Chủ thể của thế chấp quyền tài sản
2.1. Chủ thể của thế chấp quyền tài sản
Theo quy định tại khoản 1 Điều 317 BLDS năm 2015, “1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”. Từ quy định này, có thể nhận thấy các bên chủ thể trong quan hệ thế chấp tài sản bao gồm bên thế chấp và bên nhận thế chấp. Giữa các bên chủ thể đã xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ (thông thường là hợp đồng vay tài sản) trước khi hoặc đồng thời thiết lập với quan hệ thế chấp tài sản. BLDS năm 2015 không đặt ra bất kỳ hạn chế nào về chủ thể của quan hệ thế chấp, vì vậy có thể khẳng định những chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nói chung đều có thể trở thành chủ thể của quan hệ thế chấp. Theo đó, chủ thể của quan hệ thế chấp có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Tương tự như khi tham gia các GDDS khác, các chủ khi tham gia quan hệ thế chấp phải đáp ứng các điều kiện cụ thể mà pháp luật quy định, cụ thể, chủ thể tham gia quan hệ thế chấp phải có năng lực hành vi xác lập giao dịch.
Để có thể tự mình tham gia vào quan hệ thế chấp thì các chủ thể (bao gồm cả bên thế chấp và bên nhận thế chấp) cần phải có năng lực hành vi dân sự để xác lập giao dịch (hợp đồng thế chấp). Thực tế, trong nhiều trường hợp, chủ thể có quyền sở hữu quyền tài sản không đồng nhất với quyền được tự mình xác lập giao dịch liên quan đến tài sản đó. Chẳng hạn đối với cá nhân, quyền sở hữu tài sản thuộc phạm trù năng lực pháp luật, có từ khi cá nhân được sinh ra. Tuy nhiên, cá nhân chỉ có thể tự mình xác lập, thực hiện các GDDS liên quan đến tài sản khi đã đáp ứng điều kiện về năng lực hành vi dân sự tương ứng với loại tài sản và loại giao dịch mình tham gia. Ví dụ, A 12 tuổi có thể trở thành chủ sở hữu quyền sử dụng đất do được tặng cho hoặc nhận thừa kế. Tuy nhiên A không thể tự mình đứng ra thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn tại ngân hàng.
Căn cứ vào quy định của BLDS năm 2015, chủ thể là cá nhân có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch thế chấp có đối tượng là các loại tài sản sau: cá nhân từ đủ mười năm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch thế chấp có đối tượng là quyền tài sản mang bản chất của động sản không phải đăng ký quyền sở hữu; cá nhân đã thành niên (không phải là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi) có quyền tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch thế chấp có đối tượng là các tài sản pháp luật quy định.
Đối với chủ thể là pháp nhân, khi tham gia quan hệ thế chấp quyền tài sản, hành vi của pháp nhân được xác định thông qua hành vi của cá nhân là người đại diện cho pháp nhân. Đại diện của pháp nhân có thể được thực hiện thông qua hai hình thức: đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có quyền nhân danh pháp nhân xác lập biện pháp thế chấp quyền tài sản với mục đích duy trì các hoạt động của pháp nhân trong khuôn khổ pháp luật và điều lệ của pháp nhân quy định. Bên cạnh đó, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác thay mặt mình, nhân danh pháp nhân để xác lập biện pháp thế chấp quyền tài sản. Người được uỷ quyền có quyền và nghĩa vụ thực hiện các công việc trong phạm vi uỷ quyền đã được xác định rõ trong nội dung hợp đồng uỷ quyền.
Yêu cầu về năng lực hành vi xác lập giao dịch không chỉ tạo điều kiện cho việc thực hiện các thủ tục kê biên và bán tài sản khi có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đảm mà còn hướng tới việc loại trừ những rủi ro gây ra thiệt hại cho các chủ thể không có năng lực hành vi dân sự phù hợp (người chưa thành niên, người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi). Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt nhằm hướng đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được giám hộ, người giám hộ có thể sử dụng tài sản thuộc sở hữu của người được giám hộ để đảm bảo thực nghĩa vụ.
Bên cạnh điều kiện chung đặt ra đối với các bên chủ thể, pháp luật Việt Nam hiện hành còn quy định những điều kiện riêng biệt cho mỗi bên chủ thể khi tham gia xác lập, thực hiện biện pháp thế chấp quyền tài sản. Bao gồm : Một là, bên thế chấp phải là chủ sở hữu quyền tài sản thế chấp Khoản 1 Điều 317 BLDS năm 2015 đã quy định minh thị: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”. Quy định này hàm chứa ý nghĩa bắt buộc bên thế chấp phải là chủ sở hữu tài sản thế chấp. Việc quy định bên thế chấp phải là chủ sở hữu quyền tài sản thế chấp góp phần bảo đảm giá trị hiệu lực của biện pháp thế chấp quyền tài sản. Với tư cách là chủ sở hữu quyền tài sản thế chấp, bên thế chấp có quyền sử dụng tài sản của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với người khác, là cơ sở để chuyển giao quyền sở hữu quyền tài sản thế chấp cho chủ thể khác khi rơi vào trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm. Cần lưu ý, trường hợp chủ sở hữu ủy quyền cho người khác thế chấp quyền tài sản của mình thì cũng không làm thay đổi bản chất của nguyên tắc này, bởi người được ủy quyền chỉ là người nhân danh chủ sở hữu quyền tài sản, sử dụng quyền tài sản của chủ sở hữu làm tài sản thế chấp. Chủ sở hữu của quyền tài sản vẫn là bên thế chấp và có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp. Người được ủy quyền chỉ là người nhân danh chủ sở hữu quyền tài sản thế chấp, ký tên vào hợp đồng thế chấp. Ngoại lệ, trong một số trường hợp với mục đích xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với định hướng, chiến lược của Nhà nước, Nhà nước có thể chuyển giao quyền định đoạt tài sản cho các doanh nghiệp Nhà nước để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo phù hợp với các quy định của pháp luật. Lúc này, doanh nghiệp Nhà nước mặc dù không phải là chủ sở hữu quyền tài sản nhưng được quyền sử dụng quyền tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.
Để giảm thiểu tối đa các rủi ro tiềm ẩn cho bên nhận thế chấp, những “hạn chế” đối với quyền tài sản thế chấp cần phải được bên thế chấp thông báo cho bên nhận thế chấp tại thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp. Trường hợp bên thế chấp che giấu các thông tin liên quan đến quyền lợi của các chủ thể khác trên quyền tài sản thế chấp có thể gây ra những thiệt hại cho bên nhận thế chấp. Vì vậy, pháp luật cần có các giải pháp để hạn chế rủi ro cho bên nhận thế chấp. Việc kiểm tra quyền của các chủ thể khác đã thiết lập trên quyền tài sản thế chấp sẽ trở nên đơn giản hơn nếu có một hệ thống thông tin đăng ký công khai, đồng bộ về tài sản. Đây là yếu tố quan trọng để bên nhận thế chấp cân nhắc về tính an toàn của quyền tài sản thế chấp, thông qua đó quyết định có giao kết hợp đồng thế chấp với bên thế chấp hay không. Ví dụ, A là chủ sở hữu một quyền sử dụng đất và đã chuyển nhượng cho B quyền bề mặt của quyền sử dụng đất trong thời hạn 30 năm. Sau đó, A mang quyền sử dụng đi thế chấp vay vốn tại một ngân hàng X mà không thông báo cho ngân hàng X về quyền của B. Nếu không có một hệ thống công khai các thông tin về tài sản để có thể kiểm tra, ngân hàng X sẽ phải gánh chịu thiệt hại rất lớn bởi khi A vi phạm nghĩa vụ, mặc dù ngân hàng X sẽ có quyền xử lý tài sản bảo đảm, tuy nhiên không một ai muốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà trên đất lại có một người khác được hưởng quyền bề mặt.
Khi tham gia vào quan hệ thế chấp, để chứng minh tư cách chủ sở hữu quyền tài sản thế chấp, phụ thuộc vào quyền tài sản thế chấp cụ thể, bên thế chấp phải cung cấp những giấy tờ pháp lý như: giấy chứng nhận quyền sở hữu quyền sử dụng đất trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất; giấy chứng nhận phần vốn góp vào doanh nghiệp trong trường hợp thế chấp phần vốn góp; bằng độc quyền sáng chế, bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, giấy chứng nhận nhãn hiệu trong trường hợp thế chấp các quyền SHTT; hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; hợp đồng cho vay, hợp đồng cung cấp dịch vụ… chứng minh tư cách chủ thể có quyền đòi nợ trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ, quyền yêu cầu thanh toán từ hợp đồng.
Hai là, bên nhận thế chấp phải có năng lực pháp luật phù hợp trong trường hợp Luật có quy định
BLDS năm 2015 hiện nay không giới hạn phạm vi chủ thể được nhận thế chấp quyền tài sản, tuy nhiên, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất có thể thế chấp quyền sử dụng đất ở các TCTD được phép hoạt động tại Việt Nam, hoặc thế chấp quyền sử dụng đất cho các tổ chức kinh tế khác, các cá nhân khác để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, trường hợp pháp nhân (tổ chức kinh tế) được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê chỉ được phép thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ tại các TCTD được phép hoạt động tại Việt Nam. Các TCTD được phép hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 bao gồm: (i) Các TCTD Việt Nam: Ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng hợp tác xã); TCTD phi ngân hàng; Tổ chức tài chính vi vô và Quỹ tín dụng nhân dân; (ii) TCTD nước ngoài: Văn phòng đại diện, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài.
Theo Nguyễn Hoàng Long
Link: Tại đây