác nhau. Đầu tiên, khi người quảng cáo/ người phát hành quảng cáo đưa sản phẩm quảng cáo, chương trình quảng cáo trực tuyến của Google sẽ bắt đầu quy trình xem xét nội dung như: hình ảnh, video, tiêu đề, nội dung mô tả về hàng hoá, dịch vụ. Nội dung quảng cáo lúc này chưa được đăng tải mà vẫn đang giai đoạn “đang được xem xét”. Sau đó, khi chương trình quảng cáo trực tuyến của Google thấy rằng nội dung quảng cáo đã đạt chuẩn thì sẽ chuyển sản phẩm quảng cáo này sang trạng thái “đủ điều kiện” và bắt đầu chạy quảng cáo. Tuy nhiên, nếu nội dung quảng cáo rơi vào trường hợp các sản phẩm quảng cáo bị cấm như rượu, thuốc chữa bệnh nằm trong danh sách cấm quảng cáo… thì tuyệt nhiên doanh nghiệp sẽ không được quảng cáo trên nền tảng Youtube của Google Ads. Thực tế vì sao nhiều tổ chức, cá nhân vẫn chèn các mẫu quảng cáo thuốc không rõ nguồn gốc là vì các lý do cơ bản sau đây: Thứ nhất: Trong danh sách các chất không được chấp thuận quảng cáo của Google lại không có thuốc đông y. Vì vậy, các tổ chức, cá nhân lách luật bằng cách liệt kê trong nội dung là sản phẩm quảng cáo thuốc đông y, trong khi đó Google Ads duyệt nội dung quảng cáo thông qua thuật toán nên rất khó xác định đâu là thuốc bị cấm quảng cáo. Thứ hai: Theo quy định trong chương trình quảng cáo trực tuyến của Google, không cho phép nhập số điện thoại trong văn bản quảng cáo, thay vào đó là sử dụng tiện ích cuộc gọi. Quy định là vậy, tuy nhiên với đặc thù quảng cáo trên Youtube là quảng cáo bằng video, nên các tổ chức, cá nhân cố tình đưa số điện thoại chèn lên giao diện của video để giúp khách hàng dễ dàng liên hệ. Đây chính là hai lý do cơ bản khiến tình trạng quảng cáo “thần dược” xuất hiện tràn lan trong thời gian gần đây. Theo Bộ TTTT (Cục An toàn thông tin) năm 2021, Bộ TTTT đã phối hợp với cơ quan chức năng xử lý, ngăn chặn 1000 trang thông tin điện tử vi phạm pháp luật quảng cáo. Năm 2020, chặn 500 video quảng cáo sai phạm trên Youtube. Tuy nhiên, so với mức độ phát triển của QCTM trên mạng xã hội thì những con số nêu trên chưa thực sự lớn, bởi lẽ bằng nhiều cách thức khác nhau, chính sách kiểm duyệt nội dung khác nhau, cơ quan chức năng khó có thể phát hiện và ngăn chặn hết các sản phẩm quảng cáo vi phạm về tính hợp pháp, trung thực, chính xác trên mạng xã hội. Nguyên nhân dẫn đến các thực trạng nói trên là do quy định của pháp luật về quản lý sản phẩm quảng cáo trên mạng xã hội hiện nay còn nhiều hạn chế, cụ thể như sau: Thứ nhất: Pháp luật chưa có quy định đặc thù về nội dung quảng cáo thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng trên mạng xã hội Về quảng cáo thuốc chữa bệnh, Nghị định số 54/2017/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Dược 2016 quy định quảng cáo thuốc trên báo điện tử, trang thông tin điện tử, thiết bị điện tử, màn hình chuyên quảng cáo và các phương tiện quảng cáo khác phải tuân theo quy định pháp luật về quảng cáo. Nội dung quảng cáo có âm thanh phải trình bày nội dung quảng cáo như đối với báo nói, báo hình, bao gồm đầy đủ các thông tin: Tên thuốc; Thành phần dược chất hoặc dược liệu ghi trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đã được phê duyệt. Đối với dược liệu phải viết tên tiếng Việt, trường hợp không có tên tiếng Việt thì ghi tên La - tin; Chỉ định; Chống chỉ định, những khuyến cáo cho đối tượng đặc biệt (phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú, trẻ em, người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính); Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất thuốc; Lời dặn "Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng"; Đồng thời, Điều 126 Nghị định số 54/2017/NĐ-CP quy định  các thông tin, hình ảnh không được sử dụng trong nội dung quảng cáo thuốc, ví dụ như: Các nội dung tạo ra cách hiểu: Thuốc này là số một; thuốc này là tốt hơn tất cả; sử dụng thuốc này là biện pháp tốt nhất; sử dụng thuốc này không cần ý kiến của thầy thuốc; thuốc này hoàn toàn vô hại; thuốc không có chống chỉ định; thuốc không có tác dụng không mong muốn; thuốc không có tác dụng có hại; Không được sử dụng các từ, cụm từ: “điều trị tận gốc”, “tiệt trừ”, “chuyên trị”, “hàng đầu”, “đầu bảng”, “đầu tay”, “lựa chọn”, “chất lượng cao”, “đảm bảo 100%”, “an toàn”, “dứt”, “cắt đứt”, “chặn đứng”, “giảm ngay”, “giảm liền”, “giảm tức thì”, “khỏi ngay”, “khỏi hẳn”, “yên tâm”, “không lo”, “khỏi lo”, “khuyên dùng”, “hotline”, “điện thoại tư vấn” và các từ, cụm từ có ý nghĩa tương tự. Như vậy, mặc dù đã có văn bản quy định cụ thể về nội dung quảng cáo thuốc, trong đó có đề cập đến các chỉ định không đưa vào nội dung thuốc, tuy nhiên với sự phát triển và lan truyền mạnh mẽ của quảng cáo thuốc trên mạng xã hội, quy định những thông tin cấm đưa vào nội dung quảng cáo trong pháp luật Việt Nam là chưa đủ, chưa điều chỉnh hết những nguy cơ từ hoạt động quảng cáo này. Về quảng cáo thực phẩm chức năng, theo điểm đ, khoản 4 Điều 20 LQC 2012 và Điều 5 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP, Điều 7 Thông tư số 09/2015/TT-BYT, nội dung quảng cáo thực phẩm chức năng phải đáp ứng những điều kiện cụ thể. Quảng cáo thực phẩm chức năng trên báo nói, báo hình phải thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 5 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP và các nội dung như: Tác dụng chính và các tác dụng phụ (nếu có); Khuyến cáo “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”; Không được quảng cáo thực phẩm chức năng gây hiểu nhầm sản phẩm đó là thuốc. Theo quy định, việc quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt (trừ quảng cáo thức ăn chăn nuôi) chỉ thực hiện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo. Có thể thấy, đây chính là những quy định đặc trưng nhằm điều chỉnh hoạt động quảng cáo trên các phương tiện quảng cáo là báo nói, báo hình. Pháp luật cũng đã có những điều chỉnh nhất định trong quy định về nội dung quảng cáo để phù hợp từng loại phương tiện quảng cáo. Tuy vậy, như đã đề cập ở trên, đối với QCTM trên mạng xã hội, pháp luật chưa có quy định đặc thù nhằm xác định rõ những nội dung “cấm” trong sản phẩm quảng cáo khi tổ chức, cá nhân quảng cáo thuốc chữa bệnh hoặc thực phẩm chức năng trên mạng xã hội. Thực tiễn cho thấy, tình trạng quảng cáo thực phẩm chức năng, các loại thuốc chữa bệnh diễn ra rất phổ biến trên mạng xã hội, chủ thể tham gia quảng cáo đa phần là các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, nhân viên y tế… quảng cáo không đúng về công dụng của thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng, điều này đã tác động không nhỏ đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng, kèm theo đó là những hệ lụy về sức khỏe, tài chính, tinh thần. Trong nhiều trường hợp, người tiếp nhận quảng cáo đôi khi không nhận biết đâu là hình ảnh thật của hàng hóa, dịch vụ, đâu là sản phẩm quảng cáo phóng đại sự thật. Ngoài ra, với đặc điểm sử dụng lời nói, hình ảnh rất cụ thể, nêu công dụng hay tác dụng trị bệnh rất hấp dẫn, nói lặp đi, lặp lại rất kỹ (đặc biệt là đối với quảng cáo thực phẩm chức năng, quảng cáo thuốc), sản phẩm quảng cáo khiến người tiếp nhận quảng cáo mặc nhiên cho rằng đó như là thuốc trị bệnh, ít người nghĩ đó là thực phẩm chức năng. Tuy nhiên, việc thiếu cơ chế quản lý nội dung, hình thức bài viết, video quảng cáo đăng tải trên mạng xã hội đối với loại hàng hóa đặc biệt này đang là hạn chế trong pháp luật Việt Nam. Tham khảo pháp luật Pháp. Quy định về quản lý nội dung quảng cáo sản phẩm dược của quốc gia này cho thấy, Pháp quy định khá cụ thể và đầy đủ về quy trình thẩm định và điều kiện thẩm định nội dung sản phẩm quảng cáo trên phương tiện kỹ thuật số (quy định này áp dụng cho cả QCTM trên mạng xã hội), kèm những nội dung cần có trong sản phẩm quảng cáo thuốc, chế tài xử lý vi phạm. Cụ thể, Bộ Luật Y tế Cộng đồng của Pháp có các quy định tác động trực tiếp đến QCTM trên mạng xã hội tại Pháp như: (i) Quảng cáo sản phẩm thuốc đến người tiêu dùng không được chứa các yếu tố sau: “Có nội dung gợi ý rằng tình trạng sức khỏe có thể trở nên bình thường ngay lập tức nếu sử dụng thuốc”; “Nội dung chứa khuyến nghị từ các nhà khoa học, chuyên gia y tế nhằm khuyến khích người tiêu dùng tiêu thụ các sản phẩm thuốc có liên quan”; “Có sử dụng các hình ảnh đáng sợ về cơ thể người hoặc gây hiểu lầm về những thay đổi trên cơ thể người nhằm chứng minh tác dụng thần kỳ của thuốc”.125 (ii) Về quy trình phê duyệt sản phẩm quảng cáo, theo quy định pháp luật Pháp, sản phẩm quảng cáo phải tuân thủ quy tắc của ANSM (Agence Nationale de Sécurité du Médicament - Cơ quan quản lý dược phẩm và sản phẩm y tế của Pháp). Theo đó, công ty quảng cáo phải có bộ phận chuyên trách về y tế để thẩm định sản phẩm quảng cáo của chính doanh nghiệp mình. ANSM là cơ quan phê duyệt nội dung quảng cáo (trong đó bao gồm QCTM trên mạng xã hội), thời hạn có giấy phép là 2 năm và có thể thu hồi nếu không tuân thủ pháp luật.Đặc biệt, cấm sử dụng tính năng “like”, hiển thị số người đã nhấn nút thích trên trang quảng cáo. Ngoài quy định nói trên, các doanh nghiệp QCTM trên mạng xã hội của Pháp có thể tham gia vào tổ chức nghề nghiệp Pháp và các công ty Dược, có tên gọi LEEM.Những quy định về những nội dung cần có trong nội dung quảng cáo cùng quy định về chế tài xử phạt trong pháp luật quảng cáo của Pháp sẽ là kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về QCTM trên mạng xã hội về sản phẩm quảng cáo. Tham khảo pháp luật Trung Quốc. Luật Quảng cáo Trung Quốc (sửa đổi, bổ sung 2021) đặc biệt nhấn mạnh đến nội dung quảng cáo thực phẩm chức năng, chế tài xử phạt khi có hành vi vi phạm, luật này được áp dụng điều chỉnh cả hành vi quảng cáo trên mạng xã hội. Theo đó, quảng cáo thực phẩm tốt cho sức khỏe không được có các nội dung sau đây: (i) Khẳng định và bảo đảm tính hiệu quả, an toàn của thực phẩm này; (ii) Có chức năng phòng và chữa bệnh; (iii) Ngụ ý rằng sản phẩm chức năng này là cần thiết để bảo vệ sức khỏe; (iv) So sánh các loại thuốc và thực phẩm tốt cho sức khỏe khác; (v) Sử dụng người phát ngôn nhằm chứng nhận về hàng hóa, dịch vụ là tốt. Nếu sản phẩm quảng cáo có chứa nội dung thứ nhất (i) và thứ năm (v) thì người quảng cáo sẽ bị tịch thu nguồn lợi bất chính, phạt tiền không dưới 1 lần nhưng không quá 2 lần số tiền thu lợi bất chính. Có thể thấy, Luật Quảng cáo sửa đổi của Trung Quốc đã có quy định cụ thể, chi tiết nhằm vào hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội nói riêng và quảng cáo trên các phương tiện truyền thông nói chung. Những yếu tố “bị cấm”, cùng quy định chế tài nói trên là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi hoàn thiện quy định về sản phẩm quảng cáo thực phẩm chức năng trên mạng xã hội. Tham khảo quy định của DuBai. Năm 2021, Bộ phận tiêu chuẩn và chính sách y tế DuBai ban hành “Tiêu chuẩn về nội dung quảng cáo y tế trên mạng xã hội”. Đây là bản tiêu chuẩn đầy đủ quy định về những điều kiện về nội dung, hình thức, điều kiện quảng cáo liên quan đến y tế (bao gồm thuốc, các dịch vụ chăm sóc sắc đẹp, các vật tư y tế…). Chuyên gia chăm sóc sức khỏe phải tự chịu trách nhiệm về tất cả nội dung quảng cáo trên tài khoản cá nhân của họ nếu không đề cập đến cơ sở y tế. Không quảng cáo, đề cập đến lợi ích của các nội dung liên quan đến y tế trên mạng xã hội, trừ khi mình là một chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Tham khảo pháp luật của Pháp, Trung Quốc, DuBai có thể thấy đặc điểm chung của pháp luật 3 quốc gia này đều tập trung quy định cụ thể về nội dung sản phẩm quảng cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ “đặc biệt” trên mạng xã hội. Theo đó, một trong những nội dung bị “cấm” đưa vào sản phẩm quảng cáo là các khuyến cáo từ các nhà khoa học, chuyên gia y tế nhằm chứng nhận về hàng hóa, dịch vụ là tốt. Pháp luật các quốc gia này đã nắm bắt được xu hướng phát triển quảng cáo trên mạng xã hội cùng thực trạng các sản phẩm quảng cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt trên mạng xã hội. So sánh với pháp luật một số quốc gia nói trên, pháp luật Việt Nam mặc dù đã có những quy định điều chỉnh liên quan đến sản phẩm quảng cáo là thuốc, thực phẩm chức năng trên báo nói, báo hình. Tuy nhiên, pháp luật chưa điều chỉnh đến các quy định đặc thù về nội dung quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ “đặc biệt” trên mạng xã hội, thiếu chế tài đối với các hành vi vi phạm về nội dung quảng cáo thuốc, thực phẩm chức năng trên mạng xã hội là hạn chế của pháp luật, vì vậy cần thiết phải quy định bổ sung nhằm thích ứng với quảng cáo trên môi trường kỹ thuật số. Thứ hai: Pháp luật quy định về thời gian chờ tắt quảng cáo trên báo chí nhưng không kiểm soát thời gian chờ tắt, tần suất xuất hiện QCTM trên mạng xã hội đã phần nào dẫn đến việc khó kiểm soát nội dung sản phẩm QCTM trên mạng xã hội. Để quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo ở Việt Nam và ở nước ngoài, tổ chức cá nhân nước người trên lãnh thổ Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2021/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo. Nghị định số 38/2021/NĐ-CP quy định “không cho phép thời gian chờ tắt hoặc mở quảng cáo vượt quá 1,5 giây đối với quảng cáo trên báo chí”. Quy định này nhằm bảo vệ người tiếp nhận quảng cáo. Tuy nhiên, mặt trái của Nghị định lại vô tình tạo bất lợi cho ngành báo chí, bởi quảng cáo là thu nhập chính của các tờ báo điện tử, ở khía cạnh khác, quy định nói trên tạo điều kiện để doanh nghiệp lựa chọn các mạng xã hội như Youtube, Facebook … (nơi mà quảng cáo có thể kéo dài hơn 5 giây hoặc hơn) trong bối cảnh tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay. Trong đại dịch Covid 19, các doanh nghiệp vì giãn cách, có nhu cầu sử dụng các kênh báo chí nhiều hơn để tiếp cận công chúng. Nghị định số 38/2021/NĐ-CP như một rào cản khiến việc quảng bá sản phẩm, dịch vụ khó khăn hơn. Người quảng cáo không được sử dụng kênh báo chí hiệu quả sẽ chuyển sang các nền tảng khác mà việc thu thuế hiện là vấn đề nan giải. Đồng thời, quy định trên tạo sự bất lợi cho doanh nghiệp trong nước bởi sự cạnh tranh bất bình đẳng giữa các chủ thể, và hơn hết, động lực phát triển ngành kinh tế sáng tạo sẽ bị suy giảm đáng kể.Từ góc độ này, chính người tiếp nhận quảng cáo cũng bị ảnh hưởng, bởi lẽ các mạng xã hội sẽ không chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin như báo chính thống được. Theo tài liệu tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2020 của Bộ TTTT giữa năm 2020, lĩnh vực phát thanh - truyền hình đang đứng trước thách thức chưa từng có, nhiều kênh truyền hình liên kết đang gặp khó khăn, miếng bánh quảng cáo chuyển mạnh sang các nền tảng xuyên biên giới như: Youtube, Facebook. Doanh thu từ hoạt động quảng cáo của các đài phát thanh, truyền hình trong năm 2020 đạt 7.250 tỷ đồng, giảm tới 25% so với năm 2019.133 Ngoài ra, doanh thu quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam khoảng 630 triệu USD/năm (khoảng 14.500 tỷ đồng), trong khi đó, tổng doanh thu của báo chí điện tử mỗi năm chỉ khoảng trên 4.000 tỷ đồng. Có thể thấy, quy định về hạn chế thời gian tắt, mở quảng cáo cùng chế tài xử phạt đối với quảng cáo trên báo chí sẽ tác động xấu hơn nữa tình hình hoạt động của các phương tiện quảng cáo khác, bao gồm quảng cáo trên báo chí và trang thông tin điện tử nhưng lại là điều kiện phát triển thị phần QCTM trên mạng xã hội vì việc không kiểm soát tần suất, thời lượng QCTM trên mạng xã hội phần nào cũng dẫn đến thông tin quảng cáo tràn lan, điều này tác động đến việc đảm bảo tính trung thực, chính xác, hợp pháp của sản phẩm quảng cáo. Theo Võ Thị Thanh LinhLink: Tại đây