Các công ước và hướng dẫn quốc tế về bảo đảm quyền của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
3.1. Các công ước và hướng dẫn quốc tế về bảo đảm quyền của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Trong 9 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, có ba công ước có liên quan đến việc xử lý NCTN VPPL là Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em62, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và Công ước chống tra tấn và những hành động đối xử hoặc trừng phạt khác mang tính độc ác, vô nhân đạo hay hạ nhục. Các công ước này cùng với các hướng dẫn, quy tắc quốc tế nêu trên tạo thành các chuẩn mực quốc tế về tư pháp chưa thành niên/tư pháp trẻ em.
Về phạm vi áp dụng các chuẩn mực quốc tế, CƯQTE và các hướng dẫn quốc tế được áp dụng đối với mọi trẻ em theo định nghĩa tại Điều 1 Công ước này “là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Theo Công ước, tuổi trẻ em gắn với tuổi chưa thành niên do luật pháp các quốc gia quy định. Pháp luật Việt Nam quy định tuổi thành niên là 18 tuổi, mặc dù Luật trẻ em năm 2016 quy định “trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”, các quyền và bảo đảm quyền quy định tại Công ước này được áp dụng đối với mọi người dưới 18 tuổi, là NCTN theo pháp luật Việt Nam.
Đối với NCTN VPPL, Ủy ban Quyền trẻ em của Liên hợp quốc tuyên bố rằng mọi người dưới 18 tuổi vào thời điểm thực hiện hành vi vi phạm phải được đối xử phù hợp với các quy tắc của tư pháp chưa thành niên được quy định tại Điều 37, Điều 40 của Công ước và các hướng dẫn, quy định có liên quan.[4] Nội dung này tiếp tục được khẳng định tại Bình luận chung số 24 (2019), theo đó, hệ thống tư pháp trẻ em phải được áp dụng đối với tất cả trẻ em trên độ tuổi chịu TNHS, dưới 18 tuổi vào thời điểm thực hiện hành vi vi phạm. Khác với các chương khác của Luận án, trong Chương này của luận án, tác giả chủ ý sử dụng khái niệm “trẻ em” theo CƯQTE mà không dùng khái niệm “người chưa thành niên” (NCTN) để thể hiện rõ phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người và quan điểm hoàn thiện pháp luật về các biện pháp XLHC đối với NCTN.
3.1.1. Công ước quốc tế về các quyền của trẻ em và các hướng dẫn quốc tế
Công ước quốc tế về các quyền trẻ em (CƯQTE) là văn kiện pháp lý quốc tế chính quy định các quyền cơ bản của trẻ em nói chung và của trẻ em VPPL nói riêng. Bên cạnh công ước quốc tế có tính ràng buộc đối với quốc gia thành viên, còn có một tập hợp các quy tắc, hướng dẫn liên quan đến tư pháp chưa thành niên, mặc dù không có hiệu lực ràng buộc về mặt pháp lý với các quốc gia, nhưng được xây dựng trên cơ sở pháp luật quốc tế và được nhiều nước trên thế giới đồng tình ủng hộ. Những văn bản này có rất được coi trọng và có giá trị hướng dẫn để các quốc gia tham khảo nhằm thực hiện tốt nhất các quy định của CƯQTE và các công ước quốc tế có tính chất ràng buộc khác, cụ thể gồm:
- Các Qui tắc Chuẩn mực Tối thiểu của Liên hợp quốc về Quản lý Tư pháp người chưa thành niên (Qui tắc Bắc Kinh), được thông qua theo Nghị quyết A/RES/40/33 ngày 29/11/1985 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc;
- Hướng dẫn của Liên hợp quốc về Phòng ngừa Tội phạm người chưa thành niên (Hướng dẫn Riyadh), được thông qua theo Nghị quyết A/RES/45/112 ngày 14/12/1990 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc;
- Qui tắc của Liên hợp quốc về Bảo vệ người chưa thành niên bị tước đoạt tự do (Qui tắc Havana), được thông qua theo Nghị quyết A/RES/45/113 ngày 14/12/1990 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc;
- Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về những biện pháp không giam giữ - Quy tắc Tôkyô, được thông qua theo Nghị quyết A/RES/45/110 ngày 14/12/1990 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc;
- Hướng dẫn của Liên hợp quốc về hành động đối với Trẻ em trong Hệ thống tư pháp hình sự (Hướng dẫn Viên), được thông qua bởi Nghị quyết 1997/30 ngày 21/7/1997 của Hội đồng kinh tế xã hội
- Hướng dẫn về cách tiếp cận của Liên hợp quốc về tư pháp cho trẻ em;
- Bình luận chung số 10 (2007) của Ủy ban của Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em về các quyền của trẻ em trong tư pháp cho người chưa thành niên. Bình luận chung số 10 (2007). Bình luận chung này mới được thay thế bằng Bình luận chung số 24 (2019) vừa được Ủy ban của Liên hợp quốc về quyền trẻ em thông qua ngày 18 tháng 9 năm 2019. Một điểm thay đổi căn bản trong Bình luận chung số 24 là việc khuyến nghị dùng các từ ngữ không mang tính kỳ thị đối với NCTN VPPL. Thuật ngữ “hệ thống tư pháp chưa thành niên” (juvenile justice system) được thay bằng “hệ thống tư pháp trẻ em” (child justice system). Luận án sử dụng thuật ngữ “tư pháp trẻ em” để phù hợp với cách tiếp cận mới.
Ngoài ra còn có các hướng dẫn chung, nhưng cũng được áp dụng đối với NCTN VPPL, gồm Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân (Quy tắc Mandela) ; Các nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về áp dụng các chương trình tư pháp phục hồi trong các vấn đề hình sự; Nguyên tắc cơ bản và Hướng dẫn của Liên hợp quốc về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự.
Công ước quốc tế về quyền trẻ em có hai điều trực tiếp quy định về xử lý trẻ em VPPL, gồm Điều 37 và Điều 40. Điều 37 quy định về quyền không bị tra tấn hay bị đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm, không bị tước tự do bất hợp pháp và tùy tiện, quy định các điều kiện đối với việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em. Việc tước tự do của trẻ em phải được tiến hành phù hợp với pháp luật và chỉ được coi là biện pháp cuối cùng và áp dụng trong thời hạn thích hợp ngắn nhất. Điều 40 của Công ước quy định tất cả các quyền của trẻ em VPPL hình sự, do đó, được coi là điều quy định trực tiếp về tư pháp chưa thành niên/tư pháp trẻ em. Mặc dù Điều 40 quy định phạm vi áp dụng là trẻ em bị tình nghi, bị cáo buộc hay bị xác nhận là VPPL hình sự, song, quy định này phải được áp dụng đối với trẻ em VPPL nói chung, gồm trẻ em thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp XLHC. Mục 3.1.2 dưới đây về Công ước các quyền dân sự, chính trị sẽ phân tích về việc áp dụng chuẩn mực tư pháp hình sự đối với các biện pháp XLHC đối với NCTN.
3.1.2. Công ước các quyền dân sự và chính trị
Công ước các quyền dân sự và chính trị là một trong 9 công ước cơ bản, cốt lõi về quyền con người của Liên hợp quốc. Vấn đề quyền của NCTN VPPL được đề cập trong Công ước này dưới hai góc độ, một là các quyền chung như mọi người trưởng thành VPPL và các quyền đặc thù.
Điều 14 Công ước về quyền bình đẳng trước tòa án và Bình luận chung số 32 của Ủy ban quyền con người (Human Rights Committee) xác lập các nghĩa vụ của các quốc gia thành viên về việc bảo đảm các quyền tố tụng của người thành niên và NCTN VPPL. Khoản 4 Điều 14 Công ước này yêu cầu “Tố tụng áp dụng đối với NCTN phải xem xét tới độ tuổi của họ và mục đích thúc đẩy tái hòa nhập cộng đồng”. Bình luận chung số 32 cũng nêu chi tiết yêu cầu về việc cần thiết phải bảo vệ đặc biệt trong tố tụng hình sự, việc thiết lập hệ thống tư pháp để bảo đảm NCTN được đối xử một cách phù hợp với độ tuổi của họ, việc áp dụng các biện pháp xử lý thay thế để giải quyết các VPPL của NCTN như hòa giải, tư vấn, cung cấp dịch vụ, chương trình giáo dục…
Một điểm đáng lưu ý được nêu tại Đoạn số 15 Bình luận số 32 là quyền được xét xử công bằng, công khai trước tòa án có thẩm quyền, độc lập và khách quan trong trường hợp liên quan đến việc xác định tội hình sự về nguyên tắc được áp dụng đối với những hành vi quy định tại luật hình sự của các quốc gia. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các quyền này cũng được áp dụng đối với các hành vi trên thực tế về bản chất là tội phạm và bị trừng phạt, bất kể nó được định tính thế nào trong luật quốc gia. Ủy ban quyền con người lưu ý rằng khái niệm “trách nhiệm hình sự” có ý nghĩa độc lập, căn cứ vào mục đích, đặc điểm hoặc tính nghiêm trọng của hành vi đó mà không phụ thuộc vào cách phân loại trong hệ thống pháp luật của quốc gia thành viên. Ủy ban viện dẫn đến vụ Osiyuk kiện chính quyền Belarus, và lưu ý rằng khi chế tài được áp dụng đối với VPHC với mục đích trừng phạt và trấn áp, mục đích này tương ứng với mục tiêu cơ bản của luật hình sự, do đó, về bản chất là tội phạm hình sự. Kể cả khi ý kiến phản bác cho rằng các biện pháp này được áp dụng không phải vì mục đích trừng phạt và trấn áp mà nhằm phục hồi, sửa chữa, giáo dục, việc áp dụng các chế tài tại một số quốc gia có hệ thống này như trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc vẫn đầy đủ các yếu tố của TNHS. Vì lý do này, khi thực hiện nghĩa vụ báo cáo, Việt Nam luôn nhận được khuyến nghị từ Ủy ban Quyền con người liên quan đến tư pháp chưa thành niên và về việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở cai nghiện.
Theo Đào Thị Thu An
Link: Tại đây