0888889366
timeline_post_file62ecebfae3ccc-chia-tai-san-khi-ly-hon--1-.jpg.webp

ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL VỀ CHẤM DỨT HÔN NHÂN THỰC TẾ

Nội dung vụ việc 

Năm 1969, ông Trần Thế T1 chung sống với bà Tô Thị T2 sinh được 02 người con là Trần Trọng P2 và Trần Trọng P3. Do mâu thuẫn vợ chồng nên bà T2 đã bỏ đi vào Vũng Tàu sinh sống và kết hôn với người khác. Năm 1985, ông  T1 chung sống với bà Trần Thị S có con chung là Trần Thị Trọng P1.

Năm 1987, Uỷ ban nhân dân thị xã K đã cấp cho ông T1 diện tích 8.500m2đất vườn tại phường Q (nay là phường D), thị xã K.

Ngày 26/3/2003 (AL) ông T1 chết không để lại di chúc, toàn bộ tài sản do anh P2 và anh P3 quản lý sử dụng.

Ngày 08/10/2004,chị P1 khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của ông T1 để lại

Bà Trần Thị S cũng có đơn yêu cầu chia tài sản chung giữa bà và ông Trần Thế T1

Nhận định của tòa án cấp phúc thẩm 

Bà T2 không được hưởng di sản của ông T1 để lại như án sơ thẩm xử là đúng.

Án sơ thẩm công nhận là hôn nhân giữa bà S và ông T1 là hôn nhân thực tế nên được chia tài sản chung và được hưởng di sản thừa kế của ông T1 là có căn cứ

Án sơ thẩm chấp nhận chị P1 được hưởng thừa kế di sản của ông T1 là có căn cứ.

Diện tích đất của ông T1 chưa được đo đạc chính, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được do đó cần huỷ án sơ thẩm để giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án. 

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015);

Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hànhLuật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Trên đây bài viết của chúng tôi, nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết và để được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệ:

Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội

Email: Support@legalzone.com

Hotline: 0888889366

 

Lê Phương Thảo
113 ngày trước
ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL VỀ CHẤM DỨT HÔN NHÂN THỰC TẾ
Nội dung vụ việc Năm 1969, ông Trần Thế T1 chung sống với bà Tô Thị T2 sinh được 02 người con là Trần Trọng P2 và Trần Trọng P3. Do mâu thuẫn vợ chồng nên bà T2 đã bỏ đi vào Vũng Tàu sinh sống và kết hôn với người khác. Năm 1985, ông  T1 chung sống với bà Trần Thị S có con chung là Trần Thị Trọng P1.Năm 1987, Uỷ ban nhân dân thị xã K đã cấp cho ông T1 diện tích 8.500m2đất vườn tại phường Q (nay là phường D), thị xã K.Ngày 26/3/2003 (AL) ông T1 chết không để lại di chúc, toàn bộ tài sản do anh P2 và anh P3 quản lý sử dụng.Ngày 08/10/2004,chị P1 khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của ông T1 để lạiBà Trần Thị S cũng có đơn yêu cầu chia tài sản chung giữa bà và ông Trần Thế T1Nhận định của tòa án cấp phúc thẩm Bà T2 không được hưởng di sản của ông T1 để lại như án sơ thẩm xử là đúng.Án sơ thẩm công nhận là hôn nhân giữa bà S và ông T1 là hôn nhân thực tế nên được chia tài sản chung và được hưởng di sản thừa kế của ông T1 là có căn cứÁn sơ thẩm chấp nhận chị P1 được hưởng thừa kế di sản của ông T1 là có căn cứ.Diện tích đất của ông T1 chưa được đo đạc chính, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được do đó cần huỷ án sơ thẩm để giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015);Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hànhLuật Hôn nhân và gia đình năm 2000;Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000Trên đây bài viết của chúng tôi, nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết và để được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệ:Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà NộiEmail: Support@legalzone.comHotline: 0888889366