0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e046907a65a-istockphoto-1127332586-170667a.jpg

Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản

1.2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản 

1.2.1. Tính đơn vụ và song vụ

Trong khoa học pháp lý, dựa trên mối quan hệ về nghĩa vụ giữa các bên chủ thể mà hợp đồng được phân thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau; còn hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ. Theo quan điểm pháp lý truyền thống của nước ta từ trước tới nay, hợp đồng tặng cho tài sản (HĐTCTS) được xác định là hợp đồng đơn vụ.

Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu nước ngoài lại lập luận HĐTCTS có thể là hợp đồng song vụ như trong bài viết “Donation of land to charity” tác giả của bài viết khẳng định tính chất song vụ đối với trường hợp tặng cho tài sản có điều kiện. Theo đó, để xác định HĐTCTS là hợp đồng đơn vụ hay song vụ cần căn cứ vào loại hợp đồng tặng cho theo từng trường hợp sau đây:

Thứ nhất, HĐTCTS là hợp đồng đơn vụ

HĐTCTS không có điều kiện được xác định là hợp đồng đơn vụ. Trong hợp đồng này chỉ tồn tại nghĩa vụ của bên tặng cho đối với bên được tặng. Ngược lại, việc “nhận tài sản tặng cho” không thể xác định là nghĩa vụ của bên được tặng cho bởi một số lý do sau đây: 

Một là, việc nhận hay không nhận tài sản tặng cho phụ thuộc vào ý chí của bên được tặng cho tài sản. Như vậy, việc nhận tài sản tặng cho mang tính chất hoàn toàn khác với tính chất của nghĩa vụ vì nghĩa vụ là xử sự bắt buộc của một chủ thể phải thực hiện hành vi nhất định theo yêu cầu của bên có quyền hoặc theo quy định của pháp luật;

Hai là, trong quan hệ nghĩa vụ, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Bởi vậy, nếu xác định việc nhận tài sản tặng cho là nghĩa vụ của bên được tặng cho thì sẽ gây ra sự vô lý bởi tương ứng với nghĩa vụ chuyển giao tài sản tặng cho của bên tặng cho phải là quyền nhận tài sản tặng cho của bên được tặng cho mà không thể đồng thời tồn tại nghĩa vụ nhận tài sản của bên được tặng cho.

Ba là, xét theo truyền thống lịch sử lập pháp và lý luận về HĐTCTS, đây là hợp đồng thực tế. Do đó, gắn với việc giao – nhận tài sản tặng cho thì HĐTCTS có hiệu lực, thậm chí với tài sản phải đăng ký sở hữu, nếu giao nhận tài sản tặng cho xong mà các bên chưa thực hiện thủ tục đăng ký thì hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực.

Thứ hai, HĐTCTS là hợp đồng song vụ nếu tặng cho kèm điều kiện

Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện (HĐTCTSCĐK) là loại HĐTC mà bên được tặng cho phải thực hiện một hoặc nhiều điều kiện tặng cho vào thời điểm trước hoặc sau khi nhận tài sản. Chính bởi yếu tố “thực hiện điều kiện tặng cho” mà hiện nay còn tồn tại các quan điểm trái ngược liên quan đến tính chất đơn vụ, song vụ của loại hợp đồng này.

Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu về HĐTCTSCĐK, bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều điều kiện trước hoặc sau khi tặng cho. Như vậy, xét dưới góc độ quan hệ quyền và nghĩa vụ, bên tặng cho có quyền yêu cầu bên được tặng cho thực hiện điều kiện đã thỏa thuận.

Khi việc thực hiện điều kiện tặng cho được xác định là nghĩa vụ của bên được tặng cho thì việc không thực hiện điều kiện tặng cho khiến cho chủ thể này phải chịu các trách nhiệm pháp lý do hành vi vi phạm nghĩa vụ của họ gây ra như phải trả lại tài sản tặng cho nếu đã nhận và phải bồi thường thiệt hại cho bên tặng cho. Nếu không coi việc thực hiện điều kiện tặng cho là nghĩa vụ của bên được tặng cho tài sản thì sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết trường hợp bên tặng cho đã chuyển giao tài sản nhưng bên được tặng cho không thực hiện điều kiện. Vì khi đó, việc không thực hiện điều kiện tặng cho không được xác định là hành vi vi phạm nghĩa vụ nên không thể áp dụng các trách nhiệm pháp lý đối với bên được tặng cho tài sản. Điều này hoàn toàn không hợp lý và gây ra sự bất bình đẳng về quyền giữa bên tặng cho và bên được tặng cho tài sản.

1.2.2. Tính thực tế 

Để khẳng định tính chất ưng thuận hay thực tế của HĐTCTS cần phải tìm hiểu về thời điểm phát sinh hiệu của hợp đồng.

Hợp đồng này chỉ được xác lập dựa trên mối quan hệ tình cảm, sự tương trợ, giúp đỡ giữa bên tặng cho và bên được tặng cho. Do đó, thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS cần phải được xác định theo một sự kiện thực tế có thật là khi bên tặng cho đã chuyển giao tài sản cho bên được tặng cho. Sẽ không hợp lý khi bắt buộc bên tặng cho phải chuyển giao tài sản cho bên được tặng cho khi bên tặng cho và bên được tặng cho mới chỉ dừng lại ở việc thỏa thuận, giao kết HĐTCTS. Điều này được hiểu, không thể bắt ép bên tặng cho phải tặng cho tài sản khi họ không còn tình cảm với bên được tặng cho hoặc bên được tặng cho không cần phải có sự giúp đỡ, tương trợ từ phía bên tặng cho.

1.2.3. Tính không có đền bù 

Trong nhóm hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, hợp đồng mua bán và hợp đồng trao đổi tài sản luôn là hợp đồng có đền bù. Tuy nhiên, đối với HĐTCTS, trong quy định của pháp luật cũng như theo quan điểm của hầu hết những nhà nghiên cứu thì hợp đồng này là hợp đồng không có đền bù.

Tuy nhiên, hiện nay một số học giả còn băn khoăn khi áp dụng tính chất này đối với tặng cho tài sản có điều kiệnĐối với tặng cho tài sản có điều kiện, để được nhận tài sản thì bên tặng cho phải thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ theo sự thỏa thuận với bên tặng cho. Chính vì lý do này nên một vấn đề được đặt ra là nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện có thể mang lại lợi ích vật chất cho bên tặng cho hay không? BLDS hiện hành không quy định cụ thể về tính lợi ích của điều kiện tặng cho nên có hai giả thuyết được đặt ra:

- HĐTCTS luôn là hợp đồng không có đền bù vì đây là điểm đặc trưng của loại hợp đồng này; do đó, điều kiện tặng cho không thể mang lại lợi ích về vật chất cho bên tặng cho;

- Vì BLDS năm 2015 quy định không rõ ràng nên các bên được quyền tự thỏa thuận về điều kiện tặng cho, trừ những điều kiện vi phạm điều cấm pháp luật, trái đạo đức xã hội. Do đó, bên tặng cho và bên được tặng cho có thể thỏa thuận điều kiện mang lại lợi ích vật chất cho bên tặng cho. Trong trường hợp này, tặng cho tài sản có điều kiện là hợp đồng có đền bù.

Theo: Lê Thị Giang

Link luận án: Tại đây

avatar
Thanh Huyền
971 ngày trước
Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản
1.2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản 1.2.1. Tính đơn vụ và song vụTrong khoa học pháp lý, dựa trên mối quan hệ về nghĩa vụ giữa các bên chủ thể mà hợp đồng được phân thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau; còn hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ. Theo quan điểm pháp lý truyền thống của nước ta từ trước tới nay, hợp đồng tặng cho tài sản (HĐTCTS) được xác định là hợp đồng đơn vụ.Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu nước ngoài lại lập luận HĐTCTS có thể là hợp đồng song vụ như trong bài viết “Donation of land to charity” tác giả của bài viết khẳng định tính chất song vụ đối với trường hợp tặng cho tài sản có điều kiện. Theo đó, để xác định HĐTCTS là hợp đồng đơn vụ hay song vụ cần căn cứ vào loại hợp đồng tặng cho theo từng trường hợp sau đây:Thứ nhất, HĐTCTS là hợp đồng đơn vụHĐTCTS không có điều kiện được xác định là hợp đồng đơn vụ. Trong hợp đồng này chỉ tồn tại nghĩa vụ của bên tặng cho đối với bên được tặng. Ngược lại, việc “nhận tài sản tặng cho” không thể xác định là nghĩa vụ của bên được tặng cho bởi một số lý do sau đây: Một là, việc nhận hay không nhận tài sản tặng cho phụ thuộc vào ý chí của bên được tặng cho tài sản. Như vậy, việc nhận tài sản tặng cho mang tính chất hoàn toàn khác với tính chất của nghĩa vụ vì nghĩa vụ là xử sự bắt buộc của một chủ thể phải thực hiện hành vi nhất định theo yêu cầu của bên có quyền hoặc theo quy định của pháp luật;Hai là, trong quan hệ nghĩa vụ, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Bởi vậy, nếu xác định việc nhận tài sản tặng cho là nghĩa vụ của bên được tặng cho thì sẽ gây ra sự vô lý bởi tương ứng với nghĩa vụ chuyển giao tài sản tặng cho của bên tặng cho phải là quyền nhận tài sản tặng cho của bên được tặng cho mà không thể đồng thời tồn tại nghĩa vụ nhận tài sản của bên được tặng cho.Ba là, xét theo truyền thống lịch sử lập pháp và lý luận về HĐTCTS, đây là hợp đồng thực tế. Do đó, gắn với việc giao – nhận tài sản tặng cho thì HĐTCTS có hiệu lực, thậm chí với tài sản phải đăng ký sở hữu, nếu giao nhận tài sản tặng cho xong mà các bên chưa thực hiện thủ tục đăng ký thì hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực.Thứ hai, HĐTCTS là hợp đồng song vụ nếu tặng cho kèm điều kiệnHợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện (HĐTCTSCĐK) là loại HĐTC mà bên được tặng cho phải thực hiện một hoặc nhiều điều kiện tặng cho vào thời điểm trước hoặc sau khi nhận tài sản. Chính bởi yếu tố “thực hiện điều kiện tặng cho” mà hiện nay còn tồn tại các quan điểm trái ngược liên quan đến tính chất đơn vụ, song vụ của loại hợp đồng này.Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu về HĐTCTSCĐK, bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều điều kiện trước hoặc sau khi tặng cho. Như vậy, xét dưới góc độ quan hệ quyền và nghĩa vụ, bên tặng cho có quyền yêu cầu bên được tặng cho thực hiện điều kiện đã thỏa thuận.Khi việc thực hiện điều kiện tặng cho được xác định là nghĩa vụ của bên được tặng cho thì việc không thực hiện điều kiện tặng cho khiến cho chủ thể này phải chịu các trách nhiệm pháp lý do hành vi vi phạm nghĩa vụ của họ gây ra như phải trả lại tài sản tặng cho nếu đã nhận và phải bồi thường thiệt hại cho bên tặng cho. Nếu không coi việc thực hiện điều kiện tặng cho là nghĩa vụ của bên được tặng cho tài sản thì sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết trường hợp bên tặng cho đã chuyển giao tài sản nhưng bên được tặng cho không thực hiện điều kiện. Vì khi đó, việc không thực hiện điều kiện tặng cho không được xác định là hành vi vi phạm nghĩa vụ nên không thể áp dụng các trách nhiệm pháp lý đối với bên được tặng cho tài sản. Điều này hoàn toàn không hợp lý và gây ra sự bất bình đẳng về quyền giữa bên tặng cho và bên được tặng cho tài sản.1.2.2. Tính thực tế Để khẳng định tính chất ưng thuận hay thực tế của HĐTCTS cần phải tìm hiểu về thời điểm phát sinh hiệu của hợp đồng.Hợp đồng này chỉ được xác lập dựa trên mối quan hệ tình cảm, sự tương trợ, giúp đỡ giữa bên tặng cho và bên được tặng cho. Do đó, thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTCTS cần phải được xác định theo một sự kiện thực tế có thật là khi bên tặng cho đã chuyển giao tài sản cho bên được tặng cho. Sẽ không hợp lý khi bắt buộc bên tặng cho phải chuyển giao tài sản cho bên được tặng cho khi bên tặng cho và bên được tặng cho mới chỉ dừng lại ở việc thỏa thuận, giao kết HĐTCTS. Điều này được hiểu, không thể bắt ép bên tặng cho phải tặng cho tài sản khi họ không còn tình cảm với bên được tặng cho hoặc bên được tặng cho không cần phải có sự giúp đỡ, tương trợ từ phía bên tặng cho.1.2.3. Tính không có đền bù Trong nhóm hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, hợp đồng mua bán và hợp đồng trao đổi tài sản luôn là hợp đồng có đền bù. Tuy nhiên, đối với HĐTCTS, trong quy định của pháp luật cũng như theo quan điểm của hầu hết những nhà nghiên cứu thì hợp đồng này là hợp đồng không có đền bù.Tuy nhiên, hiện nay một số học giả còn băn khoăn khi áp dụng tính chất này đối với tặng cho tài sản có điều kiện. Đối với tặng cho tài sản có điều kiện, để được nhận tài sản thì bên tặng cho phải thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ theo sự thỏa thuận với bên tặng cho. Chính vì lý do này nên một vấn đề được đặt ra là nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện có thể mang lại lợi ích vật chất cho bên tặng cho hay không? BLDS hiện hành không quy định cụ thể về tính lợi ích của điều kiện tặng cho nên có hai giả thuyết được đặt ra:- HĐTCTS luôn là hợp đồng không có đền bù vì đây là điểm đặc trưng của loại hợp đồng này; do đó, điều kiện tặng cho không thể mang lại lợi ích về vật chất cho bên tặng cho;- Vì BLDS năm 2015 quy định không rõ ràng nên các bên được quyền tự thỏa thuận về điều kiện tặng cho, trừ những điều kiện vi phạm điều cấm pháp luật, trái đạo đức xã hội. Do đó, bên tặng cho và bên được tặng cho có thể thỏa thuận điều kiện mang lại lợi ích vật chất cho bên tặng cho. Trong trường hợp này, tặng cho tài sản có điều kiện là hợp đồng có đền bù.Theo: Lê Thị GiangLink luận án: Tại đây