0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64dd98734137c-photo-1436450412740-6b988f486c6b.jpg

Thực tiễn thực hiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản tại Việt Nam hiện nay

3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản tại Việt Nam hiện nay 

3.1.1. Xác định quyền tài sản là đối tượng thế chấp 

3.1.1.1. Tài sản thế chấp là số dư tiền gửi trong tài khoản của khách hàng 

Sử dụng khoản tiền gửi tiết kiệm làm tài sản bảo đảm là việc làm khá phổ biến trong hoạt động cấp tín dụng của các TCTD. Ưu điểm của BPBĐ này là cho phép TCTD xử lý tài sản bảo đảm một cách dễ dàng ngay khi có sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo đảm. Trên thực tế, BPBĐ bằng khoản tiền gửi tiết kiệm có thể tồn tại dưới các dạng sau: (i) Bên gửi tiền có kỳ hạn(khách hàng) sử dụng khoản tiền gửi có kỳ hạn của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong một hợp đồng vay với chính TCTD nhận tiền gửi; (ii) Bên gửi tiền có kỳ hạn sử dụng khoản tiền gửi có kỳ hạn của mình để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng đối với cá nhân, pháp nhân hoặc TCTD khác không phải là TCTD nhận tiền gửi; (iii) Bên gửi tiền có kỳ hạn yêu cầu TCTD nhận tiền gửi cấp chứng thư bảo lãnh để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với một chủ thể khác… 

Theo quy định của tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, có thể hiểu các TCTD chỉ được phép cầm cố thẻ tiết kiệm. Quy định này là không hợp lý, đã dẫn đến hai hệ quả: Một là, có sự nhầm lẫn trong việc xác định đối tượng của BPBĐ, cụ thể, đối tượng của BPBĐ trong trường hợp này là sổ tiết kiệm hoặc thẻ tiết kiệm; Hai là, đối với khoản tiền gửi tại các TCTD, khách hàng chỉ được xác lập BPBĐ là cầm cố tài sản. 

Đối với hệ quả thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của Ngân hàng Nhà nước quy định về tiền gửi tiết kiệm: “Thẻ tiết kiệm hoặc sổ tiết kiệm (sau đây gọi chung là Thẻ tiết kiệm) là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu tiền gửi tiết kiệm của người gửi tiền tại TCTD, được áp dụng đối với trường hợp nhận tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch hợp pháp thuộc mạng lưới hoạt động của TCTD”. Căn cứ vào quy định này có thể khẳng định, thẻ tiết kiệm hoặc sổ tiết kiệm chỉ là những chứng thư pháp lý (giấy tờ) xác nhận quyền sở hữu đối với số tiền gửi tiết kiệm của một khách hàng gửi tiền tại TCTD. Trong trường hợp khách hàng bị mất sổ tiết kiệm hoặc thẻ tiết kiệm không đồng thời mất đi quyền nhận số tiền gửi tiết kiệm và tiền lãi theo thỏa thuận đối với TCTD cấp phát. 

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 13 Thông tư số 49/2018/TTNHNN và Điều 11 Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ban hành ngày 31/12/2018, đều cho phép khách hàng được sử dụng khoản tiền gửi có kỳ hạn làm tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Khi khách hàng gửi tiền tiết kiệm, giữa khách hàng và TCTD thiết lập với nhau một hợp đồng vay tài sản, trong đó khách hàng được xác định là bên cho vay, TCTD được xác định là bên vay. Quyền sở hữu số tiền gửi được chuyển cho TCTD từ thời điểm TCTD nhận số tiền, đổi lại khách hàng có quyền yêu cầu TCTD thanh toán khoản nợ khi hết kỳ hạn vay. Quyền yêu cầu thanh toán này mang đầy đủ bản chất của quyền tài sản (quyền đòi nợ) theo quy định của BLDS năm 2015. Giá trị của quyền đòi nợ này được xác định bởi số tiền gốc và tiền lãi trong hợp đồng vay do các bên thỏa thuận. Vì vậy, có thể khẳng định đối tượng của BPBĐ trường hợp này không phải thẻ tiết kiệm (tài sản tồn tại dưới dạng vật thể) mà là quyền tài sản, cụ thể đó là quyền đòi nợ. 

Đối với hệ quả thứ hai, trên cơ sở đã xác định được chính xác đối tượng của BPBĐ trong trường hợp này là quyền tài sản, các quy định của pháp luật hiện hành cần phải chỉ rõ BPBĐ cụ thể nào sẽ được xác lập đối với loại quyền tài sản này. Trên phương diện khoa học pháp lý, một tiêu chí cơ bản để phân biệt giữa biện pháp cầm cố tài sản với biện pháp thế chấp tài sản là có hay không sự chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản bảo đảm từ bên bảo đảm sang cho bên nhận bảo đảm? Khi xác lập biện pháp cầm cố tài sản, bên cầm cố sẽ phải chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản cầm cố sang cho bên nhận cầm cố, trường hợp bên cầm cố vi phạm nghĩa vụ, bên cầm cố có quyền trực tiếp xử lý tài sản cầm cố. Khi xác lập biện pháp thế chấp tài sản, bên thế chấp sẽ không chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp, nếu có sự vi phạm nghĩa vụ bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bên thế chấp chuyển giao tài sản thế chấp để xử lý. 

Như phân tích ở trên, BPBĐ bằng khoản tiền tiết kiệm có thể tồn tại dưới các dạng khác nhau: (i) Bên gửi tiền có kỳ hạn (khách hàng) sử dụng khoản tiền gửi có kỳ hạn của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong một hợp đồng vay với chính TCTD nhận tiền gửi; (ii) Bên gửi tiền có kỳ hạn sử dụng khoản tiền gửi có kỳ hạn của mình để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng đối với cá nhân, pháp nhân hoặc TCTD khác (không phải là TCTD nhận tiền gửi)… Đối với trường hợp (i), bên bảo đảm đã chuyển giao tài sản của mình sang cho bên nhận bảo đảm nắm giữ, quản lý – BPBĐ được xác lập trong trường hợp này phải là cầm cố tài sản; việc xác lập, thực hiện, xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp này chịu sự điều chỉnh của quy chế pháp lý về cầm cố tài sản. Đối với trường hợp (ii), rõ ràng không có sự chuyển giao tài sản bảo đảm từ bên bảo đảm sang cho bên nhận bảo đảm, BPBĐ được xác lập trong trường hợp này phải xác định là biện pháp thế chấp quyền tài sản; việc xác lập, thực hiện, xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp này phải chịu sự điều chỉnh của quy chế pháp lý về thế chấp tài sản nói chung. 
Theo Nguyễn Hoàng Long

Link: Tại đây

avatar
Lã Thị Ái Vi
971 ngày trước
Thực tiễn thực hiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản tại Việt Nam hiện nay
3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về thế chấp quyền tài sản tại Việt Nam hiện nay 3.1.1. Xác định quyền tài sản là đối tượng thế chấp 3.1.1.1. Tài sản thế chấp là số dư tiền gửi trong tài khoản của khách hàng Sử dụng khoản tiền gửi tiết kiệm làm tài sản bảo đảm là việc làm khá phổ biến trong hoạt động cấp tín dụng của các TCTD. Ưu điểm của BPBĐ này là cho phép TCTD xử lý tài sản bảo đảm một cách dễ dàng ngay khi có sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo đảm. Trên thực tế, BPBĐ bằng khoản tiền gửi tiết kiệm có thể tồn tại dưới các dạng sau: (i) Bên gửi tiền có kỳ hạn(khách hàng) sử dụng khoản tiền gửi có kỳ hạn của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong một hợp đồng vay với chính TCTD nhận tiền gửi; (ii) Bên gửi tiền có kỳ hạn sử dụng khoản tiền gửi có kỳ hạn của mình để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng đối với cá nhân, pháp nhân hoặc TCTD khác không phải là TCTD nhận tiền gửi; (iii) Bên gửi tiền có kỳ hạn yêu cầu TCTD nhận tiền gửi cấp chứng thư bảo lãnh để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với một chủ thể khác… Theo quy định của tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, có thể hiểu các TCTD chỉ được phép cầm cố thẻ tiết kiệm. Quy định này là không hợp lý, đã dẫn đến hai hệ quả: Một là, có sự nhầm lẫn trong việc xác định đối tượng của BPBĐ, cụ thể, đối tượng của BPBĐ trong trường hợp này là sổ tiết kiệm hoặc thẻ tiết kiệm; Hai là, đối với khoản tiền gửi tại các TCTD, khách hàng chỉ được xác lập BPBĐ là cầm cố tài sản. Đối với hệ quả thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của Ngân hàng Nhà nước quy định về tiền gửi tiết kiệm: “Thẻ tiết kiệm hoặc sổ tiết kiệm (sau đây gọi chung là Thẻ tiết kiệm) là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu tiền gửi tiết kiệm của người gửi tiền tại TCTD, được áp dụng đối với trường hợp nhận tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch hợp pháp thuộc mạng lưới hoạt động của TCTD”. Căn cứ vào quy định này có thể khẳng định, thẻ tiết kiệm hoặc sổ tiết kiệm chỉ là những chứng thư pháp lý (giấy tờ) xác nhận quyền sở hữu đối với số tiền gửi tiết kiệm của một khách hàng gửi tiền tại TCTD. Trong trường hợp khách hàng bị mất sổ tiết kiệm hoặc thẻ tiết kiệm không đồng thời mất đi quyền nhận số tiền gửi tiết kiệm và tiền lãi theo thỏa thuận đối với TCTD cấp phát. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 13 Thông tư số 49/2018/TTNHNN và Điều 11 Thông tư số 49/2018/TT-NHNN ban hành ngày 31/12/2018, đều cho phép khách hàng được sử dụng khoản tiền gửi có kỳ hạn làm tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Khi khách hàng gửi tiền tiết kiệm, giữa khách hàng và TCTD thiết lập với nhau một hợp đồng vay tài sản, trong đó khách hàng được xác định là bên cho vay, TCTD được xác định là bên vay. Quyền sở hữu số tiền gửi được chuyển cho TCTD từ thời điểm TCTD nhận số tiền, đổi lại khách hàng có quyền yêu cầu TCTD thanh toán khoản nợ khi hết kỳ hạn vay. Quyền yêu cầu thanh toán này mang đầy đủ bản chất của quyền tài sản (quyền đòi nợ) theo quy định của BLDS năm 2015. Giá trị của quyền đòi nợ này được xác định bởi số tiền gốc và tiền lãi trong hợp đồng vay do các bên thỏa thuận. Vì vậy, có thể khẳng định đối tượng của BPBĐ trường hợp này không phải thẻ tiết kiệm (tài sản tồn tại dưới dạng vật thể) mà là quyền tài sản, cụ thể đó là quyền đòi nợ. Đối với hệ quả thứ hai, trên cơ sở đã xác định được chính xác đối tượng của BPBĐ trong trường hợp này là quyền tài sản, các quy định của pháp luật hiện hành cần phải chỉ rõ BPBĐ cụ thể nào sẽ được xác lập đối với loại quyền tài sản này. Trên phương diện khoa học pháp lý, một tiêu chí cơ bản để phân biệt giữa biện pháp cầm cố tài sản với biện pháp thế chấp tài sản là có hay không sự chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản bảo đảm từ bên bảo đảm sang cho bên nhận bảo đảm? Khi xác lập biện pháp cầm cố tài sản, bên cầm cố sẽ phải chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản cầm cố sang cho bên nhận cầm cố, trường hợp bên cầm cố vi phạm nghĩa vụ, bên cầm cố có quyền trực tiếp xử lý tài sản cầm cố. Khi xác lập biện pháp thế chấp tài sản, bên thế chấp sẽ không chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp, nếu có sự vi phạm nghĩa vụ bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bên thế chấp chuyển giao tài sản thế chấp để xử lý. Như phân tích ở trên, BPBĐ bằng khoản tiền tiết kiệm có thể tồn tại dưới các dạng khác nhau: (i) Bên gửi tiền có kỳ hạn (khách hàng) sử dụng khoản tiền gửi có kỳ hạn của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong một hợp đồng vay với chính TCTD nhận tiền gửi; (ii) Bên gửi tiền có kỳ hạn sử dụng khoản tiền gửi có kỳ hạn của mình để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng đối với cá nhân, pháp nhân hoặc TCTD khác (không phải là TCTD nhận tiền gửi)… Đối với trường hợp (i), bên bảo đảm đã chuyển giao tài sản của mình sang cho bên nhận bảo đảm nắm giữ, quản lý – BPBĐ được xác lập trong trường hợp này phải là cầm cố tài sản; việc xác lập, thực hiện, xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp này chịu sự điều chỉnh của quy chế pháp lý về cầm cố tài sản. Đối với trường hợp (ii), rõ ràng không có sự chuyển giao tài sản bảo đảm từ bên bảo đảm sang cho bên nhận bảo đảm, BPBĐ được xác lập trong trường hợp này phải xác định là biện pháp thế chấp quyền tài sản; việc xác lập, thực hiện, xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp này phải chịu sự điều chỉnh của quy chế pháp lý về thế chấp tài sản nói chung. Theo Nguyễn Hoàng LongLink: Tại đây