0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64dd97211bd51-photo-1505664063603-28e48ca204eb.jpg

Đặc điểm pháp lý của quyền tài sản thế chấp

1.2. Đặc điểm pháp lý của quyền tài sản thế chấp 

Với vai trò là một bộ phận cấu thành của khái niệm tài sản trong pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền tài sản mang đầy đủ những đặc điểm của tài sản nói chung. Bên cạnh đó, để trở thành đối tượng của biện pháp thế chấp, quyền tài sản phải thoả mãn đầy đủ những đặc điểm riêng, cụ thể. 

1.2.1. Quyền tài sản thế chấp luôn tồn tại dưới dạng vô hình 

Khác với các tài sản tồn tại dưới dạng vật thể hữu hình con người có thể nhận biết được qua các giác quan như: ô tô, điện thoại, nhà ở… Các quyền tài sản luôn tồn tại dưới dạng vô hình, con người không thể nhận biết được thông qua các giác quan mà chỉ biết đến sự tồn tại của chúng thông qua các thông tin liên quan đến tài sản (tuỳ từng loại quyền tài sản khác nhau, các thông tin này có thể được đăng ký hoặc không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền). 

Dưới góc độ khoa học pháp lý, căn cứ vào phạm vi có hiệu lực của quyền tài sản, quyền tài sản (các tài sản vô hình) có thể được phân chia thành hai loại: các quyền tài sản tuyệt đối và các quyền tài sản tương đối. Quyền tài sản tuyệt đối là quyền tài sản có hiệu lực với tất cả mọi người còn lại trong xã hội. Chủ thể nắm giữ quyền tài sản tuyệt đối có thể thực hiện quyền của mình thông qua việc khai thác giá trị của quyền tài sản mà không phụ thuộc vào chủ thể mang nghĩa vụ. Các quyền tài sản tuyệt đối có thể kể đến như: quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu, sáng chế, giải pháp hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý…). 

Quyền tài sản tương đối là quyền tài sản chỉ có hiệu lực ràng buộc đối với một chủ thể có nghĩa vụ. Nói cách khác, chủ thể có quyền tài sản tương đối chỉ có thể thỏa mãn quyền của mình thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của một chủ thể khác (chủ thể mang nghĩa vụ luôn được xác định cụ thể). Các quyền tài sản tương đối gồm: quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán phát sinh từ hợp đồng, quyền đối với phần vốn góp doanh nghiệp, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền thuê, mua tài sản phát sinh từ hợp đồng… 

Việc phân biệt này giúp cho các chủ thể xác định được các yếu tố cần thiết khi xác lập biện pháp thế chấp có đối tượng là các quyền tài sản. Do tính chất vô hình của quyền tài sản (không tồn tại dưới các dạng vật thể cụ thể) nên khi lựa chọn loại tài sản này làm tài sản thế chấp, bên nhận thế chấp cần phải xác minh các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của bên thế chấp. Thông thường đó là các loại giấy tờ như: hợp đồng vay có hiệu lực chứng minh cho quyền đòi nợ, hợp đồng mua bán mà bên bán đã giao hàng trước chứng minh cho quyền yêu cầu thanh toán; giấy chứng nhận đăng ký, văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu, sáng chế, hợp đồng bảo hiểm hợp pháp khi nhận thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm… Đặc biệt, khi giao kết hợp đồng cần phân biệt giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản với tài sản, ví dụ: vận đơn và hàng hóa vận chuyển, cổ phiếu và phần vốn góp trong công ty cổ phần… vận đơn chỉ là giấy tờ chứng minh quyền được nhận hàng hóa từ bên vận chuyển, cổ phiếu chứng minh cho quyền đối với phần vốn góp trong công ty cổ phần; tài sản thế chấp trong các trường hợp này là hàng hoá ghi trong vận đơn và quyền đối với phần vốn góp trong công ty cổ phần mà không phải là các loại giấy tờ vận đơn hay cổ phiếu. 

1.2.2. Quyền tài sản thế chấp không phải là quyền tài sản gắn liền với yếu tố nhân thân 

Xuất phát từ bản chất của biện pháp thế chấp nhằm đảm bảo thực hiện cho nghĩa vụ của bên thế chấp đối với bên nhận thế chấp, khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ, nếu không thể thoả thuận được về cách thức giải quyết, BLDS cho phép bên nhận thế chấp được xử lý tài sản thế chấp – “bán” tài sản thế chấp để khấu trừ cho nghĩa vụ bị vi phạm. Để có thể “bán” cho các chủ thể khác thì quyền tài sản là đối tượng của hợp đồng thế chấp phải thoả mãn các điều kiện sau: Một là, quyền tài sản thế chấp không phải là quyền tài sản luật cấm chuyển dịch quyền sở hữu. Với những quyền tài sản luật cấm chuyển dịch quyền sở hữu thì không thể trở thành đối tượng của biện pháp thế chấp. Ví dụ, quyền đối với phần vốn góp vào doanh nghiệp giới hạn không được chuyển nhượng theo điều lệ công ty hoặc do Luật Doanh nghiệp quy định (trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông). Hai là, quyền tài sản thế chấp không phải là những quyền tài sản gắn liền với yếu tố nhân thân. Nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của một chủ thể nào đó trong những trường hợp xác định, hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận, các quyền tài sản gắn với yếu tố nhân thân như: quyền yêu cầu cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm… không thể chuyển giao thông qua các GDDS. 

Yếu tố “không gắn liền với nhân thân” đảm bảo cho việc quyền tài sản thế chấp có thể dịch chuyển quyền sở hữu từ bên thế chấp sang bên nhận thế chấp hoặc cho người thứ ba để khấu trừ cho giá trị nghĩa vụ mà quyền tài sản đó bảo đảm trong trường hợp có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm. Khi giao kết hợp đồng thế chấp, giá trị quyền tài sản thế chấp; khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp và việc xử lý tài sản thế chấp khi có sự vi phạm nghĩa vụ là những vấn đề quan trọng bên nhận thế chấp hướng tới. Trong trường hợp có hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên thế chấp, quyền lợi của bên nhận thế chấp chỉ được bảo đảm thực sự khi đem bán quyền tài sản thế chấp để khấu trừ nghĩa vụ. 

Một vấn đề quan trọng nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho biện pháp thế chấp quyền tài sản của Việt Nam hiện nay là cần đặt ra các “giới giạn” đối với các quyền tài sản được sử dụng để thế chấp. Một mặt, nó giúp cho các chủ thể lựa chọn được quyền tài sản thích hợp làm đối tượng trong các hợp đồng thế chấp. Mặt khác, việc đặt ra các “giới hạn” đối với các quyền tài sản là đối tượng của hợp đồng thế chấp sẽ tạo ra hành lang pháp lý ổn định, lành mạnh, thúc đẩy quá trình hình thành kênh huy động vốn quan trọng giữa doanh nghiệp với các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. 

Từ đó gián tiếp đóng góp cho việc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. 

Tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, một số quốc gia theo hệ thống pháp luật Civil Law (điển hình như Cộng Hoà Pháp, Nhật Bản) quy định đối tượng của thế chấp phải là bất động sản. Với quy định này, các quyền tài sản như: quyền bề mặt, quyền hưởng dụng tài sản có đối tượng thực hiện trên bất động sản được coi là bất động sản và đương nhiên có thể đem đi thế chấp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, nhưng quyền hưởng dụng động sản thì không được đem đi thế chấp vì được xác định là động sản. Bên cạnh đó, một số quốc gia theo hệ thống pháp luật Common Law như Anh, Hoa Kỳ lại cho phép sử dụng động sản để thế chấp thông qua việc phát triển và hoàn thiện hệ thống đăng ký thế chấp động sản qua hệ thống internet. Khác biệt với các quốc gia nói trên, BLDS năm 2015 của Việt Nam quy định theo hướng mở, cho phép chủ sở hữu được sử dụng cả động sản và bất động sản để thế chấp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, điều này đồng nghĩa với việc các chủ thể được phép sử dụng quyền tài sản để thế chấp, bất kể quyền tài sản đó được xác định là động sản hay bất động sản. 

Theo Nguyễn Hoàng Long

Link: Tại đây
 

avatar
Lã Thị Ái Vi
936 ngày trước
Đặc điểm pháp lý của quyền tài sản thế chấp
1.2. Đặc điểm pháp lý của quyền tài sản thế chấp Với vai trò là một bộ phận cấu thành của khái niệm tài sản trong pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền tài sản mang đầy đủ những đặc điểm của tài sản nói chung. Bên cạnh đó, để trở thành đối tượng của biện pháp thế chấp, quyền tài sản phải thoả mãn đầy đủ những đặc điểm riêng, cụ thể. 1.2.1. Quyền tài sản thế chấp luôn tồn tại dưới dạng vô hình Khác với các tài sản tồn tại dưới dạng vật thể hữu hình con người có thể nhận biết được qua các giác quan như: ô tô, điện thoại, nhà ở… Các quyền tài sản luôn tồn tại dưới dạng vô hình, con người không thể nhận biết được thông qua các giác quan mà chỉ biết đến sự tồn tại của chúng thông qua các thông tin liên quan đến tài sản (tuỳ từng loại quyền tài sản khác nhau, các thông tin này có thể được đăng ký hoặc không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền). Dưới góc độ khoa học pháp lý, căn cứ vào phạm vi có hiệu lực của quyền tài sản, quyền tài sản (các tài sản vô hình) có thể được phân chia thành hai loại: các quyền tài sản tuyệt đối và các quyền tài sản tương đối. Quyền tài sản tuyệt đối là quyền tài sản có hiệu lực với tất cả mọi người còn lại trong xã hội. Chủ thể nắm giữ quyền tài sản tuyệt đối có thể thực hiện quyền của mình thông qua việc khai thác giá trị của quyền tài sản mà không phụ thuộc vào chủ thể mang nghĩa vụ. Các quyền tài sản tuyệt đối có thể kể đến như: quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu, sáng chế, giải pháp hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý…). Quyền tài sản tương đối là quyền tài sản chỉ có hiệu lực ràng buộc đối với một chủ thể có nghĩa vụ. Nói cách khác, chủ thể có quyền tài sản tương đối chỉ có thể thỏa mãn quyền của mình thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của một chủ thể khác (chủ thể mang nghĩa vụ luôn được xác định cụ thể). Các quyền tài sản tương đối gồm: quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán phát sinh từ hợp đồng, quyền đối với phần vốn góp doanh nghiệp, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền thuê, mua tài sản phát sinh từ hợp đồng… Việc phân biệt này giúp cho các chủ thể xác định được các yếu tố cần thiết khi xác lập biện pháp thế chấp có đối tượng là các quyền tài sản. Do tính chất vô hình của quyền tài sản (không tồn tại dưới các dạng vật thể cụ thể) nên khi lựa chọn loại tài sản này làm tài sản thế chấp, bên nhận thế chấp cần phải xác minh các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của bên thế chấp. Thông thường đó là các loại giấy tờ như: hợp đồng vay có hiệu lực chứng minh cho quyền đòi nợ, hợp đồng mua bán mà bên bán đã giao hàng trước chứng minh cho quyền yêu cầu thanh toán; giấy chứng nhận đăng ký, văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu, sáng chế, hợp đồng bảo hiểm hợp pháp khi nhận thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm… Đặc biệt, khi giao kết hợp đồng cần phân biệt giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản với tài sản, ví dụ: vận đơn và hàng hóa vận chuyển, cổ phiếu và phần vốn góp trong công ty cổ phần… vận đơn chỉ là giấy tờ chứng minh quyền được nhận hàng hóa từ bên vận chuyển, cổ phiếu chứng minh cho quyền đối với phần vốn góp trong công ty cổ phần; tài sản thế chấp trong các trường hợp này là hàng hoá ghi trong vận đơn và quyền đối với phần vốn góp trong công ty cổ phần mà không phải là các loại giấy tờ vận đơn hay cổ phiếu. 1.2.2. Quyền tài sản thế chấp không phải là quyền tài sản gắn liền với yếu tố nhân thân Xuất phát từ bản chất của biện pháp thế chấp nhằm đảm bảo thực hiện cho nghĩa vụ của bên thế chấp đối với bên nhận thế chấp, khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ, nếu không thể thoả thuận được về cách thức giải quyết, BLDS cho phép bên nhận thế chấp được xử lý tài sản thế chấp – “bán” tài sản thế chấp để khấu trừ cho nghĩa vụ bị vi phạm. Để có thể “bán” cho các chủ thể khác thì quyền tài sản là đối tượng của hợp đồng thế chấp phải thoả mãn các điều kiện sau: Một là, quyền tài sản thế chấp không phải là quyền tài sản luật cấm chuyển dịch quyền sở hữu. Với những quyền tài sản luật cấm chuyển dịch quyền sở hữu thì không thể trở thành đối tượng của biện pháp thế chấp. Ví dụ, quyền đối với phần vốn góp vào doanh nghiệp giới hạn không được chuyển nhượng theo điều lệ công ty hoặc do Luật Doanh nghiệp quy định (trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông). Hai là, quyền tài sản thế chấp không phải là những quyền tài sản gắn liền với yếu tố nhân thân. Nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của một chủ thể nào đó trong những trường hợp xác định, hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận, các quyền tài sản gắn với yếu tố nhân thân như: quyền yêu cầu cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm… không thể chuyển giao thông qua các GDDS. Yếu tố “không gắn liền với nhân thân” đảm bảo cho việc quyền tài sản thế chấp có thể dịch chuyển quyền sở hữu từ bên thế chấp sang bên nhận thế chấp hoặc cho người thứ ba để khấu trừ cho giá trị nghĩa vụ mà quyền tài sản đó bảo đảm trong trường hợp có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm. Khi giao kết hợp đồng thế chấp, giá trị quyền tài sản thế chấp; khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp và việc xử lý tài sản thế chấp khi có sự vi phạm nghĩa vụ là những vấn đề quan trọng bên nhận thế chấp hướng tới. Trong trường hợp có hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên thế chấp, quyền lợi của bên nhận thế chấp chỉ được bảo đảm thực sự khi đem bán quyền tài sản thế chấp để khấu trừ nghĩa vụ. Một vấn đề quan trọng nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho biện pháp thế chấp quyền tài sản của Việt Nam hiện nay là cần đặt ra các “giới giạn” đối với các quyền tài sản được sử dụng để thế chấp. Một mặt, nó giúp cho các chủ thể lựa chọn được quyền tài sản thích hợp làm đối tượng trong các hợp đồng thế chấp. Mặt khác, việc đặt ra các “giới hạn” đối với các quyền tài sản là đối tượng của hợp đồng thế chấp sẽ tạo ra hành lang pháp lý ổn định, lành mạnh, thúc đẩy quá trình hình thành kênh huy động vốn quan trọng giữa doanh nghiệp với các ngân hàng thương mại, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ đó gián tiếp đóng góp cho việc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, một số quốc gia theo hệ thống pháp luật Civil Law (điển hình như Cộng Hoà Pháp, Nhật Bản) quy định đối tượng của thế chấp phải là bất động sản. Với quy định này, các quyền tài sản như: quyền bề mặt, quyền hưởng dụng tài sản có đối tượng thực hiện trên bất động sản được coi là bất động sản và đương nhiên có thể đem đi thế chấp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, nhưng quyền hưởng dụng động sản thì không được đem đi thế chấp vì được xác định là động sản. Bên cạnh đó, một số quốc gia theo hệ thống pháp luật Common Law như Anh, Hoa Kỳ lại cho phép sử dụng động sản để thế chấp thông qua việc phát triển và hoàn thiện hệ thống đăng ký thế chấp động sản qua hệ thống internet. Khác biệt với các quốc gia nói trên, BLDS năm 2015 của Việt Nam quy định theo hướng mở, cho phép chủ sở hữu được sử dụng cả động sản và bất động sản để thế chấp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, điều này đồng nghĩa với việc các chủ thể được phép sử dụng quyền tài sản để thế chấp, bất kể quyền tài sản đó được xác định là động sản hay bất động sản. Theo Nguyễn Hoàng LongLink: Tại đây