0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64e2db846318c-photo-1589216532372-1c2a367900d9.jpg

Bài học kinh nghiệm cho cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước trong ngành giao thông vận tải ở Việt Nam

2.3.3 Bài học kinh nghiệm cho cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước trong ngành giao thông vận tải ở Việt Nam 

Qua việc khảo sát pháp luật và thực tiễn của các quốc gia chuyển đổi là Trung Quốc và Liên bang Nga  về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải, có thể đi đến một số kinh nghiệm cần lưu ý sau:

Thứ nhất, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải chủ yếu là các doanh nghiệp có quy mô lớn là xu thế mang tính phổ biến 

Sự triển khai có tính chất toàn cầu quá trình này tạo ra một tương quan hợp lý giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân, giữa sự điều tiết của Nhà nước và thị trường. Vì vậy, tiến hành CPH DNNN ở Việt Nam là đòi hỏi khi chuyển sang nền KTTT cần có sự điều tiết, định hướng của Nhà nước. CPH cần được nghiên cứu một cách toàn diện, nó không chỉ là mục đích tự thân mà là một bộ phận quan trọng của chương trình cải cách rộng lớn nhằm khuyến khích cạnh tranh, phát triển thị trường vốn. 

Thứ hai, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải được tiến hành theo điều kiện cụ thể và lộ trình mở cửa thị trường của từng quốc gia 

Đây là sự phản ánh tính đặc thù khác nhau về mục tiêu, cách thức tổ chức, bước đi và các biện pháp cụ thể do những đặc điểm về KT-CT-XH cũng như chính sách xây dựng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nước ta cũng không thể không chú ý đến tính đặc thù để vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chính phủ nên áp dụng hình thức CPH chủ yếu đối với doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải, có khả năng phát triển, áp dụng tỷ lệ bán cổ phần đa dạng. 

Thứ ba, cổ phần hóa là chiến lược nhằm tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải 

Khi DNNN đã được CPH, các Chính phủ xây dựng các công cụ thay thế để phục vụ lợi ích quốc gia và lợi ích xã hội như chế định hợp đồng, quyền của cổ đông thiểu số và cổ phiếu vàng, điều tiết ngành, Nhà nước xây dựng và quán triệt một quan niệm, một mục tiêu đúng đắn về CPH phù hợp với mục tiêu chuyển DNNN thành CTCP là để thu hút nguồn lực từ bên ngoài vào, chứ không chỉ bán toàn bộ tài sản Nhà nước để phát triển, nâng cao hiệu quả SXKD. 

Hầu hết các nước đều coi CPH là một bộ phận của quá trình cải tổ toàn bộ nền kinh tế. Do đó, đòi hỏi phải được suy xét và hành động mang tính chiến lược cao. Vì vậy, các nước đều lập ra một cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện quá trình này theo những quan điểm chiến lược đề ra. Với qui mô và tính chất quan trọng của chương trình CPH, Nhà nước ta có thể xem xét vấn đề này ở tầm chiến lược trong quá trình đổi mới toàn diện để phát triển nhanh nền kinh tế, đồng thời cũng cần thiết thành lập một CQNN chịu trách nhiệm thực hiện chương trình này. 

Thứ tư, để cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải thực hiện thành công, cần phải thể chế hóa bằng pháp luật đối với các nhóm vấn đề 

  • Xác lập kế hoạch, lộ trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ; 
  • Xác lập chiến lược cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải theo hướng sau: 

+ Phải đa dạng hóa phương thức CPH: Bán cho cả cổ đông chiến lược, người lao động trước rồi IPO, hoặc IPO trước rồi bán cho cổ đông chiến lược và người lao động; hoặc kết hợp vừa bán cho cổ đông chiến lược, người lao động và IPO... trong đó, việc bán cho cổ đông chiến lược trước khi IPO được Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm trong chính sách CPH DNNN. 

+ Phải ưu tiên lựa chọn cổ đông chiến lược, đặc biệt là cổ đông chiến lược nước ngoài, hoạt động cùng trong ngành giao thông vận tải và có những tiêu chuẩn phù hợp để tiến hành bán cổ phần trước khi tiến hành phát hành rộng rãi ra công chúng. Việc thỏa thuận bán cho cổ đông chiến lược kèm theo những cam kết hỗ trợ DN trước khi tiến hành IPO sẽ làm tăng giá trị của DN, đem lại lợi ích cho cả cổ đông chiến lược lẫn Nhà nước; hoặc kết hợp vừa bán cho cổ đông chiến lược, vừa IPO ra công chúng, giá bán cho cổ đông chiến lược là giá thỏa thuận; bán ra bên ngoài bằng hình thức đấu giá; giá trị DN xác định lại là căn cứ xác định giá thương thảo bán cho cổ đông chiến lược, giá khởi điểm khi đấu giá bán ra ngoài. Nhà nước thường giữ cổ phần lớn hơn 51% khi CPH DN trong ngành giao thông vận tải có quy mô lớn; 

+ Cần chú trọng đặt mục tiêu nâng cao năng lực quản trị DN khi thực hiện CPH DNNN có quy mô lớn. Yếu tố quản lý DN là vô cùng quan trọng, do vậy, trước khi tiến hành CPH, phải sắp xếp, tổ chức và nâng cao chất lượng quản lý DN, xử lý những tồn tại của DN, lựa chọn trình tự tiến hành và những bước đi phù hợp nhằm tận dụng tối đa sức mạnh nội tại trong mỗi công ty, tiến hành xử lý tài chính thông qua đàm phán, thỏa thuận với những ngân hàng, tổ chức tài chính để lành mạnh hóa tài chính đối với những DN trong ngành giao thông vận tải có quy mô lớn, có tiềm năng nhưng kết quả hoạt động còn chưa tương xứng với tiềm năng của bản thân DN. 

+ Phải có chính sách xử lý thích hợp lao động trong CPH DNNN trong ngành giao thông vận tải có quy mô lớn. Về chính sách đối với người lao động, ngoài ưu đãi về giá bán cổ phiếu, cần tạo điều kiện về tài chính như phân kỳ thanh toán tiền mua cổ phiếu, hỗ trợ thích hợp tiến hành đào tạo, đào tạo lại hoặc tạo việc làm mới cho người lao động để có sự đồng thuận của người lao động tại DN khi tiến hành CPH. Có chính sách giành một tỷ lệ cổ phần thích đáng bán cho người là lao động cán bộ lãnh đạo giỏi để họ gắn bó lâu dài và có trách nhiệm với DN. 

Theo Nguyễn Văn Cường

Link: Tại đây

avatar
Lã Thị Ái Vi
969 ngày trước
Bài học kinh nghiệm cho cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước trong ngành giao thông vận tải ở Việt Nam
2.3.3 Bài học kinh nghiệm cho cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước trong ngành giao thông vận tải ở Việt Nam Qua việc khảo sát pháp luật và thực tiễn của các quốc gia chuyển đổi là Trung Quốc và Liên bang Nga  về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải, có thể đi đến một số kinh nghiệm cần lưu ý sau:Thứ nhất, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải chủ yếu là các doanh nghiệp có quy mô lớn là xu thế mang tính phổ biến Sự triển khai có tính chất toàn cầu quá trình này tạo ra một tương quan hợp lý giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân, giữa sự điều tiết của Nhà nước và thị trường. Vì vậy, tiến hành CPH DNNN ở Việt Nam là đòi hỏi khi chuyển sang nền KTTT cần có sự điều tiết, định hướng của Nhà nước. CPH cần được nghiên cứu một cách toàn diện, nó không chỉ là mục đích tự thân mà là một bộ phận quan trọng của chương trình cải cách rộng lớn nhằm khuyến khích cạnh tranh, phát triển thị trường vốn. Thứ hai, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải được tiến hành theo điều kiện cụ thể và lộ trình mở cửa thị trường của từng quốc gia Đây là sự phản ánh tính đặc thù khác nhau về mục tiêu, cách thức tổ chức, bước đi và các biện pháp cụ thể do những đặc điểm về KT-CT-XH cũng như chính sách xây dựng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nước ta cũng không thể không chú ý đến tính đặc thù để vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chính phủ nên áp dụng hình thức CPH chủ yếu đối với doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải, có khả năng phát triển, áp dụng tỷ lệ bán cổ phần đa dạng. Thứ ba, cổ phần hóa là chiến lược nhằm tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải Khi DNNN đã được CPH, các Chính phủ xây dựng các công cụ thay thế để phục vụ lợi ích quốc gia và lợi ích xã hội như chế định hợp đồng, quyền của cổ đông thiểu số và cổ phiếu vàng, điều tiết ngành, Nhà nước xây dựng và quán triệt một quan niệm, một mục tiêu đúng đắn về CPH phù hợp với mục tiêu chuyển DNNN thành CTCP là để thu hút nguồn lực từ bên ngoài vào, chứ không chỉ bán toàn bộ tài sản Nhà nước để phát triển, nâng cao hiệu quả SXKD. Hầu hết các nước đều coi CPH là một bộ phận của quá trình cải tổ toàn bộ nền kinh tế. Do đó, đòi hỏi phải được suy xét và hành động mang tính chiến lược cao. Vì vậy, các nước đều lập ra một cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện quá trình này theo những quan điểm chiến lược đề ra. Với qui mô và tính chất quan trọng của chương trình CPH, Nhà nước ta có thể xem xét vấn đề này ở tầm chiến lược trong quá trình đổi mới toàn diện để phát triển nhanh nền kinh tế, đồng thời cũng cần thiết thành lập một CQNN chịu trách nhiệm thực hiện chương trình này. Thứ tư, để cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải thực hiện thành công, cần phải thể chế hóa bằng pháp luật đối với các nhóm vấn đề Xác lập kế hoạch, lộ trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ; Xác lập chiến lược cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải theo hướng sau: + Phải đa dạng hóa phương thức CPH: Bán cho cả cổ đông chiến lược, người lao động trước rồi IPO, hoặc IPO trước rồi bán cho cổ đông chiến lược và người lao động; hoặc kết hợp vừa bán cho cổ đông chiến lược, người lao động và IPO... trong đó, việc bán cho cổ đông chiến lược trước khi IPO được Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm trong chính sách CPH DNNN. + Phải ưu tiên lựa chọn cổ đông chiến lược, đặc biệt là cổ đông chiến lược nước ngoài, hoạt động cùng trong ngành giao thông vận tải và có những tiêu chuẩn phù hợp để tiến hành bán cổ phần trước khi tiến hành phát hành rộng rãi ra công chúng. Việc thỏa thuận bán cho cổ đông chiến lược kèm theo những cam kết hỗ trợ DN trước khi tiến hành IPO sẽ làm tăng giá trị của DN, đem lại lợi ích cho cả cổ đông chiến lược lẫn Nhà nước; hoặc kết hợp vừa bán cho cổ đông chiến lược, vừa IPO ra công chúng, giá bán cho cổ đông chiến lược là giá thỏa thuận; bán ra bên ngoài bằng hình thức đấu giá; giá trị DN xác định lại là căn cứ xác định giá thương thảo bán cho cổ đông chiến lược, giá khởi điểm khi đấu giá bán ra ngoài. Nhà nước thường giữ cổ phần lớn hơn 51% khi CPH DN trong ngành giao thông vận tải có quy mô lớn; + Cần chú trọng đặt mục tiêu nâng cao năng lực quản trị DN khi thực hiện CPH DNNN có quy mô lớn. Yếu tố quản lý DN là vô cùng quan trọng, do vậy, trước khi tiến hành CPH, phải sắp xếp, tổ chức và nâng cao chất lượng quản lý DN, xử lý những tồn tại của DN, lựa chọn trình tự tiến hành và những bước đi phù hợp nhằm tận dụng tối đa sức mạnh nội tại trong mỗi công ty, tiến hành xử lý tài chính thông qua đàm phán, thỏa thuận với những ngân hàng, tổ chức tài chính để lành mạnh hóa tài chính đối với những DN trong ngành giao thông vận tải có quy mô lớn, có tiềm năng nhưng kết quả hoạt động còn chưa tương xứng với tiềm năng của bản thân DN. + Phải có chính sách xử lý thích hợp lao động trong CPH DNNN trong ngành giao thông vận tải có quy mô lớn. Về chính sách đối với người lao động, ngoài ưu đãi về giá bán cổ phiếu, cần tạo điều kiện về tài chính như phân kỳ thanh toán tiền mua cổ phiếu, hỗ trợ thích hợp tiến hành đào tạo, đào tạo lại hoặc tạo việc làm mới cho người lao động để có sự đồng thuận của người lao động tại DN khi tiến hành CPH. Có chính sách giành một tỷ lệ cổ phần thích đáng bán cho người là lao động cán bộ lãnh đạo giỏi để họ gắn bó lâu dài và có trách nhiệm với DN. Theo Nguyễn Văn CườngLink: Tại đây