Pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật
2.2. Pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Xử lý hành vi VPPL nói chung và VPPL của NCTN bằng hai hệ thống chế tài hình sự và chế tài hành chính là đặc thù của pháp luật Việt Nam. Việc phân chia thành hành vi VPHC và tội phạm hình sự là cách tiếp cận điển hình của các nước có nền tảng lý luận pháp luật theo mô hình của các nước Liên Xô cũ, trên thế giới, không có nhiều quốc gia theo mô hình này. Dựa trên nghiên cứu các báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện các công ước về quyền con người và các khuyến nghị của các ủy ban công ước cho thấy, hiện nay có Trung Quốc (đại lục) và Belarus có hệ thống xử lý hành chính tương tự Việt Nam.
Tại Báo cáo ngày 1 tháng 10 năm 2015 phản hồi các vấn đề do Ủy ban chống tra tấn nêu ra, Trung Quốc nêu thông tin về các biện pháp hành chính đối với người mại dâm, ma túy tại Đoạn 17, nêu về điều kiện cơ sở vật chất của các Trung tâm giáo dục người chưa thành niên (education centers for minors) đáp ứng đúng yêu cầu về giam giữ riêng cũng như các yêu cầu khác.
Thông tin về biện pháp tương tự biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng của Việt Nam cũng được thể hiện qua khuyến nghị của Ủy ban quyền trẻ em ngày 24/11/2005, đoạn 89 và 90 đối với Báo cáo tình hình thực hiện Công ước ước quyền trẻ em của Trung Quốc lần thứ 2 về việc bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của trẻ em bị tước tự do, bao gồm trẻ em trong trường giáo dưỡng (work study schools); khuyến nghị của Ủy ban quyền trẻ em ngày 28/10/2013 về việc bỏ chế tài hình sự, hành chính, bao gồm cả việc cải tạo thông qua lao động (re-education through labour) đối với một số nhóm trẻ em (đoạn 42), xem xét vấn đề lao động trẻ em trong các chương trình cải tạo thông qua lao động và trường giáo dưỡng (đoạn 85, 86); đề nghị xem xét bãi bỏ việc duy trì giam hành chính trẻ em bằng việc áp dụng biện pháp cải tạo thông qua lao động, trường giáo dưỡng tối đa tới 18 tháng (đoạn 92, 93).
Điểm khác biệt cơ bản theo quan điểm của các nhà lập pháp là hành vi vi phạm chỉ ở mức độ gây nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nghiêm trọng mới bị truy cứu TNHS với các trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ; các hành vi vi phạm gây nguy hiểm cho xã hội ở mức độ ít nghiêm trọng hơn, chưa đến mức truy cứu TNHS, sẽ bị xử lý bằng chế tài hành chính. Đối với hệ thống pháp luật không truy cứu TNHS pháp nhân, VPPL của tổ chức không bị truy cứu TNHS, thì xử phạt VPHC là chế tài duy nhất để xử lý vi phạm của tổ chức với mức phạt tiền cao không kém gì mức phạt tiền quy định tại BLHS.
Với quan điểm hành vi vi phạm “chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”, “dưới mức hình sự” bị xử phạt hành chính, được hiểu là “hậu quả bất lợi” mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu khi thực hiện các hành vi VPPL nhưng chưa đến mức truy cứu TNHS, và các biện pháp này được tiến hành theo một trình tự, thủ tục hành chính và chủ yếu do chủ thể quản lý hành chính nhà nước thực hiện.
Xử lý hành chính là việc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật giao quyền xem xét, giải quyết một vụ việc VPPL theo trình tự, thủ tục hành chính và đưa ra quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính. Xử lý hình sự là việc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền tiến hành hoạt động tố tụng được pháp luật quy định quyền xem xét giải quyết, giải quyết một vụ việc VPPL theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự và đưa ra các quyết định áp dụng các chế tài hình sự.
2.2.1. Xử lý vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
Trong lý luận về quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng, để đảm bảo các đối tượng quản lý có khả năng áp đặt ý chí đối với đối tượng quản lý và bắt buộc đối tượng quản lý phải phục tùng các mệnh lệnh thì các biện pháp chế tài được đặt ra như một “công cụ” để đảm bảo sự phục tùng mệnh lệnh đó. Do đó, xử lý hành chính được hiểu một cách chung nhất là hậu quả bất lợi mà các cá nhân, tổ chức bị áp dụng theo thủ tục hành chính khi thực hiện các hành vi VPPL mà không phải là tội phạm. Tuy nhiên, vì cùng là các biện pháp mang tính hành chính, câu hỏi đặt ra dưới góc độ lý luận cần có sự phân biệt giữa các khái niệm, đặc biệt là giữa xử phạt VPHC và các biện pháp XLHC.
Xử lý hiểu một cách chung nhất dưới góc độ luật học đó là việc xem xét, giải quyết một vụ việc VPPL nào đó. Theo nghĩa rộng, XLHC là một quá trình trong đó bao gồm nhiều hoạt cụ thể của các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước xem xét, giải quyết một vụ việc trái pháp luật theo quy định của pháp luật hành chính. “Xử lý hành chính là việc cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính đối với cá bảo vệ và theo thủ tục do pháp luật quy định.” Như vậy, nếu hiểu theo định nghĩa này nhân, tổ chức có hành vi trái pháp luật trong quản lý nhà nước được pháp luật hành chính thì XLHC bao gồm các biện pháp cưỡng chế hành chính gồm có xử phạt VPHC, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý VPHC, và các biện pháp XLHC. Thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp này là các chức danh được pháp luật quy định có thẩm quyền thuộc hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.
Trong pháp luật hành chính, hiện có các khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”, “xử phạt vi phạm hành chính” và “biện pháp xử lý hành chính”. Xử lý VPHC được hiểu là gồm xử phạt VPHC và biện pháp XLHC. Cách hiểu này xuất phát từ quy định của pháp luật thực định về XLVPHC. Trong Luật XLVPHC 2012, cách hiểu này được thể hiện tại rất nhiều điều luật theo cách thức tên của điều luật quy định về “xử lý vi phạm hành chính”, trong đó có hai khoản quy định về “xử phạt VPHC” và “biện pháp XLHC”.
Xử phạt vi phạm hành chính là việc các cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng các hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả đối với các cá nhân, tổ chức khi VPHC. Xử phạt VPHC chỉ được áp dụng khi có căn cứ là có VPHC. Vi phạm hành chính được định nghĩa “là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
Về lý luận, để xác định một hành vi là VPHC căn cứ vào các dấu hiệu pháp lý của các yếu tố cấu thành loại VPPL này, gồm mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan và khách thể. Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của VPHC là hành vi VPHC, là hành vi xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước và bị pháp luật hành chính ngăn cấm. Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của VPHC là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm. VPHC là hành vi có lỗi thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Nói cách khác, người thực hiện hành vi này phải trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (lỗi vô ý) hoặc nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện (lỗi cố ý). Chủ thể của VPHC là tổ chức, cá nhân có năng lực chịu TNHC theo quy định của pháp luật hành chính, là người không mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định. Về khách thể của VPHC, VPHC cũng như mọi VPPL khác, đều xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Dấu hiệu khách thể để nhận biết VPHC là hành vi VPPL này xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ.
Tuy nhiên, VPHC liên quan đến NCTN ở một số trường hợp không không thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của một VPPL bao gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của vi phạm như nêu trên, thường chỉ thỏa mãn dấu hiệu về mặt khách quan: hành vi trái pháp luật và trong một số trường hợp thường không thỏa mãn dấu hiệu về chủ thể, năng lực chịu trách nhiệm pháp lý (năng lực chịu trách nhiệm hành chính, TNHS).
Các biện pháp XLHC được dùng với ý nghĩa hẹp hơn so với khái niệm “xử lý hành chính”. Như đã nêu trên, các biện pháp XLHC là biện pháp đặc thù của hệ thống pháp luật Việt Nam và các nước theo mô hình các nước Liên Xô cũ. Hiện nay, trên thế giới, chỉ có rất ít quốc gia có các biện pháp này, tiêu biểu có Trung quốc (đại lục) và Belarus.
Đặc thù của các biện pháp XLHC là hạn chế tự do hoặc tước tự do của cá nhân có hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu TNHS hoặc tái phạm nhiều lần hành vi VPHC khi việc xử phạt đối với từng hành vi VPHC không có hiệu quả. Các biện pháp XLHC không áp dụng đối với VPHC đơn lẻ mà thường áp dụng đối với hành vi vi phạm có dấu hiệu của VPPL hình sự hoặc một loạt các hành vi VPHC. Có thể thấy, việc áp dụng biện pháp XLHC căn cứ vào “nhân thân” và quá trình vi phạm của cá nhân chứ không phải từng hành vi riêng lẻ. Các biện pháp XLHC không căn cứ vào từng VPHC, mà căn cứ vào yếu tố “chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” được thể hiện ở việc người thực hiện chưa đủ độ tuổi chịu TNHS, hoặc không đủ năng lực chịu TNHS. Trên thực tế, biện pháp này được quy định để dự phòng áp dụng đối với những trường hợp có yếu tố chính trị (biện pháp quản chế hành chính). Vì lý do này, các hành vi bị áp dụng biện pháp XLHC chỉ nên gọi chung là hành vi trái pháp luật, mà không gọi là “hành vi VPPL” hay “hành vi vi phạm hành chính” vì sẽ không chính xác với lý luận về hành vi VPPL với các yếu tố cấu thành của nó.
Mục đích áp dụng các biện pháp này thường được cho là vừa trừng phạt, vừa giáo dục, trong đó mục đích giáo dục được coi là chính. Điều này thể hiện qua tên gọi của các biện pháp XLHC như biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; các biện pháp tại Trung Quốc được dịch sang tiếng Anh cũng có các cụm từ mang tính chất giáo dục như cải tạo, giáo dục thông qua lao động (re-education through labor), đưa NCTN vào trường giáo dưỡng (工读学校 gong du xue xiao, thường được dịch sang tiếng Anh là work study schools hoặc reformatory school). Thẩm quyền áp dụng các biện pháp này là cơ quan hành chính nước, theo trình tự, thủ tục hành chính.
Từ các phân tích nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa “biện pháp xử lý hành chính là biện pháp tước hoặc hạn chế tự do do cơ quan hành chính quyết định áp dụng đối với cá nhân có hành vi hoặc nhiều hành vi vi phạm pháp luật chưa đến mức truy cứu trách nhiệm theo trình tự, thủ tục hành chính nhằm mục đích giáo dục và răn đe”.
Theo Đào Thị Thu An
Link: Tại đây