timeline_post_file6087831ee19d2-quyen-nuoi-con.jpg

Thay đổi dân tộc của con nuôi

Việc nhận nuôi con nuôi là một tình trạng khá phổ biến ở nước ta. Mặc dù xuất phát từ mục đích nhân đạo nhưng việc nhận con nuôi cũng cần được thực hiện theo đúng thủ tục luật định. Và vấn đề có được thay đổi dân tộc con nuôi sau khi hoàn tất thủ tục nhận con hay không cũng đang là một trong những câu hỏi thiết yếu.

Bài viết sau đây của Legalzone sẽ đề cập đến vấn đề trên.Quy định pháp luật về thay đổi dân tộc của con nuôi

Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi

Theo Điều 9 Luật nuôi con nuôi 2010 và Điều 2 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP thì:

Đối với việc nuôi con nuôi trong nước, trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi;

cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

Đối với việc nuôi con nuôi nước ngoài, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi.

Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Đối với việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau tạm trú ở nước ngoài, thì Cơ quan đại diện nơi tạm trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.

Điều kiện đối với người nhận con nuôi

Theo khoản 1, khoản 2 Điều 14 Luật nuôi con nuôi thì người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện:

  • Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
  • Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.
  • Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.
  • Có tư cách đạo đức tốt.

Trường hợp người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, đang chấp hành hình phạt tù;

chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình;

dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em thì không được phép nhận nuôi con nuôi.Điều kiện để trẻ em được nhận làm con nuôi

Theo khoản 1, 2, 3 Điều 8 Luật nuôi con nuôi:

  • Là trẻ em dưới 16 tuổi.
  • Là trẻ em từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc trường hợp được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
  • Một người chỉ được làm con của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

Hồ sơ của người nhận con nuôi

Thứ ba, hồ sơ của người nhận con nuôi theo Điều 17 Luật nuôi con nuôi 2010 và Điều 7 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP bao gồm:

  • Đơn xin nhận con nuôi.
  • Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế.
  • Phiếu lý lịch tư pháp.
  • Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân.
  • Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp.

>>>Tham khảo bài viết: nhận nuôi con nuôi nước ngoài

Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi

Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước theo Điều 18 Luật nuôi con nuôi 2010 gồm :

  • Giấy khai sinh.
  • Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp.
  • Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng.Trình tự thực hiện

theo Điều 22 Luật nuôi con nuôi và Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP:

Công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người có liên quan.

Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch.

Trường hợp từ chối đăng ký, Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng.

Theo khoản 2 Điều 19 Luật nuôi con nuôi và khoản 1 Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP

thì khi đăng ký nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ, người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và người được nhận làm con nuôi phải có mặt.

Công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho các bên trong thời hạn là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Thủ tục thay đổi dân tộc của con nuôi

Khoản 2 Điều 29 Bộ luật dân sự 2015  quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc:Quy định về thay đổi dân tộc của con nuôi

Căn cứ Điều 24 Luật nuôi con nuôi 2014 có quy định về hệ quả của việc nuôi con nuôi cụ thể như sau:

– Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.

– Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.

Căn cứ quy định của pháp luật hiện hành thì hoàn toàn có thể nhận nuôi đứa bé bị bỏ rơi và có thể thay đổi họ tên cũng như xác định dân tộc cho cháu bé là người kinh theo dân tộc của mình nếu đáp ứng được các điều kiện về người nhận nuôi con nuôi theo quy định của Luật hộ tịch 2014 và thực hiện đầy đủ các thủ tục quy định tại luật này.

Như vậy, việc thay đổi dân tộc của con nuôi chỉ áp dụng với đứa trẻ được nhận nuôi là trẻ em bị bỏ rơi. 

Trên đây là tư vấn của Legalzone về thay đổi dân tộc của con nuôi. Liên hệ ngay với Legalzone để được tư vấn và hỗ trợ nhé. 

Nguyễn Thị Tố Uyên
217 ngày trước
Thay đổi dân tộc của con nuôi
Việc nhận nuôi con nuôi là một tình trạng khá phổ biến ở nước ta. Mặc dù xuất phát từ mục đích nhân đạo nhưng việc nhận con nuôi cũng cần được thực hiện theo đúng thủ tục luật định. Và vấn đề có được thay đổi dân tộc con nuôi sau khi hoàn tất thủ tục nhận con hay không cũng đang là một trong những câu hỏi thiết yếu.Bài viết sau đây của Legalzone sẽ đề cập đến vấn đề trên.Quy định pháp luật về thay đổi dân tộc của con nuôiThẩm quyền đăng ký nuôi con nuôiTheo Điều 9 Luật nuôi con nuôi 2010 và Điều 2 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP thì:Đối với việc nuôi con nuôi trong nước, trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi;cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.Đối với việc nuôi con nuôi nước ngoài, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi.Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.Đối với việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau tạm trú ở nước ngoài, thì Cơ quan đại diện nơi tạm trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.Điều kiện đối với người nhận con nuôiTheo khoản 1, khoản 2 Điều 14 Luật nuôi con nuôi thì người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện:Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.Có tư cách đạo đức tốt.Trường hợp người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, đang chấp hành hình phạt tù;chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình;dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em thì không được phép nhận nuôi con nuôi.Điều kiện để trẻ em được nhận làm con nuôiTheo khoản 1, 2, 3 Điều 8 Luật nuôi con nuôi:Là trẻ em dưới 16 tuổi.Là trẻ em từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc trường hợp được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.Một người chỉ được làm con của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.Hồ sơ của người nhận con nuôiThứ ba, hồ sơ của người nhận con nuôi theo Điều 17 Luật nuôi con nuôi 2010 và Điều 7 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP bao gồm:Đơn xin nhận con nuôi.Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế.Phiếu lý lịch tư pháp.Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân.Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp.>>>Tham khảo bài viết: nhận nuôi con nuôi nước ngoàiHồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôiHồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước theo Điều 18 Luật nuôi con nuôi 2010 gồm :Giấy khai sinh.Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp.Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng.Trình tự thực hiệntheo Điều 22 Luật nuôi con nuôi và Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP:Công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người có liên quan.Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch.Trường hợp từ chối đăng ký, Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng.Theo khoản 2 Điều 19 Luật nuôi con nuôi và khoản 1 Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CPthì khi đăng ký nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ, người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và người được nhận làm con nuôi phải có mặt.Công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho các bên trong thời hạn là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.Thủ tục thay đổi dân tộc của con nuôiKhoản 2 Điều 29 Bộ luật dân sự 2015  quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc:Quy định về thay đổi dân tộc của con nuôiCăn cứ Điều 24 Luật nuôi con nuôi 2014 có quy định về hệ quả của việc nuôi con nuôi cụ thể như sau:– Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.– Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.Căn cứ quy định của pháp luật hiện hành thì hoàn toàn có thể nhận nuôi đứa bé bị bỏ rơi và có thể thay đổi họ tên cũng như xác định dân tộc cho cháu bé là người kinh theo dân tộc của mình nếu đáp ứng được các điều kiện về người nhận nuôi con nuôi theo quy định của Luật hộ tịch 2014 và thực hiện đầy đủ các thủ tục quy định tại luật này.Như vậy, việc thay đổi dân tộc của con nuôi chỉ áp dụng với đứa trẻ được nhận nuôi là trẻ em bị bỏ rơi. Trên đây là tư vấn của Legalzone về thay đổi dân tộc của con nuôi. Liên hệ ngay với Legalzone để được tư vấn và hỗ trợ nhé.