KHÁI NIỆM VỀ CỔ PHẦN HÓA
2.1.1. Khái niệm về cổ phần hóa
Theo cách hiểu chung nhất, CPH DNNN là quá trình chuyển đổi sở hữu từ doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sang doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó có sở hữu của người lao động trong doanh nghiệp và sở hữu của các tổ chức, cá nhân khác, hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần.
Về hình thức, cổ phần hoá là việc Nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị tài sản của mình trong DNNN cho các đối tượng là tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp bằng hình thức đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán để hình thành nên các CTCP.
Xét về bản chất kinh tế, CPH là việc nhà nước hoặc giữ nguyên vốn hiện có trong doanh nghiệp nhưng phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn, hoặc bán bớt một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp cho các đối tượng là tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ quản lý và cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán. Xét về mặt cấu trúc sở hữu, CPH là quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN, chuyển doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà nước thành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu với mục đích bảo đảm sự tồn tại và phát triển không ngừng của doanh nghiệp theo sự phát triển của kinh tế xã hội. Từ phương diện pháp lý, CPH là việc chuyển đổi DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. CPH DNNN là quá trình thực hiện đa dạng hóa sở hữu, chuyển các DNNN thuộc sở hữu của nhà nước thành công ty cổ phần thuộc sở hữu của các cổ đông thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia mua cổ phiếu.
Nói cách khác, cổ phần hoá là việc biến doanh nghiệp một chủ thành doanh nghiệp của nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp cho những người khác. Những người này trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp theo tỷ lệ tài sản mà họ sở hữu trong doanh nghiệp CPH.
Thông qua cổ phần hoá, sẽ sàng lọc và đào thải những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và tạo động lực phát triển. Những DNNN kinh doanh kém hiệu quả phần lớn là do khâu quản lý yếu kém, bộ máy điều hành thiếu năng động sáng tạo hoặc thiếu vốn. Khi chuyển sang CTCP, lợi ích sở hữu sẽ phát huy sức mạnh trí tuệ của các cổ đông tham gia vào việc quản lý và sử dụng hợp lý hơn, hiệu quả hơn nguồn lực của doanh nghiệp cổ phần hoá. Cổ phần hoá có tác động quan trọng đến kinh tế - chính trị và xã hội, như:
- Huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển sản xuất, thúc đẩy quá trình xử lý và khắc phục những tồn tại của DNNN. Mặt khác, cổ phần hoá còn có ý nghĩa khắc phục và đi đến xoá bỏ tình trạng “vô chủ” trong các DNNN, hạn chế những lãng phí và thất thoát về tài chính của doanh nghiệp.
- Giải quyết được việc người lao động trong DNNN ỷ lại, không phát huy được hết sự năng động, sáng tạo, tinh thần làm chủ của người lao động. Sự sống còn, phát triển của doanh nghiệp liên quan đến vốn liếng, cuộc sống của họ, buộc mỗi người lao động phải có trách nhiệm hơn đối với doanh nghiệp trong công việc, lời nói và suy nghĩ. Bởi vì, sau khi mua cổ phần, các cá nhân, pháp nhân trở thành cổ đông và lợi ích gắn chặt với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty; công ty làm ăn khấm khá thì cổ tức cao và ngược lại sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của họ.
- Góp phần đẩy lùi tình trạng lãng phí, tham nhũng trong các DNNN và cơ quan quản lý chúng. Sự bao cấp của Nhà nước đối với nhiều doanh nghiệp, cơ chế "xin - cho" là mảnh đất màu mỡ cho lãng phí, tham nhũng. Như vậy, cổ phần hoá sẽ tạo ra sự giám sát chặt chẽ của các chủ sở hữu (cổ đông) đối với giám đốc và cán bộ quản lý CTCP.
- Sau cổ phần hoá, Nhà nước sẽ thu được một phần giá trị tài sản mà trước đây giao cho các doanh nghiệp kinh doanh nhưng kém hiệu quả; khoản tiền này sẽ được đầu tư trở lại cho các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, phát triển nền kinh tế. Cùng với việc giảm đầu mối DNNN, sẽ làm giảm nhu cầu hỗ trợ và ưu đãi về tín dụng của Nhà nước. Đặc biệt sẽ làm giảm bớt áp lực vay vốn lên các ngân hàng thương mại quốc doanh và quỹ tín dụng Nhà nước.
- Ngoài ra, cổ phần hoá còn giúp cho thị trường chứng khoán phát triển và ngược lại sự phát triển của thị trường chứng khoán sẽ có tác động rất lớn
Từ những năm 70 của thế kỷ XX, trên thế giới diễn ra quá trình giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước thông qua việc tiến hành tư nhân hóa và cổ phần hóa DNNN. Sở dĩ có hiện tượng này là do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do các DNNN phát triển tràn lan, nhưng không được tổ chức và quản lý tốt nên hoạt động kém hiệu quả. Quản lý kinh tế theo kiểu hành chính qua nhiều cấp trung gian; hệ thống kế hoạch, tài chính cứng nhắc, thiếu khả năng thích ứng với nền KTTT. Tính chủ động trong sản xuất kinh doanh bị gò bó bởi nhiều qui chế xuất phát từ quyền sở hữu của Nhà nước. Tình trạng độc quyền của các DNNN được pháp luật bảo vệ đã đánh mất động lực kinh tế, tính cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DN này;
Thứ hai, do hoạt động kém hiệu quả nên các DNNN trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Đây là tình trạng phổ biến ở nhiều nước. Để các DNNN ổn định tiếp tục hoạt động, Nhà nước phái sử dụng ngân sách trợ cấp trực tiếp dưới một số hình thức khác, dẫn đến ngân sách Nhà nước bị thiếu hụt. Sự thiếu hụt ngân sách Nhà nước khiến các Chính phủ phải huy động và vay nợ tư nhân và các nguồn vốn cho vay của các tổ chức tài chính quốc tế lớn làm tăng sự phụ thuộc của Chính phủ vào các tổ chức này. Vì thế, các tổ chức này đã đưa ra nhiều điều kiện áp đặt, gây sức ép buộc các DNNN phải tổ chức lại sản xuất để có hiệu quả, trong đó có chuyển một số DNNN thành CTCP [41;38].
Thứ ba, do có sự thay đổi quan điểm về vai trò của Nhà nước trong nền KTTT, đây là nguyên nhân về nhận thức lý luận: Từ “Chủ nghĩa tư bản điều tiết” của Keynes đến “Chủ nghĩa tự do mới” rồi “Nền kinh tế hỗn hợp” của Samuelson; sự thay đổi nhận thức từ chỗ nhấn mạnh vai trò của khu vực kinh tế Nhà nước đến chỗ coi trọng khu vực kinh tế tư nhân và vai trò điều tiết của cơ chế thị trường trong “nền kinh tế hỗn hợp” theo xu hướng một mô hình hỗn hợp giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân. Quan điểm này đã làm thay đổi tư duy kinh tế của các Chính phủ, dẫn đến xu hướng đánh giá lại vai trò và hiệu quả kinh tế - xã hội của hệ thống DNNN. Cổ phần hóa DNNN là một giải pháp mà hầu hết các nước đều coi trọng, bắt nguồn từ sự thay đổi quan điểm trên [41;38];
Thứ tư, do sức hấp dẫn từ ưu điểm của mô hình CTCP: so với các DN bình thường khác, CTCP có sức sống mạnh hơn, hiệu quả kinh tế cao hơn rõ rệt và vai trò hết sức to lớn trong phát triển KT-XH, đáp ứng yêu cầu mới của sự phát triển KTTT.
Theo Nguyễn Văn Cường
Link: Tại đây