0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64ddce3bdb969-photo-1589829545856-d10d557cf95f.jpg

Cơ chế, cách thức bảo đảm quyền của người chưa thành niên vi phạm pháp luật

3.4. Cơ chế, cách thức bảo đảm quyền của người chưa thành niên vi phạm pháp luật 

Một yếu tố quan trọng trong phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người (human rights- based approach) là hỗ trợ chủ thể của quyền tham gia vào quá trình thực hiện quyền chứ không chỉ hưởng lợi thụ động từ chủ thể có nghĩa vụ thực hiện quyền; cung cấp những điều kiện để những nhóm người bị thiệt thòi hơn trong xã hội, như người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người nghèo có thể được bảo đảm quyền như những người khác trong xã hội. 

Điều 37 và Điều 40 của Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải thiết lập những đạo luật, thủ tục, các cơ quan và tổ chức riêng cũng như các dịch vụ hỗ trợ cho mọi trẻ em (là người dưới 18 tuổi) bị tình nghi, bị cáo buộc hay bị xác nhận là đã VPPL hình sự với mục tiêu phòng ngừa vi phạm và phục hồi, tái hòa nhập. Để làm được điều đó, việc xử lý đối với mỗi NCTN VPPL cần tương xứng, phù hợp với hoàn cảnh riêng của em đó cũng như những thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra, có nghĩa là việc xử lý phải trên cơ sở cân nhắc hoàn cảnh của trẻ và hoàn cảnh VPPL cũng như tính chất của VPPL chứ không chỉ cân nhắc mức độ nghiêm trọng của hành vi VPPL. Khi xem xét xử lý một NCTN cũng cần cân nhắc đến vấn đề an sinh của người đó ở mọi thời điểm, trong đó có việc xem xét nhu cầu đặc biệt hay khả năng bị tổn thương của người đó. 

Các chuẩn mực quốc tế này khuyến nghị các Quốc gia phải áp dụng một phương pháp tiếp cận toàn diện để cải cách tư pháp cho trẻ em. Hệ thống tư pháp cần được thiết kế (hoặc thiết kế lại) để xử lý một cách tích cực và có hiệu quả đối với NCTN VPPL bằng việc tập trung cho công tác phòng ngừa, chuyển hướng xử lý NCTN bên ngoài hệ thống tư pháp chính thống, đầu tư cho các dịch vụ phục hồi và tái hòa nhập, và thúc đẩy các biện pháp thay thế tước đoạt tự do. 

Bình luận chung số 10 của Ủy ban quyền trẻ em đưa ra các hướng dẫn về các yếu tố cơ bản của chính sách tư pháp chưa thành niên nhằm thúc đẩy xử lý chuyển hướng, tư pháp phục hổi và khuyến nghị các quốc gia ứng phó với trẻ em VPPL theo các cách thức không những bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em mà còn bảo đảm lợi ích của toàn xã hội, thúc đẩy việc nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia. Ngoài việc đưa ra những hướng dẫn thể hiện cách tiếp cận mới trong việc xử lý vấn đề trẻ em VPPL, Bình luận chung số 24 được thông qua ngày 18 tháng 9 năm 2019 tiếp tục khuyến nghị các quốc gia tiến hành các biện pháp để bảo đảm quyền trẻ em VPPL. 

3.4.1. Tập trung phòng ngừa vi phạm pháp luật 

Để góp phần giảm tỷ lệ NCTN VPPL thì mỗi quốc gia đều phải chú trọng công tác phòng ngừa trẻ em VPPL thông qua nhiều cách thức khác nhau như giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức về mặt pháp luật cho trẻ em, đồng thời xây dựng một hệ thống can thiệp, hỗ trợ trẻ em VPPL. Bình luận chung số 10 và Bình luận chung số 24 đều khuyến nghị các quốc gia phát triển các chương trình, dịch vụ dựa vào cộng đồng để đáp ứng các nhu cầu riêng biệt, các vấn đề, các mối quan tâm và lợi ích của trẻ em, đặc biệt là các trẻ em tái phạm hành vi VPPL, đồng thời cung cấp dịch vụ tư vấn và hướng dẫn đối với gia đình của họ. Hướng dẫn Riyah cũng khuyến nghị các quốc gia được phát triển hệ thống các chương trình, dịch vụ tại cộng đồng để đáp ứng các nhu cầu riêng biệt của một số nhóm trẻ em nhằm phòng ngừa sớm và phòng ngừa tái phạm đối với những trẻ em thường xuyên tái phạm hành vi VPPL. 

Các biện pháp phòng ngừa, can thiệp thường áp dụng trên nguyên lý của vòng tròn sinh thái ở các cấp độ: cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Đối với phòng ngừa NCTN VPPL, các tổ chức quốc tế khuyến nghị mô hình bảo vệ ba cấp độ với nguyên tắc với nguyên tắc coi trọng phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ; kịp thời can thiệp, giải quyết để giảm thiểu hậu quả; tích cực hỗ trợ để phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng. Cấp độ 1 là giáo dục tuyên truyền để mọi người nhận thức được và có thái độ đối với các hành vi VPPL; cấp độ 2 là xác định các nhóm trẻ em có nguy cơ VPPL để thực hiện các biện pháp can thiệp, hỗ trợ; cấp độ 3 là cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thiết yếu cho NCTN đã thực hiện hành vi VPPL (y tế, xã hội, tư pháp và hành chính).Cấp độ 1 thường gọi là cấp độ phòng ngừa gồm các biện pháp được áp dụng đối với cộng đồng, gia đình và mọi NCTN nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức để xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho NCTN, giảm thiểu nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt - VPPL, ngăn ngừa trẻ em VPPL thông qua các hoạt động nâng cao nhận thức, cung cấp thông tin, trang bị kiến thức và kỹ năng về bảo vệ trẻ em, giáo dục kỹ năng sống, và xây dựng môi trường an toàn, phù hợp cho trẻ em. 

Cấp độ hai, thường gọi là cấp độ hỗ trợ bao gồm các biện pháp áp dụng đối với NCTN có nguy cơ VPPL nhằm kịp thời phát hiện, giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ VPPL, gồm các biện pháp như cảnh báo về nguy cơ VPPL, tư vấn kiến thức, kỹ năng, biện pháp khắc phục nguyên nhân và điều kiện VPPL, tiếp nhận thông tin, đánh giá nguy cơ VPPL, áp dụng các biện pháp hỗ trợ cần thiết để giải quyết các nguyên nhân và điều kiện VPPL, kể cả hỗ trợ gia đình NCTN tiếp cận các chính sách trợ giúp xã hội để loại bỏ các yếu tố nguy cơ, ví dụ nguy cơ bỏ học vì tài chính gia đình khó khăn. 

Cấp độ ba, thường gọi là cấp độ can thiệp được áp dụng với từng cá nhân NCTN khi đã có hành vi VPPL và gia đình nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện VPPL, phục hồi, tránh tái phạm.  Những biện pháp ở cấp độ này bao gồm các biện pháp giúp khắc phục nguyên nhân vi phạm, hỗ trợ tái hòa nhập, giáo dục, theo dõi, đánh giá quá trình thay đổi của NCTN như chăm sóc y tế, trị liệu tâm lý, phục hồi thể chất và tinh thần, tìm kiếm, đoàn tụ gia đình, tư vấn, cung cấp kiến thức pháp luật, hỗ trợ pháp lý, tiếp cận các chế độ hỗ trợ dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, kể cả các chính sách trợ giúp xã hội.. 

Do đó, pháp luật không chỉ quy định các biện pháp can thiệp cụ thể mà còn cần quy định về các chương trình, biện pháp phòng ngừa ở các cấp độ khác nhau. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định các biên pháp can thiệp cụ thể đối với nhóm trẻ em có nguy cơ VPPL, các chương trình can thiệp phòng ngừa phải xác định rõ các yếu tố nguy cơ và các yếu tố bảo vệ đối với trẻ em VPPL. Ví dụ như các yếu tố nguy cơ ở cấp độ cá nhân bao gồm: trẻ em đã từng là nạn nhân của các hành vi bạo lực, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em bỏ học, trẻ em đường phố; hay các yếu tố nguy cơ từ gia đình như bố mẹ ly hôn, bố hay mẹ đã từng VPPL; ở cấp độ cộng đồng gồm có các yếu tố nguy cơ như đó là có nhiều tệ nạn xã hội như người nghiện ma túy, người nghiện rượu.... 

Bình luận chung số 24 nhấn mạnh hơn về việc phòng ngừa sớm trẻ em VPPL đối với trẻ em ở dưới độ tuổi tối thiểu chịu TNHS yêu cầu các biện pháp thân thiện, liên ngành được áp dụng ngay từ khi có những dấu hiệu đầu tiên của VPPL. Các biện pháp phòng ngừa phải mang tính bảo vệ và phải được xây dựng dựa trên đánh giá toàn diện, đầy đủ mọi khía cạnh về nhu cầu của trẻ. Nguyên tắc ưu tiên hàng đầu là trẻ em phải được hỗ trợ trong môi trường gia đình, cộng đồng. Chỉ trong những trường hợp rất đặc biệt yêu cầu phải có sự tách biệt khỏi gia đình, thì chăm sóc thay thế trong môi trường gia đình phải được ưu tiên hơn tại các cơ sở chăm sóc. Việc tách trẻ em ra khỏi môi trường gia đình chỉ được áp dụng là biện pháp cuối cùng và trong thời hạn ngắn nhất có thể.   

Theo Đào Thị Thu An

Link: Tại đây
 

avatar
Lã Thị Ái Vi
972 ngày trước
Cơ chế, cách thức bảo đảm quyền của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
3.4. Cơ chế, cách thức bảo đảm quyền của người chưa thành niên vi phạm pháp luật Một yếu tố quan trọng trong phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người (human rights- based approach) là hỗ trợ chủ thể của quyền tham gia vào quá trình thực hiện quyền chứ không chỉ hưởng lợi thụ động từ chủ thể có nghĩa vụ thực hiện quyền; cung cấp những điều kiện để những nhóm người bị thiệt thòi hơn trong xã hội, như người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người nghèo có thể được bảo đảm quyền như những người khác trong xã hội. Điều 37 và Điều 40 của Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên phải thiết lập những đạo luật, thủ tục, các cơ quan và tổ chức riêng cũng như các dịch vụ hỗ trợ cho mọi trẻ em (là người dưới 18 tuổi) bị tình nghi, bị cáo buộc hay bị xác nhận là đã VPPL hình sự với mục tiêu phòng ngừa vi phạm và phục hồi, tái hòa nhập. Để làm được điều đó, việc xử lý đối với mỗi NCTN VPPL cần tương xứng, phù hợp với hoàn cảnh riêng của em đó cũng như những thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra, có nghĩa là việc xử lý phải trên cơ sở cân nhắc hoàn cảnh của trẻ và hoàn cảnh VPPL cũng như tính chất của VPPL chứ không chỉ cân nhắc mức độ nghiêm trọng của hành vi VPPL. Khi xem xét xử lý một NCTN cũng cần cân nhắc đến vấn đề an sinh của người đó ở mọi thời điểm, trong đó có việc xem xét nhu cầu đặc biệt hay khả năng bị tổn thương của người đó. Các chuẩn mực quốc tế này khuyến nghị các Quốc gia phải áp dụng một phương pháp tiếp cận toàn diện để cải cách tư pháp cho trẻ em. Hệ thống tư pháp cần được thiết kế (hoặc thiết kế lại) để xử lý một cách tích cực và có hiệu quả đối với NCTN VPPL bằng việc tập trung cho công tác phòng ngừa, chuyển hướng xử lý NCTN bên ngoài hệ thống tư pháp chính thống, đầu tư cho các dịch vụ phục hồi và tái hòa nhập, và thúc đẩy các biện pháp thay thế tước đoạt tự do. Bình luận chung số 10 của Ủy ban quyền trẻ em đưa ra các hướng dẫn về các yếu tố cơ bản của chính sách tư pháp chưa thành niên nhằm thúc đẩy xử lý chuyển hướng, tư pháp phục hổi và khuyến nghị các quốc gia ứng phó với trẻ em VPPL theo các cách thức không những bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em mà còn bảo đảm lợi ích của toàn xã hội, thúc đẩy việc nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia. Ngoài việc đưa ra những hướng dẫn thể hiện cách tiếp cận mới trong việc xử lý vấn đề trẻ em VPPL, Bình luận chung số 24 được thông qua ngày 18 tháng 9 năm 2019 tiếp tục khuyến nghị các quốc gia tiến hành các biện pháp để bảo đảm quyền trẻ em VPPL. 3.4.1. Tập trung phòng ngừa vi phạm pháp luật Để góp phần giảm tỷ lệ NCTN VPPL thì mỗi quốc gia đều phải chú trọng công tác phòng ngừa trẻ em VPPL thông qua nhiều cách thức khác nhau như giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức về mặt pháp luật cho trẻ em, đồng thời xây dựng một hệ thống can thiệp, hỗ trợ trẻ em VPPL. Bình luận chung số 10 và Bình luận chung số 24 đều khuyến nghị các quốc gia phát triển các chương trình, dịch vụ dựa vào cộng đồng để đáp ứng các nhu cầu riêng biệt, các vấn đề, các mối quan tâm và lợi ích của trẻ em, đặc biệt là các trẻ em tái phạm hành vi VPPL, đồng thời cung cấp dịch vụ tư vấn và hướng dẫn đối với gia đình của họ. Hướng dẫn Riyah cũng khuyến nghị các quốc gia được phát triển hệ thống các chương trình, dịch vụ tại cộng đồng để đáp ứng các nhu cầu riêng biệt của một số nhóm trẻ em nhằm phòng ngừa sớm và phòng ngừa tái phạm đối với những trẻ em thường xuyên tái phạm hành vi VPPL. Các biện pháp phòng ngừa, can thiệp thường áp dụng trên nguyên lý của vòng tròn sinh thái ở các cấp độ: cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Đối với phòng ngừa NCTN VPPL, các tổ chức quốc tế khuyến nghị mô hình bảo vệ ba cấp độ với nguyên tắc với nguyên tắc coi trọng phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ; kịp thời can thiệp, giải quyết để giảm thiểu hậu quả; tích cực hỗ trợ để phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng. Cấp độ 1 là giáo dục tuyên truyền để mọi người nhận thức được và có thái độ đối với các hành vi VPPL; cấp độ 2 là xác định các nhóm trẻ em có nguy cơ VPPL để thực hiện các biện pháp can thiệp, hỗ trợ; cấp độ 3 là cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thiết yếu cho NCTN đã thực hiện hành vi VPPL (y tế, xã hội, tư pháp và hành chính).Cấp độ 1 thường gọi là cấp độ phòng ngừa gồm các biện pháp được áp dụng đối với cộng đồng, gia đình và mọi NCTN nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức để xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho NCTN, giảm thiểu nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt - VPPL, ngăn ngừa trẻ em VPPL thông qua các hoạt động nâng cao nhận thức, cung cấp thông tin, trang bị kiến thức và kỹ năng về bảo vệ trẻ em, giáo dục kỹ năng sống, và xây dựng môi trường an toàn, phù hợp cho trẻ em. Cấp độ hai, thường gọi là cấp độ hỗ trợ bao gồm các biện pháp áp dụng đối với NCTN có nguy cơ VPPL nhằm kịp thời phát hiện, giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ VPPL, gồm các biện pháp như cảnh báo về nguy cơ VPPL, tư vấn kiến thức, kỹ năng, biện pháp khắc phục nguyên nhân và điều kiện VPPL, tiếp nhận thông tin, đánh giá nguy cơ VPPL, áp dụng các biện pháp hỗ trợ cần thiết để giải quyết các nguyên nhân và điều kiện VPPL, kể cả hỗ trợ gia đình NCTN tiếp cận các chính sách trợ giúp xã hội để loại bỏ các yếu tố nguy cơ, ví dụ nguy cơ bỏ học vì tài chính gia đình khó khăn. Cấp độ ba, thường gọi là cấp độ can thiệp được áp dụng với từng cá nhân NCTN khi đã có hành vi VPPL và gia đình nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện VPPL, phục hồi, tránh tái phạm.  Những biện pháp ở cấp độ này bao gồm các biện pháp giúp khắc phục nguyên nhân vi phạm, hỗ trợ tái hòa nhập, giáo dục, theo dõi, đánh giá quá trình thay đổi của NCTN như chăm sóc y tế, trị liệu tâm lý, phục hồi thể chất và tinh thần, tìm kiếm, đoàn tụ gia đình, tư vấn, cung cấp kiến thức pháp luật, hỗ trợ pháp lý, tiếp cận các chế độ hỗ trợ dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, kể cả các chính sách trợ giúp xã hội.. Do đó, pháp luật không chỉ quy định các biện pháp can thiệp cụ thể mà còn cần quy định về các chương trình, biện pháp phòng ngừa ở các cấp độ khác nhau. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định các biên pháp can thiệp cụ thể đối với nhóm trẻ em có nguy cơ VPPL, các chương trình can thiệp phòng ngừa phải xác định rõ các yếu tố nguy cơ và các yếu tố bảo vệ đối với trẻ em VPPL. Ví dụ như các yếu tố nguy cơ ở cấp độ cá nhân bao gồm: trẻ em đã từng là nạn nhân của các hành vi bạo lực, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em bỏ học, trẻ em đường phố; hay các yếu tố nguy cơ từ gia đình như bố mẹ ly hôn, bố hay mẹ đã từng VPPL; ở cấp độ cộng đồng gồm có các yếu tố nguy cơ như đó là có nhiều tệ nạn xã hội như người nghiện ma túy, người nghiện rượu.... Bình luận chung số 24 nhấn mạnh hơn về việc phòng ngừa sớm trẻ em VPPL đối với trẻ em ở dưới độ tuổi tối thiểu chịu TNHS yêu cầu các biện pháp thân thiện, liên ngành được áp dụng ngay từ khi có những dấu hiệu đầu tiên của VPPL. Các biện pháp phòng ngừa phải mang tính bảo vệ và phải được xây dựng dựa trên đánh giá toàn diện, đầy đủ mọi khía cạnh về nhu cầu của trẻ. Nguyên tắc ưu tiên hàng đầu là trẻ em phải được hỗ trợ trong môi trường gia đình, cộng đồng. Chỉ trong những trường hợp rất đặc biệt yêu cầu phải có sự tách biệt khỏi gia đình, thì chăm sóc thay thế trong môi trường gia đình phải được ưu tiên hơn tại các cơ sở chăm sóc. Việc tách trẻ em ra khỏi môi trường gia đình chỉ được áp dụng là biện pháp cuối cùng và trong thời hạn ngắn nhất có thể.   Theo Đào Thị Thu AnLink: Tại đây