0888889366
Danh mục
LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM, LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Lê Thị Hồng Tới
18 ngày trước
timeline_post_file6321a3e8d7f86-cn--1-.jpg.webp
Áp dụng pháp luật về định giá công nghệ và tài sản trí tuệ tại Việt Nam
Áp dụng pháp luật về định giá công nghệ và tài sản trí tuệ tại Việt NamĐịnh giá công nghệ, tài sản trí tuệ là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình thương mại hóa và chuyển giao công nghệ, tài sản trí tuệ. Mặc dù vậy, hiện nay, những chính sách, pháp luật liên quan đến hoạt động này vẫn còn thiếu, nhất là những biện pháp hỗ trợ của Nhà nước nhằm thúc đẩy hoạt động định giá công nghệ, tài sản trí tuệ. Vì vậy, cần có những giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm phát triển hoạt động định giá công nghệ và tài sản trí tuệ tại Việt Nam.Thực trạng chính sách, pháp luật về định giá công nghệ, tài sản trí tuệ tại Việt NamKể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, hoạt động chuyển giao công nghệ, đặc biệt là chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, những công nghệ quan trọng thường nằm trong các gói thầu lớn sử dụng nguồn ngân sách nhà nước; giá của công nghệ thường không được tách riêng mà nằm chung trong gói thầu cùng với hệ thống trang thiết bị; hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra tự phát, chưa có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước.Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1996, hoạt động chuyển giao công nghệ có bước chuyển biến mạnh mẽ, nhu cầu định giá công nghệ ngày càng tăng lên. Chính phủ ban hành Nghị định số 45/1998/NĐ-CP, ngày 1-7-1998, “Quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ”. Theo nghị định này, giá của công nghệ được xác định theo cách khống chế giá tối đa hay còn gọi là giá trần. Giá tối đa của công nghệ là 5% giá bán tịnh, trường hợp đặc biệt có thể lên tới 8% giá bán tịnh (nhưng phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, tuy nhiên, trên thực tế chưa có trường hợp nào xảy ra). Giá bán tịnh là tổng giá bán sản phẩm hoặc dịch vụ mà trong quá trình tạo ra, có áp dụng công nghệ được chuyển giao, tính theo hóa đơn bán hàng, trừ đi các khoản, như: Thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng; chiết khấu thương mại; chi phí đầy đủ cho việc mua các bản thành phẩm, bộ phận chi tiết, linh kiện từ bất kể nguồn cung cấp nào; chi phí bao bì, chi phí đóng gói, chi phí vận tải, chi phí quảng cáo.Trưng bày các sản phẩm, thiết bị công nghệ 4.0 tại Triển lãm công nghiệp và sản xuất Việt Nam 2022_Ảnh: congnghiepcongnghecao.com.vnViệc khống chế giá tối đa có lợi cho bên nhận công nghệ khi bên nhận công nghệ chưa có nhiều kinh nghiệm thương thảo hợp đồng chuyển giao công nghệ, chưa biết định giá công nghệ. Tuy nhiên, việc khống chế giá tối đa có những hạn chế, như khó có thể nhận được những công nghệ cao, công nghệ hiện đại, bởi công nghệ cao, công nghệ hiện đại đương nhiên giá phải cao hơn giá công nghệ thông thường và có thể vượt giá trần. Trong trường hợp này bị coi là vi phạm pháp luật về chuyển giao công nghệ và công nghệ đó sẽ không được chuyển giao.Để khắc phục những hạn chế của Nghị định số 45/1998/NĐ-CP, trong đó có việc khống chế giá trần, Chính phủ ban hành Nghị định số 11/2005/NĐ-CP, ngày 2-2-2005, “Quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ”, thay thế Nghị định số 45/1998/NĐ-CP. Theo đó, bỏ giá trần, giá của công nghệ do bên mua và bên bán công nghệ tự thỏa thuận. Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 cũng không quy định giá công nghệ chuyển giao. Định giá công nghệ là một việc khó, cần phải có các chuyên gia am hiểu chuyên môn để thực hiện các công việc này, do vậy, hoạt động định giá công nghệ, tài sản trí tuệ còn rất hạn chế.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển khoa học và công nghệ, trong đó có các quy định liên quan đến hoạt động định giá công nghệ, tài sản trí tuệ, quản lý và phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Theo đó, tổ chức đánh giá, định giá công nghệ là tổ chức cung cấp dịch vụ chuyển giao công nghệ, thực hiện dịch vụ đánh giá, định giá công nghệ, với vai trò như một tổ chức trung gian trong thị trường khoa học và công nghệ, góp phần thúc đẩy và đưa công nghệ từ bên bán đến bên mua được thuận lợi hơn.Theo Điều 32 Nghị định số 76/2018/NĐ-CP, ngày 15-5-2018, của Chính phủ “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ”, tổ chức thẩm định giá công nghệ cần đáp ứng các điều kiện: 1- Có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định của pháp luật về giá đối với doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ đối với tổ chức khoa học và công nghệ; 2- Có ít nhất 2 thẩm định viên về giá hành nghề đã hoàn thành chương trình cập nhật kiến thức về định giá công nghệ, định giá tài sản trí tuệ do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức hoặc công nhận.Hiện nay, bên cạnh các văn bản pháp luật quy định về phương pháp định giá(1), còn có một số văn bản pháp luật khác liên quan đến dịch vụ định giá công nghệ, tài sản trí tuệ trong nội dung của hoạt động chuyển giao công nghệ, khẳng định Nhà nước khuyến khích phát triển hoạt động định giá công nghệ, tài sản trí tuệ; quy định về điều kiện hoạt động (Điều 48 Luật Chuyển giao công nghệ); quyền của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ (Điều 46 Luật Chuyển giao công nghệ); nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ (Điều 47 Luật Chuyển giao công nghệ và Điều 81 Luật Thương mại); nghĩa vụ người sử dụng môi giới, tư vấn (Điều 85 Luật Thương mại); giá cả tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ (Điều 86 - 87 Luật Thương mại); hợp đồng chuyển giao công nghệ (Điều 22 đến Điều 34 Luật Chuyển giao công nghệ); khuyến khích hỗ trợ công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghị định số 80/2021/NĐ-CP, ngày 26-8-2021, của Chính phủ “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa”).Đánh giá chung về chính sách, pháp luật định giá công nghệ, tài sản trí tuệ hiện hành của Việt NamTừ thực tiễn trên, có thể đánh giá chính sách, pháp luật định giá công nghệ, tài sản trí tuệ hiện hành của Việt Nam hiện nay như sau:Về ưu điểm: Nhìn chung, chính sách về định giá công nghệ, tài sản trí tuệ bao gồm khá nhiều quy định liên quan toàn diện tới các mặt của hoạt động tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho sự phát triển của các hoạt động tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ nói chung và hoạt động định giá công nghệ, tài sản trí tuệ nói riêng. Các quy định pháp luật (Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp) điều chỉnh việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ đã tương đối đầy đủ, từng bước tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể trong việc khai thác, chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ cho tổ chức, cá nhân khác. Hợp đồng chuyển giao công nghệ, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ, thủ tục chấp thuận, cấp phép chuyển giao công nghệ, hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được quy định cụ thể(2).Về hạn chế, bất cập: Ở Việt Nam, các văn bản pháp luật chủ yếu là các quy định chung điều chỉnh những hoạt động chuyển giao công nghệ mà định giá công nghệ là một loại hình trong đó. Hiện có ít các quy định riêng về định giá công nghệ và tài sản trí tuệ, đặc biệt là những biện pháp hỗ trợ của Nhà nước nhằm thúc đẩy hoạt động định giá công nghệ, tài sản trí tuệ…+ Về cơ chế hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực: Điều 39 Luật Giá năm 2012 quy định, điều kiện thành lập và hoạt động của doanh nghiệp thẩm định giá là phải có ít nhất 3 thẩm định viên về giá đăng ký hành nghề tại doanh nghiệp; theo Điều 32 Nghị định số 76/2018/NĐ-CP, ngày 15-5-2018, của Chính phủ “Quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ” thì tổ chức thẩm định giá công nghệ phải có ít nhất 2 thẩm định viên về giá hành nghề đã hoàn thành chương trình cập nhật kiến thức về định giá công nghệ, định giá tài sản trí tuệ do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức hoặc công nhận. Hiện nay, số lượng thẩm định giá viên về giá còn ít, tính chuyên nghiệp còn hạn chế, công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành còn nhiều bất cập. Hơn nữa, việc đào tạo bậc đại học chuyên ngành thẩm định giá được đưa vào chương trình đào tạo ở một số cơ sở đào tạo còn mang tính tự phát, chưa đưa thành chương trình đào tạo có hệ thống, chính thức trong các trường đại học và chưa mang tính chính quy, chính thức từ quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính... Đội ngũ giảng viên còn mỏng và chưa được đào tạo chuyên sâu về chuyên ngành thẩm định giá.+ Về cơ chế hỗ trợ tài chính, tín dụng: Hiện nay, hệ thống thuế đối với hoạt động chuyển giao công nghệ chưa phản ảnh tính chất ưu đãi của Nhà nước đối với hoạt động này. Các tổ chức định giá, đánh giá công nghệ hiện nay cũng chưa được hưởng các ưu đãi về tín dụng khi tiến hành các hoạt động định giá, đánh giá công nghệ. Do đó, chưa khuyến khích các tổ chức tham gia tích cực vào thị trường chuyển giao công nghệ.+ Về cơ chế hỗ trợ xác lập và chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ: Do quyền tác giả được bảo hộ không cần đăng ký hay công bố, nên việc bảo hộ quyền tác giả tác dụng chưa thực sự mạnh mẽ và khi có tranh chấp thì các bên phải đưa ra chứng cứ về việc tác phẩm gốc, sáng tạo độc lập… rất phức tạp. Trường hợp công nghệ là các giải pháp kỹ thuật, công nghệ có thể được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dưới hình thức sáng chế, bí mật kinh doanh nếu đáp ứng các điều kiện bảo hộ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Giải pháp kỹ thuật là sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế công nghệ nếu bảo đảm các điều kiện: có tính mới, sự sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức bằng độc quyền giải pháp hữu ích, nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện có tính mới, có khả năng áp dụng công nghiệp. Công nghệ có thể được bảo hộ dưới hình thức bí mật kinh doanh nếu đáp ứng các điều kiện, như không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó và được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.Hiện nay, một số quy định pháp luật liên quan đến hoạt động chuyển giao quyền sử dụng, quyền sở hữu công nghệ cần được cụ thể và làm rõ. Hầu hết các giao dịch liên quan đến công nghệ, quyền sở hữu công nghiệp (chuyển nhượng, chuyển giao, góp vốn, đầu tư liên doanh, tham gia vào giao dịch bảo đảm, thi hành án, cổ phần hoá doanh nghiệp…) đều có liên quan đến vấn đề định giá công nghệ, quyền sở hữu công nghiệp, trong khi đó chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Đây là điểm bất cập lớn nhất trong thực tiễn hoạt động chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ, quyền sở hữu công nghiệp hiện nay (3).Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm phát triển hoạt động định giá công nghệ và tài sản trí tuệMặc dù hoạt động định giá công nghệ và tài sản trí tuệ ở Việt Nam đã diễn ra từ trước khi ban hành Luật Sở hữu trí tuệ (năm 2005), song cho đến nay, việc định giá công nghệ và tài sản trí tuệ vẫn chưa tuân thủ theo một chuẩn mực. Để việc định giá công nghệ và tài sản trí tuệ ở Việt Nam được đồng bộ, trong thời gian tới, cần hoàn thiện những quy định pháp luật về định giá công nghệ và tài sản trí tuệ, theo hướng:Thứ nhất, việc tạo dựng môi trường pháp lý cho hoạt động mua bán, tư vấn, đánh giá định giá và môi giới chuyển giao công nghệ đối với sản phẩm khoa học và công nghệ đòi hỏi trước hết phải cụ thể hóa quyền sở hữu đối với kết quả khoa học và công nghệ.Đây là nội dung mang tính chất nền tảng cho việc mua bán trên thị trường vì thực chất của hành vi mua bán trên thị trường là chuyển giao quyền sở hữu của chủ thể này sang chủ thể khác. Việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách hiện hành liên quan tới hoạt động khoa học và công nghệ hướng vào thị trường khoa học và công nghệ nói chung và hoạt động đánh giá định giá và môi giới chuyển giao công nghệ nói riêng cần được tiến hành trên cơ sở đưa ra các nguyên lý, nguyên tắc, quy luật của thị trường vào trong các qui định hiện hành, như việc phân chia lợi nhuận thu được sau khi chuyển nhượng, chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ.Sản phẩm khoa học và công nghệ là một loại hàng hóa đặc biệt, không giống như các hàng hóa thông thường khác; việc định giá, lợi nhuận, góp vốn đầu tư trong hoạt động khoa học và công nghệ, kể cả bằng hiện vật hay quyền sở hữu trí tuệ, cũng có những đặc thù riêng, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu nghiêm túc làm cơ sở khoa học cho việc cụ thể hóa thành cơ chế, chính sách. Tiếp tục nghiên cứu để xây dựng và ban hành các chính sách cụ thể về tư vấn đánh giá, định giá, môi giới chuyển giao công nghệ phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh tế trọng điểm, doanh nghiệp ở cùng kinh tế khó khăn... Phát huy vai trò của các ngành, địa phương trong việc phát triển hoạt động tư vấn đánh giá, định giá và môi giới chuyển giao công nghệ thuộc ngành, địa phương mình.Thứ hai, hiện nay, các quy định về xác lập và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam về cơ bản là phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật này cần được tiếp tục bổ sung hoàn thiện theo hướng sau: 1- Ban hành quy định về thẩm định đơn để bảo đảm tính thống nhất của các quy định pháp luật; 2- Thống nhất các quy định pháp luật sở hữu công nghiệp được quy định trong Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ. Hiện tại, một số quy định tại hai văn bản luật này chưa thống nhất về quyền tài sản đối với sáng chế, căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp... Do đó, cần sửa đổi, bổ sung để bảo đảm tính hệ thống và thống nhất.Thứ ba, Nhà nước tiến hành điều tra quy mô toàn quốc về nhu cầu của doanh nghiệp đối với hoạt động tư vấn đánh giá, định giá và môi giới chuyển giao công nghệ. Kết quả điều tra phải làm rõ được quy mô và các loại nhu cầu khác nhau (như theo hình thức hoạt động của tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ, loại hình doanh nghiệp...) để ban hành chính sách phù hợp.Nhà nước tăng cường xây dựng hệ thống thông tin mang tính chất cơ bản, nền tảng cho hoạt động tư vấn đánh giá, định giá công nghệ và môi giới chuyển giao công nghệ; trong đó, chú trọng các hoạt động dự báo công nghệ, kế hoạch và lộ trình phát triển công nghệ. Bổ sung và hoàn thiện các quy định quản lý nhà nước đối với hoạt động tư vấn đánh giá, định giá và môi giới chuyển giao công nghệ. Trước mắt, cần ban hành những quy định cụ thể về năng lực, phẩm chất mà cá nhân, tổ chức hoạt động tư vấn đánh giá, định giá và môi giới chuyển giao công nghệ cần đáp ứng.Thứ tư, khuyến khích một số cơ quan nghiên cứu khoa học chuyển thành cơ quan dịch vụ môi giới công nghệ mang tính chuyên nghiệp; khuyến khích các cán bộ nghiên cứu thành lập cơ quan dịch vụ môi giới công nghệ. Hoạt động tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ cần được hưởng các ưu đãi về thuế, tín dụng...Ban hành kế hoạch đào tạo, nâng cao năng lực cho các tổ chức hoạt động tư vấn đánh giá, định giá và môi giới chuyển giao công nghệ (nội dung đào tạo tập trung vào những vấn đề pháp lý trong chuyển giao công nghệ quốc tế; kỹ năng đàm phán, thương thảo hợp đồng chuyển giao công nghệ, các bước và kỹ năng tìm kiếm và lựa chọn công nghệ thích hợp; phương pháp đánh giá và định giá công nghệ). Ban hành chính sách thúc đẩy hình thành mạng lưới các tổ chức tham gia tư vấn đánh giá, định giá và môi giới chuyển giao công nghệ, bao gồm cả liên kết trong nước và quốc tế./.
Lê Phương Thảo
51 ngày trước
timeline_post_file62f61bf7d43d6-so-huu-tri-tue--1-.jpg.webp
BẢN ÁN SỐ 18/2016/KDTM-ST VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
NỘI DUNG VỤ KIỆNNgày 2/12/2004 Công ty CP H (Công ty CP H) nộp đơn tới Cục sở hữu trí tuệ để đăng ký nhãn hiệu hàng hoá đối với nhãn hiệu “ F”.Ngày  06/07/2006 Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 6/QĐ-SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa số 7 có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từngày nộp đơnGiấy chứng nhận đã được gia hạn đến ngày 02/12/2024 (theo Quyết định gia hạn số 2/QĐ-SHTT ngày 16/05/2014)Qua tìm hiểu thông tin, Công ty CP H được biết Công ty TNHH M(Công ty M) đã sử dụng nhãn hiệu“F” trong nhóm sản phẩm Dịch vụ du lịch mà Công ty CP  H đã đăng ký quyền sở hữu công nghiệp và được pháp luật bảo hộCuối năm 2014 đầu năm 2015  Công ty CP H đã nhiều lần gửi  công văn tới Công ty  M yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm và hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhưng Công ty M không có ý kiến phản hồi và từ chối nhậnBên công ty M trình bày: từ năm 2008 công ty  sử dụng tên F Travel để xây dựng thương hiệu riêng đã được đông đảo các đối tác và khách hàng biết đến. Từ đó đến nay không hề có tranh chấp tên thương mại này với bất kỳ bên nào. QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:- Chấp nhận khởi kiện của Công  ty cổ phần H đối với Công ty TNHH M- Buộc Công ty TNHH M phải thực hiện các hành vi sau:+ Tiêu hủy card visite, tờ quảng cáo, bản đồ du lịch, tháo bỏ biển hiệu có sử dụng nhãn hiệu Ftrong nhóm sản phẩm: Dịch vụ du lịch. + Chấm dứt sử dụng nhãn hiệu F trong nhóm sản phẩm: Dịch vụ du lịch trong tên trang web www.Ftravel.com.vn và trong trang web này.+ Đăng lời xin lỗi và cải chính công khai đối với Công ty cổ phần H về việc sử dụng nhãn hiệu “F” của Công ty cổ phần H trong nhóm sản phẩm: Dịch vụ du lịch trên báo Nhân dân và báo Hà Nội Mới trong 3 số liên tiếp.- Án phí: Công ty TNHH  M chịu 2.000.000đ(Hai triệuđồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.CĂN CỨ PHÁP LÝ:- Điều 29; Điều 34; Điều 131; Điều 199; Điều 202; Điều 245- Bộ luật tố tụng dânsự.- Điều 751; Điều 752- Bộ luật dân sự.- Điều 121; Điều 123; Khoản 5 Điều 124; khoản 1 Điều 125; khoản 1Điều 129;Điều 198; Điều 199; Điều 200; Điều 202; Điều 203- Luật sở hữu trí tuệ.- Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định và hướng dẫn thi hànhLuật sở hữu trí tuệ và Nghị định 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 sửa đổi bổ sungNghị định 105/2006/NĐ-CP.- Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DLBKH&CN-BTP ngày 03/4/2008 hướng dẫn áp dụng một số qui định của pháp luậttrong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại toà án nhân dân.- Pháp lệnh án phí, lệ phí toà án.Trên đây là bài viết của chúng tôi về bản án số 18/2016/KDTM-ST về Tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp do Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm. Nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng liên hệ: Công ty Luật Legalzone Hotline tư vấn: 088.888.9366 Email: Support@legalzone.vn Website: https://legalzone.vn/ Hệ thống: Thủ tục pháp luật Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội
Nguyễn Hoàng Hiệp
55 ngày trước
timeline_post_file62f0c11edefcf-toi-cuop-tai-san_2411150253--1-.jpg.webp
Thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan
Thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quanCác bước thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan:- Bước 1: Chủ sở hữu quyền liên quan có nhu cầu cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan nộp 01 bộ hồ sơ cấp đổi Giấy chứng đăng ký quyền liên quan tại trụ sở Cục Bản quyền tác giả hoặc Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Hồ Chí Minh, Văn phòng đại diện của Cục Bản quyền tác giả tại thành phố Đà Nẵng. Hồ sơ có thể gửi qua đường bưu điện.- Bước 2: Trong thời hạn mười hai ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn hợp lệ, Cục Bản quyền tác giả cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan cho người nộp đơn. Trong trường hợp từ chối cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan thì phải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn.Hồ sơ bao gồm:+ Tờ khai đăng ký quyền liên quan (Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 08/2016/QĐ-BVHTT ngày 02 tháng 7 năm 2016 quy định các biểu mẫu trong hoạt động ký quyền tác giả, quyền liên quan). Tờ khai phải được làm bằng tiếng Việt và do chính chủ sở hữu quyền liên quan hoặc người được ủy quyền nộp đơn ký tên và ghi đầy đủ thông tin về người nộp đơn, chủ sở hữu quyền liên quan; tóm tắt nội dung cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng; thời gian, địa điểm, hình thức công bố; cam đoan về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong đơn;+ Hai bản sao bản định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan;+ Tài liệu chứng minh sự thay đổi chủ sở hữu quyền tác giả hoặc thay đổi thông tin về tác phẩm, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; + Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đã cấp. Mức Phí:- 100000 Đồng (Phí cấp Giấy chứng nhận quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn được định hình trên Bản ghi âm:)- 100000 Đồng (Phí cấp Giấy chứng nhận quyền liên quan đối với Bản ghi âm:)- 150000 Đồng (Phí cấp Giấy chứng nhận quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn được định hình trên Bản ghi hình:)- 150000 Đồng (Phí cấp giấy chứng nhận quyền liên quan đối với Bản ghi hình:)- 250000 Đồng (Phí cấp Giấy chứng nhận quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn được định hình trên Chương trình phát sóng:)- 250000 Đồng (Phí cấp Giấy chứng nhận quyền liên quan đối với Chương trình phát sóng)Trên đây là nội dung tư vấn giải đáp cho câu hỏi: Thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan. Liên hệ ngay với Legalzone để được tư vấn và hỗ trợ.Công ty Luật LegalzoneHotline tư vấn:  088.888.9366Email: Support@legalzone.vnWebsite: https://legalzone.vn/Hệ thống: Thủ tục pháp luậtĐịa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội———————————-Tư vấn đầu tư nước ngoài/ Foreign investment consultantcyTư vấn doanh nghiệp/ Enterprises consultantcyTư vấn pháp lý/ Legal consultantcyFb Legalzone:https://www.facebook.com/luatlegalzone.ltd  
Trần Đức Thành
88 ngày trước
timeline_post_file62c538793ca4d-Tm.jpg.webp
Tầm quan trọng của thương hiệu đối với nền kinh tế
Sự ra đời của thương hiệu với mục đích định vị các sản phẩm đánh dấu sự phát triển không ngừng của xã hội. Hiện nay nhiều thương hiệu nổi tiếng không chỉ là hình ảnh về một doanh nghiệp riêng lẻ mà còn là biểu tượng cho cả một quốc gia hoặc một nền văn hoá, vì vậy mời bạn đọc cùng Luật sư Legalzone cùng tìm hiểu về Tầm quan trọng của thương hiệu đối với nền kinh tế nói chung, đối với người tiêu dùng và đối với doanh nghiệp.Vai trò đối với người tiêu dùngNgười tiêu dùng là người được hưởng lợi vì trong chiến lược xây dựng thương hiệu thì nhu cầu và lợi ích của người tiêu dùng là yếu tố được đặt lên hàng đầu.Đánh giá chất lượng hàng hoá dựa vào thương hiệuNếu không có thương hiệu thì việc lựa chọn sản phẩm sẽ rất khó khăn bởi người tiêu dùng không biết lấy gì để đảm bảo rằng họ đã mua được sản phẩm chất lượng. Vấn đề sẽ trở nên đơn giản hơn nhiều khi sản phẩm là một nhãn hiệu nổi tiếng, đã có được sự tin cậy của đông đảo người tiêu dùng, tức là có được sự bảo chứng. Người mua có thể đánh giá chất lượng hàng hoá dựa vào thương hiệu, đặc biệt khi họ không thể có đủ thời gian để phán xét chất lượng của sản phẩm ngay khi mua hàng.Để tạo ra sự khác biệt, doanh nghiệp buộc phải đi sâu và mở rộng đa dạng hoá sản phẩm. Điều này mang lại lợi ích cho cả người sản xuất và người tiêu dùng. Bởi vì khi nhà sản sản xuất tập trung tất cả các nguồn lực của mình vào một loại sản phẩm sẽ nâng cao chất lượng, cải tiến, đa dạng mẫu mã, phục vụ người tiêu dùng tốt hơn. Còn người tiêu dùng sẽ tin tưởng và trung thành với nhà sản xuất đó.Giúp người tiêu dùng tiết kiệm thời gianTiết kiệm thời gian là một ưu điểm của việc tiêu dùng hàng có thương hiệu. Mặc dù người tiêu dùng có quyền được lựa chọn nhưng cũng sẽ cảm thấy mệt mỏi khi đứng trước quá nhiều nhãn hiệu sản phẩm. Nếu không có nhãn hàng nào quen thuộc, họ sẽ tốn nhiều thời gian hơn để tìm hiểu và lựa chọn. Những sản phẩm đã xây dựng được thương hiệu uy tín giúp người mua dễ dàng đưa ra quyết định hơn. Thậm chí chưa cần đến cửa hàng, họ đã có thể xác định sản phẩm nào họ sẽ mua.Giảm rủi ro cho khách hàngMua hàng có thương hiệu đồng nghĩa với việc sản phẩm đó sẽ được bảo hành, mọi thông tin về sản phẩm rõ ràng, minh bạch và tất nhiên khách hàng sẽ biết được xuất xứ hàng hoá. Nếu sản phẩm có vấn đề, họ sẽ biết tìm ai để đòi quyền lợi.Bởi vậy, thương hiệu đồng nhất với lòng tin của khách hàng. Tuy nhiên khách hàng phải nghiêm túc đánh giá chất lượng và uy tín của một thương hiệu. Tình trạng “sùng bái” có thể tạo phản ứng trong dư luận, gây ấn tượng không tốt với hàng hoá. Đồng thời không tạo được động lực thúc đẩy quá trình cải tiến hàng hoá.Vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệpThương hiệu đã và đang trở thành thứ tài sản vô hình quan trọng và vũ khí cạnh tranh sắc bén nhất của các doanh nghiệp trên thương trường. Thương hiệu là yếu tố sống còn của doanh nghiệpThực tế những năm qua đã minh chứng cho điều đó rất rõ. Dù một số sản phẩm của Việt Nam xuất hiện trên thị trường nhiều nước, chất lượng tốt nhưng đa số người tiêu dùng trên thế giới chưa biết đó là hàng Việt Nam. Hàng hóa của chúng ta vẫn phải xuất khẩu dưới nhãn hiệu của các công ty khác. Do vậy, chúng ta đã phải chịu rất nhiều thiệt thòi: bị chèn ép giá, giảm doanh thu, phụ thuộc vào các công ty nước ngoài,… Khi thị trường khó khăn, chúng ta phải gánh chịu hậu quả nặng nề hơn những doanh nghiệp có thương hiệu khác. Về lâu dài, doanh nghiệp khó có thể mở rộng, phát triển lớn mạnh trong tương lai.Ngược lại, doanh nghiệp nào có ý thức đầu tư cho việc quảng bá thương hiệu thì uy tín, hình ảnh của họ trên thị trường sản xuất được củng cố (ví dụ Kymdan). Khi doanh nghiệp đã có được một thương hiệu mạnh thì doanh nghiệp sẽ phát triển bền vững và dễ dàng mở rộng được quy mô. Nếu không xây dựng được thương hiệu thì làm sao khách hàng biết tới sản phẩm của doanh nghiệp mà lựa chọn? Doanh nghiệp làm sao có thể có chỗ đứng trên thị trường? Đó chính là bài toán nan giải của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu.Lợi thế cạnh tranh bằng thương hiệu của doanh nghiệpSức mạnh thương hiệu luôn cần được tăng cường nhằm không ngừng củng cố vị thế cạnh tranh, đáp ứng mục tiêu tối cao của doanh nghiệp là vượt qua đối thủ, chiếm lĩnh thị trường. Năng lực cạnh tranh là danh tiếng, uy tín dựa trên tổng hợp tất cả sự khác biệt và những nét đặc trưng đã được khách hàng chấp nhận. Khi doanh nghiệp xây dựng được uy tín cho thương hiệu, sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp sẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh so với đối thủ, thể hiện ở:Tính chất độc đáo của sản phẩm có thương hiệu sẽ được pháp luật bảo hộ tránh sự sao chép bất hợp pháp.Giảm bớt chi phí Marketing, vì mức độ biết đến và trung thành với nhãn hiệu đã cao.Ưu thế trong đàm phán với nhà phân phối, với đối thủ.Tăng giá trị hàng hoá vì người tiêu dùng sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để mua sản phẩm mà họ đã tin cậy thay vì mua một sản phẩm giá rẻ mà họ chưa biết chất lượng ra sao.Giúp người bán thu hút một nhóm khách hàng trung thành.Giúp xác định phân khúc thị trường.Đặc biệt với những thương hiệu mạnh, quyền năng thị trường của doanh nghiệp sẽ rất lớn. Doanh nghiệp có khả năng điều khiển thị trường như thay đổi giá, kiểm soát kênh phân phối, đồng thời xâm nhập nhanh, sâu hơn vào các khu vực thị trường mới. Doanh nghiệp cũng có sức đề kháng cao trong cạnh tranh nên có thể tồn tại dẻo dai và dễ dàng vượt qua thời kỳ khó khăn với tổn thất thấp nhất có thể.Thương hiệu là công cụ bảo vệ lợi ích của doanh nghiệpBên cạnh những ưu điểm trên, thương hiệu là công cụ bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp. Sau khi đã đăng ký thương hiệu với Nhà nước, doanh nghiệp có quyền sử dụng, quảng bá và khai thác mọi lợi ích khác như sang nhượng, cho thuê, hùn vốn, cấp quyền sử dụng và được pháp luật bảo vệ chống lại mọi sự xâm phạm như hàng nhái, hàng giả, ăn cắp và sử dụng trái phép nhãn hiệu.Vai trò của thương hiệu đối với nền kinh tế trong xu thế hội nhậpTrong nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, thương hiệu thực sự là biểu tượng cho sức mạnh và niềm tự hào của quốc gia. Nói đến hàng điện tử là người ta hay nói đến Nhật Bản, hay nói đến rượu vang là nghĩ ngay đến Pháp.Một quốc gia có nhiều thương hiệu nổi tiếng với truyền thống lâu đời là biểu hiện của sự trường tồn và phát triển đi lên của một quốc gia. Trong bối cảnh nước ta chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, việc xây dựng được các thương hiệu mạnh sẽ là rào cản chống lại sự xâm nhập của các hàng hoá kém chất lượng, giá rẻ từ bên ngoài, bảo vệ thị trường nội địaNếu thương hiệu của các sản phẩm Việt Nam trở nên nổi tiếng trên thị trường xuất khẩu, điều này làm củng cố uy tin cho sản phẩm Việt Nam và vị thế của Việt Nam cũng ngày càng tăng trên trường quốc tế. Nó cũng sẽ góp phần tích cực cho việc thu hút FDI vào Việt Nam, tạo tiền đề đưa đất nước tiến nhanh, tiến vững chắc và từng bước rút ngắn khoảng cách so với các nước về kinh tế.Trên đây là bài viết về “Vai trò của thương hiệu đối với nền kinh tế” của công ty Luật Legalzone. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn, hỗ trợ. Hoặc bạn có thể tham khảo các thủ tục trên trang Thủ tục pháp luật của chúng tôi.>>> Mời tham khảo: Tư vấn thường xuyên cho Doanh nghiệpMọi chi tiết xin vui lòng liên hệLEGALZONE COMPANYHotline tư vấn:  088.888.9366Email: Support@legalzone.vnWebsite: https://legalzone.vn/https://thutucphapluat.com/Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội———————————-Tư vấn đầu tư nước ngoài/ Foreign investment consultantcyTư vấn doanh nghiệp/ Enterprises consultantcyTư vấn pháp lý/ Legal consultantcyFb Legalzone: https://www.facebook.com/luatlegalzone
Đỗ Thị Hà Vi
118 ngày trước
timeline_post_file629dd7d696bb2-bo-truyen-tranh-than-dong-dat-viet-lay-boi-canh-thoi-ky-lich-su-nao-cua-nuoc-ta.jpg.webp
Bản án về tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ
Nội dung vụ ánNăm 2001, ông Lê Phong L bắt đầu làm việc tại Công ty PT với vị trí họa sĩ vẽ minh họa. Sau khi được Giám đốc Công ty PT là bà Phan Thị Mỹ H1 đề nghị vẽ bộ truyện dân gian, ông L xây dựng khoảng 30 nhân vật và chọn ra 4 hình tượng nhân vật là O, P, Q, R để sáng tác bộ truyện tranh E.Ông L thực hiện các công việc từ hình thành ý tưởng sáng tạo đến vẽ hình tượng nhân vật. Bà H1 không tham gia vào khâu sáng tạo nào trong quá trình sáng tác mà chỉ có vai trò điều phối chung và góp ý với tư cách là nhà quản lý. Khi phát hành, trên tất cả các trang bìa tập truyện đều ghi nhận ông L là tác giả.Năm 2002, Công ty PT được Cục bản quyền cấp Giấy chứng nhận ghi nhận là chủ sở hữu bản quyền của 4 hình tượng nhân vật trên.Ông L tham gia sáng tác bộ truyện tranh E đến hết tập 78 thì nghỉ việc. Công ty PT thuê các họa sĩ khác tiếp tục sử dụng 4 hình tượng nhân vật trên để thực hiện các tập truyện tiếp theo từ tập 79 trở đi và các ấn phẩm khác mà không xin phép ông L.Quyết định của bản án sơ thẩmChấp nhận yêu cầu của ông L về việc công nhận ông L là tác giải duy nhất của hình thức thể hiện các nhân vật trong bộ truyện E từ tập 01 đến tập 78. Buộc Công ty PT chấm dứt việc tự tạo và sử dụng các biến thể của hình thức thể hiện của các nhân vật O, Q, P, R trên các tập từ tập 79 của truyện tranh E cũng như trên các ấn bản khác và xin lỗi ông L trên Báo Thanh niên và Báo Tuổi trẻ trong 03 số liên tiếp.Nhận định của Toà ánToà án nhận thấy Công ty PT là chủ sở hữu tác phẩm là hình thức thể hiện của 4 nhân vật, được quyền sử dụng hình tượng 4 nhân vật này vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình nhưng phải tôn trọng quyền nhân thân của tác giả Lê L là sự toàn vẹn của tác phẩm. Việc làm sai lệch so với hình thức thể hiện gốc khi không được sự đồng ý của tác giả, đồng thời Công ty PT không ghi chú rõ việc sử dụng hình thức thể hiện của 4 nhân vật O, P, Q, R là tác phẩm của tác giả Lê Phong L.Luận cứ vụ ánCăn cứ tại Điều 19, khoản 5 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 xác định Công ty PT đã có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả Lê L.Trên đây là thông tin của chúng tôi về bản án số 774/2019/DSPT, để biết thêm thông tin chi tiết và được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệ: Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Tòa nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà NộiEmail: Support@legalzone.comHotline: 0888889366. 
Đỗ Thị Hà Vi
164 ngày trước
timeline_post_file626117694738e-vi-2.jpg.webp
PHÂN BIỆT NHÃN HIỆU VÀ THƯƠNG HIỆU
Ngày nay có rất nhiều người đang nhầm lẫn giữa hai khái niệm ”thương hiệu” và “nhãn hiệu". Bởi lẽ sự phân biệt giữa hai khái niệm này còn hết sức mờ nhạt. Cần phải phân biệt rõ hai khái niệm này để gạt bỏ đi những quan niệm sai lầm, việc phân biệt này có ý nghĩa rất quan trọng đối với xã hội, đối với nhà sản xuất và đối với người tiêu dùng.Mời bạn đọc theo dõi bài viết Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu dưới đây của Legalzone để biết thêm chi tiết:Căn cứ pháp lýLuật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009Nhãn hiệu là gì?      Theo quy định tại khoản 6 điều 4 luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì khái niệm nhãn hiệu được quy định như sau:Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.Như vậy, nhãn hiệu là những dấu hiệu được nhận biết bằng các giác quan thường là thị giác, đó có thể là chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu phải là những dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.Thương hiệu là gì?Thương hiệu là một hoặc một tập hợp các dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm, doanh nghiệp; là hình tượng về sản phẩm, doanh nghiệp trong tâm trí công chúng.Không giống với nhãn hiệu, thương hiệu được hình thành trong tâm trí của người tiêu dùng và được hình thành dựa trên một quá trình tích lũy các đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ và uy tín của doanh nghiệp. Khi nói đến thương hiệu người ta liên tưởng đến những yếu tố tạo nên danh tiếng của sản phẩm đó, bao gồm cả hữu hình lẫn vô hình, như kiểu dáng, chất lượng sản phẩm, định hình nhãn hiệu của sản phẩm, giá cả, thái độ phục vụ của nhân viên bán hàng, cảm nhận của khách hàng.Phan-biet-nhan-hieu-va-thuong-hieuPhân biệt nhãn hiệu và thương hiệuNhãn hiệu và thương hiệu là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, vẫn có nhiều người nhầm lẫn giữa hai khái niệm này. Vì vậy, để phân biệt cụ thể hai khái niệm này phải dựa vào các tiêu chí sau:Tiêu chíNhãn hiệuThương hiệuPháp lýNhãn hiệu là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệThương hiệu không phải là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệHình thức tồn tạiLà từ ngữ, chữ số, hình ảnh, màu sắc giúp người tiêu dùng nhận biết được hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhauLà những đặc điểm điểm được hình thành trong tâm trí người tiêu dùngGiá trịSau khi được cấp văn bằng bảo hộ thì nhãn hiệu sẽ trở thành tài sản và có thể được định giá dễ dàngViệc định giá khó khăn vì thương hiệu gắn liền với uy tín, chất lượng của hàng hóa, dịch vụ.Thời gian tồn tạiCó thời hạnTồn tại lâu dài trong tâm trí người tiêu dùng  Trên đây là bài viết tham khảo về chủ đề Phân biệt thương hiệu và nhãn hiệu. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ. Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ: LEGALZONE COMPANYHotline tư vấn:  088.888.9366Email: Support@legalzone.vnWebsite: https://legalzone.vn/Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội———————————Tư vấn đầu tư nước ngoài/ Foreign investment consultantcyTư vấn doanh nghiệp/ Enterprises consultantcyTư vấn pháp lý/ Legal consultantcyFb Legalzone: https://www.facebook.com/luatlegalzone.ltd
Nguyễn Minh Tiến
342 ngày trước
timeline_post_file617611587da7a-dang-ky-nhan-hieu-thuong-mai1.jpg.webp
Các văn bản pháp luật về đăng ký nhãn hiệu
Các văn bản pháp luật về đăng ký nhãn hiệuNội dung chính của bài viết Các văn bản pháp luật về đăng ký nhãn hiệu1.1 Văn bản quy định về đăng ký nhãn hiệuVăn bản pháp luật về xử phạt vi phạm2.1 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp2.2 Hệ thống Madrid (Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid)2.3 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ Trips2.4 Hiệp định Việt Nam – Thụy Sĩ năm 1999 về sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ2.5 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 20002.6 Bảng phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ dùng trong đăng ký nhãn hiệu theo Thỏa ước Nice năm 19572.7. Bảng phân loại quốc tế các yếu tố hình của nhãn hiệu theo Thỏa ước Vienne năm 19732.8 Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)Tính đến thời điểm này, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung và về đăng ký nhãn hiệu nói riêng khá đầy đủ, các quy định của các văn bản tương đối chặt chẽ, đồng bộ từ các quy định trong Hiến pháp đến các luật chuyên ngành như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Hải quan… và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Legalzone sẽ trình bày qua bài viết dưới đây:Các văn bản pháp luật về đăng ký nhãn hiệu1. Văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến đăng ký nhãn hiệu1.1 Văn bản quy định về đăng ký nhãn hiệuLuật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009, 2019);Nghị định 103/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;Nghị định 122/2010/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành;Thông tư 13/2010/TT-BKHCN sửa đổi quy định của Thông tư 17/2009/TT-BKHCN và 01/2007/TT-BKHCN do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành;Thông tư 18/2011/TT-BKHCN sửa đổi Thông tư 01/2007/TT-BKHCN, được sửa đổi theo Thông tư 13/2010/TT-BKHCN và Thông tư 01/2008/TT-BKHCN, được sửa đổi theo Thông tư 04/2009/TT-BKHCN do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành;Thông tư 16/2016/TT-BKHCN về sửa đổi Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi theo Thông tư 13/2010/TT-BKHCN, Thông tư 18/2011/TT-BKHCN và Thông tư 05/2013/TT-BKHCN do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành;Văn bản pháp luật về xử phạt vi phạmNghị định 99/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;Thông tư liên tịch 14/2016/TTLT-BTTTT-BKHCN hướng dẫn trình tự, thủ tục thay đổi, thu hồi tên miền vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông – Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành;Thông tư liên tịch 05/2016/TTLT-BKHCN-BKHĐT hướng dẫn xử lý đối với trường hợp tên doanh nghiệp xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ – Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành;Thông tư 11/2015/TT-BKHCN hướng dẫn Nghị định 99/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành.Ngoài ra, còn các văn bản pháp luật về đăng ký nhãn hiệu bao gồm các Điều quốc tế liên quan đến đăng ký nhãn hiệu mà Việt Nam là thành viên và các văn bản pháp luật quốc gia quy định quan đến thủ tục đăng ký nhãn hiệu khác.2. Các điều ước quốc tế về đăng ký nhãn hiệu mà Việt Nam là thành viên2.1 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệpCông ước Paris 1883 là một trong những công ước quan trọng nhất về sở hữu công nghiệp được kí kết sớm nhất.Với sự tham gia của 11 nước và kí kết vào ngày 20/3/1883.Việt Nam đã tham gia công ước từ 08/03/1949.2.2 Hệ thống Madrid (Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid)Hệ thống Madrid về đăng ký nhãn hiệu được điều chỉnh bởi hai điều ước quốc tế là:Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu 1891;  Nghị định thư liên quan đến thỏa ước Madrid 1989.Nghị định thư Madrid sẽ chính thức có hiệu lực tại Việt Nam kể từ ngày 11/7/2006.2.3 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ TripsHiệp định Trips có hiệu lực với Việt Nam từ năm 2007. Hiệp định Trips là một điều ước quốc tế đa phương quan trọng về sở hữu trí tuệ .2.4 Hiệp định Việt Nam – Thụy Sĩ năm 1999 về sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệHiệp định Thương mại và Hợp tác kinh tế giữa:Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ.Ký kết ngày 7 tháng 7 năm 1993.2.5 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000Ngày 13/07/2000 tại Washington, Hiệp định thương mại Việt- Mỹ (BTA) đã được ký kết; và có hiệu lực từ ngày10/12/2001. …Các nhà cung cấp dịch vụ của Hoa Kỳ ; và Việt Nam được quyền tiếp cận rộng hơn thị trường viễn thông (cả thị trường vệ tinh), phân phối, dịch vụ tài chính và năng lượng, sở hữu trí tuệ…2.6 Bảng phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ dùng trong đăng ký nhãn hiệu theo Thỏa ước Nice năm 1957Bảng phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ dùng trong đăng ký nhãn hiệu phân bổ:Tất cả các chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp tiến hành kinh doanhVào 45 nhóm, bao gồm 34 nhóm hàng hóa và 11 nhóm dịch vụ.2.7. Bảng phân loại quốc tế các yếu tố hình của nhãn hiệu theo Thỏa ước Vienne năm 1973Bảng phân loại quốc tế các yếu tố hình của nhãn hiệu phân bổ tất cả các yếu tố đồ họa của nhãn hiệu thành 29 loại, trong đó có 144 phân loại;  với 1.887 mục.Hai bảng phân loại này luôn được doanh nghiệp lẫn các cơ quan nhãn hiệu quốc gia tham chiếu ; và vận dụng để tiến hành tra cứu các nhãn hiệu tương tự hoặc trùng lắp trong các hoạt động liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu.2.8 Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)Toàn bộ mục C của Chương 18 Hiệp định đối tác toàn diện;  và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)Dành riêng cho các quy định liên quan đến nội dung nhãn hiệu áp dụng tại các nước thành viên.Trên đây, là toàn bộ nhưng văn bản pháp lý Việt Nam ban hành và tham gia về đăng ký nhãn hiệu . Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ Legalzone để được giải đáp thắc mắc.       
Trần Mỹ Dung
374 ngày trước
timeline_post_file614c0d1c42528-luat-so-huu-tri-tue-2.jpg.webp
bồi thường khi xâm phạm quyền hình ảnh
Quyền hình ảnh của cá nhân là quyền nhân thân của mỗi người và được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bất kỳ việc sử dụng các hình ảnh cá nhân vì mục đích gì thương mại hay phi thương mại cần sự cho phép của cá nhân đó trừ một số trường hợp nhất định.Hiện nay, việc xâm phạm quyền hình ảnh xảy ra phổ biến. Vậy mỗi người nên làm gì khi bị xâm phạm quyền hình ảnh? Quy định của pháp luật về việc bồi thường khi bị xâm phạm quyền hình ảnhLegalzone sẽ gửi đến bạn đọc một số thông tin về chủ đề này trong bài viết dưới đây:Quyền của cá nhân đối với hình ảnhQuyền của cá nhân đối với hình ảnh được quy định tại điều 32 Bộ luật dân sự năm 2015:“1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.”Quy định của pháp luật về việc bồi thường thiệt hại khi bị xâm phạm quyền hình ảnhCác hành vi xâm phạm quyền của các cá nhân đối với hình ảnh trong nhiều trường hợp gây ảnh hưởng; tác động xấu đến tinh thần; danh dự, nhân phẩm và uy tín của các cá nhân có hình ảnh bị xâm phạm.Tuy pháp luật không quy định cụ thể về bồi thường thiệt hại khi bị xâm phạm quyền hình ảnh. Tuy nhiên, đây là quyền nhân thân của con người được pháp luật dân sự điều chỉnh.Cụ thể, tại Khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: “1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”Về cách xác định thiệt hại, tại Điều 592 BLDS 2015 quy định Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm như sau:“1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;c) Thiệt hại khác do luật quy định.Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu.Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”Ngoài ra, tại Mục 3 Phần 2 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có quy định về Xác định thiệt hại như sau:“3. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạmThiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm gồm có thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm; thiệt hại do danh dự, uy tín của tổ chức bị xâm phạm.3.1. Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại bao gồm: chi phí cần thiết cho việc thu hồi ấn phẩm có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại;chi phí cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; tiền tàu, xe đi lại, thuê nhà trọ (nếu có) theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc,cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; chi phí tổ chức xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại và các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại (nếu có).3.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.a) Nếu trước khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâmphạm có thu nhập thực tế, nhưng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm người bị xâm phạm phải thực hiện những công việc để hạn chế, khắc phục thiệt hại,nên khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.b) Việc xác định thu nhập thực tế của người bị xâm phạm và việc xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị xâm phạm được thực hiện theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.3.3. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị xâm phạm.b) Trong mọi trường hợp khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần.Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị xâm hại.Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào hình thức xâm phạm (bằng lời nói hay đăng trên báo viết hay báo hình….), hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm…c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm trước hết do các bên thoả thuận.Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.”Theo các quy định trên, khi có yêu cầu Tòa án giải quyết về việc bồi thường thiệt hại này, Tòa sẽ xác định phần thiệt hại thực tế để yêu cầu bên kia sẽ có trách nhiệm bồi thường.Trên đây là nội dung tư vấn của Legalzone về vấn đề xâm phạm quyền hình ảnh.Liên hệ ngay với chúng tôi để nhận được tư vấn kịp thời, chính xác để bảo vệ quyền và lợi ích cá nhân, yêu cầu bồi thường khi  xâm phạm quyền hình ảnh.
Trần Mỹ Dung
377 ngày trước
timeline_post_file61481426aff4f-hanh-vi-canh-tranh-khong-lanh-manh-trong-so-huu-tri-tue--1-.jpg.webp
Xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
Xác định hành vi vi phạmHành vi xâm phạm quyền sở hữu tí tuệ là hành vi đáp ứng đủ các căn cứ quy định tại Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP:Xét đối tượng bị xem xétĐối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền SHTT.Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 105/2006/NĐ-CP thì đối tượng bị xem xét là đối tượng bị nghi ngờ và bị xem xét nhằm đưa ra kết luận đó có phải là đối tượng xâm phạm hay không. Tại Điều 6 Nghị định 105/2006/NĐ-CP cũng có quy định về căn cứ xác định đối tượng được bảo hộ.Xác định có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét hay khôngYếu tố xâm phạm là yếu tố được tạo ra từ hành vi xâm phạm quyền SHTT. Yếu tố xâm phạm đối với quyền SHTT cũng được quy định cụ thể tại nghị định này từ Điều 7 đến Điều 14.Xem xét Đối tượng thực hiện hành vi vi phạmNgười thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền SHTT và không phải là người được pháp luật; hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép(Theo quy định tại các Điều 25; 26; 32; 33; khoản 2 và khoản 3 Điều 125; Điều 133; Điều 134; khoản 2 Điều 137,;các Điều 145; 190 ; và 195 của Luật Sở hữu trí tuệ.Xem xét địa điểm xảy ra hành vi vi phạmHành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.Nếu hành vi xem xét không xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam -> thì trường hợp này sẽ không có hành vi xâm phạm.Như vậy, một hành vi được coi là hành vi vi xâm phạm quyền sở hữu tri tuệ phải đáp ứng được cả 4 căn cứ nếu trên. Nếu thiếu một trong 4 căn cứ trên thì đây không được xem là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.Biện pháp Xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệTổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự.Thẩm quyền Xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệTrong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án; Thanh tra; Quản lý thị trường; Hải quan; Công an; Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT.Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan.Xử lý bằng biện pháp dân sự+   Tòa án áp dụng những biện pháp dân sự sau đây để xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT:+   Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;+   Buộc xin lỗi, cải chính công khai;+   Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;+   Buộc bồi thường thiệt hại;+   Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.Nghĩa vụ chứng minhNguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 79 của Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định dưới đây.Nguyên đơn chứng minh mình là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bằng một trong các chứng cứ sau đây:+   Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ; bản trích lục Sổ đăng k‎ý quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan, Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp, Sổ đăng k‎ý quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ;+   Chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp không có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; chứng cứ cần thiết để chứng minh quyền đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại, nhãn hiệu nổi tiếng;+   Bản sao hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong trường hợp quyền sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng.+   Nguyên đơn phải cung cấp các chứng cứ về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh.Trong vụ kiện về xâm phạm quyền đối với sáng chế là một quy trình sản xuất sản phẩm, bị đơn phải chứng minh sản phẩm của mình được sản xuất theo một quy trình khác với quy trình được bảo hộ trong các trường hợp sau đây:+   Sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ là sản phẩm mới;+   Sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ không phải là sản phẩm mới nhưng chủ sở hữu sáng chế cho rằng sản phẩm do bị đơn sản xuất là theo quy trình được bảo hộ và mặc dù đã sử dụng các biện pháp thích hợp nhưng vẫn không thể xác định được quy trình do bị đơn sử dụng.Lưu ýTrong trường hợp một bên trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chứng minh được chứng cứ thích hợp để chứng minh cho yêu cầu của mình bị bên kia kiểm soát do đó không thể tiếp cận được thì có quyền yên cầu Toà án buộc bên kiểm soát chứng cứ phải đưa ra chứng cứ đó.Trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và nêu căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 205 của Luật SHTT.Xác định thiệt hại do vi phạm quyền sở hữu trí tuệThiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:+   Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại;+   Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng.+   Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra.Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hạiTrong trường hợp nguyên đơn chứng minh thiệt hại về vật chất:  thì có quyền yêu cầu Toà án quyết định mức bồi thường như sau:+   Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;+   Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện;=> Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường  thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Toà án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá năm trăm triệu đồng.Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được  thiệt hại về tinh thần thì có quyền yêu cầu mức bồi thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại.Ngoài khoản bồi thường thiệt hại trên đây, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Toà án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư.Biện pháp khắc áp dụngBiện pháp khẩn cấp tạm thờiQuyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:Khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện, chủ thể quyền HSTT có quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các trường hợp sau đây:+   Đang có nguy cơ xảy ra thiệt hại không thể khắc phục được cho chủ thể quyền SHTT;+   Hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; hoặc chứng cứ liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ bị tẩu tán;  hoặc bị tiêu huỷ nếu không được bảo vệ kịp thời.+   Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của chủ thể quyền HSTT qCác biện pháp khẩn cấp tạm thờiĐược áp dụng đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:  nguyên liệu; vật liệu; phương tiện sản xuất; kinh doanh hàng hoá đó:+   Thu giữ;+   Kê biên;+   Niêm phong; cấm thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển;+   Cấm chuyển dịch quyền sở hữu.+   Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được áp dụng theo quy định của Bộ luật TTDS.Nghĩa vụ của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờiCó nghĩa vụ chứng minh quyền yêu cầu:(Theo quy định tại khoản 1 Điều 206 của Luật SHTT bằng các tài liệu; chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 203 của Luật SHTT).Có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại gây ra cho người bị áp dụng biện pháp.Phải nộp khoản bảo đảm bằng một trong các hình thức sau đây:Khoản tiền bằng 20% giá trị hàng hoá cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; hoặc tối thiểu hai mươi triệu đồng nếu không thể xác định được giá trị hàng hóa đó;Chứng từ bảo lãnh của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng khác.Huỷ bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờiToà án ra quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 122 của Bộ luật tố tụng dân sự và trong trường hợp người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chứng minh được việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không có căn cứ xác đáng.Trong trường hợp huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Toà án phải xem xét để trả lại cho người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khoản bảo đảm quy định tại khoản 2 Điều 208 của Luật SHTT. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không có căn cứ xác đáng và gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án buộc người yêu cầu phải bồi thường thiệt hại.Thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời:Thực hiện theo quy định tại Chương VIII, Phần thứ nhất của Bộ luật tố tụng dân sự.Xử lý bằng biện pháp hành chínhCác hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây bị xử phạt hành chính:+   Thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội;+   Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền SHTT mặc dù đã được chủ thể quyền SHTT thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó;+   Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về SHTT theo quy định tại Điều 213 của Luật này;  hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này;+   Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang nhãn hiệu;  hoặc chỉ dẫn địa lý trùng; hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ;  hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.+   Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về SHTT:Thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.Các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả:Ngoài bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm còn bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:+   Cảnh cáo;+   Phạt tiền.Tuỳ theo tính chất; mức độ xâm phạm; tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền SHTT còn có thể bị áp dụng một;  hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:+   Tịch thu hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ; nguyên liệu; vật liệu;  phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về SHTT;+   Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.Ngoài các hình thức xử phạt nói trên, còn có thể bị áp dụng một ;hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả  như:+   Buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại…+   Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền SHTT;  hoặc buộc tái xuất…Mức tiền phạt quy định ở trên được ấn định ít nhất bằng giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện được; và nhiều nhất không vượt quá năm lần giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện được.Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chínhĐược sử dụng biện pháp trên trong các trường hợp sau đây:+   Hành vi xâm phạm quyền SHTT có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng; hoặc cho xã hội;+   Tang vật vi phạm có nguy cơ bị tẩu tán;  hoặc cá nhân, tổ chức vi phạm có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm;+   Nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.Biện pháp ngăn chặn; và bảo đảm xử phạt hành chính được áp dụng theo thủ tục hành chính bao gồm:+   Tạm giữ người;+   Tạm giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm;+   Khám người;+   Khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm về sở hữu trí tuệ;Các biện pháp ngăn chặn hành chính khác theo quy định của pháp luật về xử l‎ý vi phạm hành chính.Kiểm soát hàng hóa xuất khấu, nhập khẩuCác biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ bao gồm:+   Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (là biện pháp được tiến hành theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính)+   Kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (là biện pháp được tiến hành theo đề nghị của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin để thực hiện quyền yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan).Trong quá trình thực hiện các biện pháp nói trên, nếu phát hiện hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật SHTTthì cơ quan hải quan có quyền và có trách nhiệm áp dụng biện pháp hành chính để xử lý theo quy định tại Điều 214 và Điều 215 của Luật SHTT.Nghĩa vụ của người yêu cầu áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ:Người yêu cầu áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu;  nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ có các nghĩa vụ sau đây:+   Chứng minh mình là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bằng các tài liệu; chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 203 của Luật SHTT;+   Cung cấp đầy đủ thông tin để xác định hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT;  hoặc để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;+   Nộp đơn cho cơ quan hải quan và nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;+   Bồi thường thiệt hại ; và thanh toán các chi phí phát sinh cho người bị áp dụng biện pháp kiểm soát trong trường hợp hàng hoá bị kiểm soát không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quy định tại điểm d khoản 1 Điều này, người yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan phải nộp khoản bảo đảm bằng một trong các hình thức sau đây:Khoản tiền bằng 20% giá trị lô hàng cần áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan; hoặc tối thiểu hai mươi triệu đồng nếu không thể xác định được giá trị lô hàng đó;Chứng từ bảo lãnh của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng khác.Thủ tục áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quanKhi người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại Điều 217 của Luật sở hữu trí tuệ thì cơ quan hải quan ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng.Thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan là 10 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định(bảo đảm quy định tại khoản 2 Điều 217 của Luật SHTT).Khi kết thúc thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan (theo quy định ở trên) mà người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan không khởi kiện dân sự và cơ quan hải quan không quyết định thụ lý vụ việc  thì cơ quan hải quan có trách nhiệm sau đây:Tiếp tục làm thủ tục hải quan cho lô hàng;Buộc người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan phải bồi thường cho chủ lô hàng toàn bộ thiệt hại do yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan không đúng gây ra và phải thanh toán các chi phí khác.Hoàn trả cho người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan khoản tiền bảo đảm còn lại sau khi đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường;  và thanh toán các chi phí khác.Trên đây là toàn bộ tìm hiểu của Legalzone về Xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ Legalzone để được giải đáp.   
Bùi Lan
383 ngày trước
timeline_post_file614034f48464a-z2740083840939_560de1b8cf168d8ebf08717ebddc02fb.jpg.webp
Định giá thương hiệu là gì?
Định giá thương hiệu là gìĐịnh giá thương hiệu là gì? Mục đích ? Các tiêu chí định giá thương hiệu như thế nào? Bằng bài viết dưới đây Legalzone xin được phân tích cụ thể như sau:Khái niệmĐịnh giá thương hiệu là một công cụ duy nhất tính toán giá trị kinh tế của thương hiệu, góp phần hỗ trợ cho đầu tư marketing và cho phép nhà quản trị ra kế hoạch và ước lượng tầm quan trọng của chiến lược đề ra.Hay nói cách khác, định giá thương hiệu là một quá trình tổng hợp và đo lường giá trị kinh tế của thương hiệu trong hiện tại và tương lai.Mục đích định giá thương hiệuĐịnh giá thương hiệu?Mục đích chungĐịnh giá thương hiệu là nhằm mục đích giúp các doanh nghiệp xác định giá trị thị trường của thương hiệu để phục vụ cho các hoạt động quan trọng khác của doanh nghiệp:Xác định giá trị thương hiệu của doanh nghiệp khi cổ phần hoá;Xác định giá trị thương hiệu trong hoạt động chia tách doanh nghiệp;Xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ khi góp vốn kinh doanh bằng tài sản thương hiệu;Xác định giá trị trong việc chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng thương hiệu cho doanh nghiệp khác;Xác định giá trị thương hiệu trong các vụ tranh chấp thương hiệu;Xác định giá trị thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán;Xác định giá trị tăng trưởng của thương hiệu qua các nămĐịnh giá thương hiệu trong khía cạnh tài chínhThương hiệu được xem là tài sản chủ chốt khi tiến hành giao dịch tài chính. Sau đây là những điều cần lưu ý khi tiến hành định giá thương hiệu:Ấn định giá chuyển giao thương hiệu tùy theo từng công ty con. Để việc đóng thuế trở nên có lợi, phí bản quyền thương hiệu có thể được hồi lại giống như thu nhập tại các trụ sở tập đoàn. Các công ty con cũng có thể được phép sử dụng thương hiệu của công ty mẹ.Quyết định mức phí bản quyền thương hiệu đối với việc chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu cho bên thứ ba.Chuyển tài sản thương hiệu trở thành nguồn vốn trong bảng cân đối theo đúng tiêu chuẩn của US GAAP; IAS;  hoặc qui định của nước sở tại. Giá trị thương hiệu không chỉ được định giá một lần mà còn được điều chỉnh sau mỗi thời gian nhất định.Thương lượng giá trị mua bán của thương hiệu khi tiến hành sát nhập cũng như chứng minh rõ ràng với đối tác những giá trị nào sẽ được cộng thêm sau khi tiến hành chuyển giao sẽ giúp nâng cao giá bán; hoặc giá mua sau cùng.Quyết định phần giá trị đóng góp của thương hiệu vào liên doanh để phân chia tỉ lệ lãi, yêu cầu góp vốn; và quyền điều hành trong liên doanh.Sử dụng thương hiệu để đảm bảo các phần nợ với quyền khai thác thương hiệu như phần kí quĩ.Các yếu tố cần thiết cho việc định giá thương hiệuNhà quản trị phải có nhận thức đúng đắn về công tác định giá thương hiệu;  xây dựng chiến lược định giá thương hiệu phù hợp với DN.Xây dựng bộ phận định giá thương hiệuPhối hợp với các DN trong và ngoài ngành để trao đổi thông tin và kinh nghiệm định giá thương hiệu;Phải thực hiện hoàn chỉnh các báo cáo tài chính kế toán hàng tháng minh bạch; và chính xác để phục vụ công việc định giá.Tăng uy tín của DNtrên thị trường chứng khoán. Khi công bố thông tin, DN cần đưa ra báo cáo riêng về giá trị thương hiệu.=>Nhằm cung cấp thêm thông tin về tài sản vô hình của DN: các nội dung về phân khúc thị trường; phân tích về công tác marketing;  đánh giá giá trị của thương hiệu, nhãn hiệu;  dự báo về tương lai của công ty.Liên tục cập nhật các kỹ thuật định giá thương hiệu trong và ngoài nước, căn cứ và điều kiện của doanh nghiệp để định giá thương hiệu; Phối hợp với cơ quan nhà nước đưa ra những phương pháp định giá tối ưu nhất, đáp ứng yêu cầu của bản thân doanh nghiệp và nhà nước;Các phương pháp định giá thương hiệuCó 5 phương pháp để tính giá trị của một thương hiệu.Dựa vào khả năng bán giá cao hơn bình thườngKhi khách hàng cảm thấy an tâm, tin tưởng vào uy tín; và chất lượng của một thương hiệu nào đó họ sẵn sàng trả giá cao hơn bình thường.Đó là khả năng, giá trị cộng thêm của thương hiệu mang lại cho một sản phẩm.Có thể đo “khả năng bán giá cao hơn bình thường” của một thương hiệu thông qua việc nghiên cứu khách hàng. Khách hàng sẽ hỏi nhiều câu hỏi để đánh giá được sự khác biệt giữa sản phẩm cùng loại có thương hiệu và không có thương hiệuDựa vào khả năng bán hàng dễ hơn bình thườngKhả năng bán hàng dễ hơn bình thường chính là dựa vào sự ưa chuộng của khách hàng.Cách tính này, giá trị thương hiệu là khoản chênh lệch thị phần (market share) thay vì lợi nhuận.Phương pháp này chỉ dựa vào con số thống kê liên quan đến sức mạnh hiện tại của thương hiệu mà chưa cân nhắc nhiều đến yếu tố tương lai (khi có những thay đổi, cải tiến chất lượng…)Dựa vào chi phí để xây dựng một thương hiệu thành côngDựa trên các chi phí thực sự mà doanh nghiệp đã phải bỏ ra để phát triển thương hiệu đến tình trạng hiện tại. Là sự tổng hợp các khoản chi, như chi phí nghiên cứu thị trường, quảng cáo, truyền thông…Chi phí đầu tư hoàn toàn không tỉ lệ thuận với giá trị gia tăng của thương hiệu nên cách tiếp cận này không chính xác.Cách khác là tính giá trị đầu tư tương đương. Cách này lấy chi phí thị trường hiện tại để ước tính tổng số tiền bỏ ra để xây dựng một thương hiệu tương đương với thương hiệu hiện tại. Số tiền này bao gồm các chi phí: xây dựng đề án, nghiên cứu thị trường, sản xuất mẫu thử, quảng cáo, khuyến mãi… Cách tính này thường được các chuyên gia tính nhẩm nhanh trị giá của một thương hiệu.Dựa vào giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoánĐó là phần chênh lệch giữa tổng giá trị thị trường của công ty:Tính trên giá cổ phiếu trừ đi toàn bộ giá trị trong sổ sách của công ty.Giá trị này chỉ là tương đối vì giá cổ phiếu có thể thay đổi từng ngày.Nhưng giá trị thực sự của thương hiệu phụ thuộc nhiều vào chiến lược kinh doanh;  tiếp thị của công ty;  và khả năng thực hiện các chiến lược đó.Mặt khác, các tài sản cố định thể hiện trong sổ sách kế toán được tính toán dựa trên giá mua, trừ đi khấu hao hàng năm. Giá trị này có thể cao hơn so với giá trị còn lại thực tế của tài sản trên thị trường (do tốc độ đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị) . Ngược lại, giá trị tài sản như đất đai, lợi thế thương mại đôi khi được định giá thấp hơn thị trường.Dựa vào khả năng tạo ra lợi nhuận nhiều hơn bình thườngPhương pháp này là phương pháp tốt nhất để đánh giá thương hiệu thông qua 02 cách thức:Cách 1: dựa vào kế hoạch dài hạn của thương hiệu:Lấy con số luồng lợi nhuận dự tính trừ giảm điLưu ý: phải cân nhắc yếu tố sức mạnh của thương hiệu ; và ảnh hưởng của nó với môi trường cạnh tranhCách 2: tính thu nhập hiện tại rồi áp dụng cấp số nhân (nếu thu nhập hiện tại không phản ánh trung thực tình hình kinh doanh của thương hiệu, có thể lấy con số bình quân của những năm trước Nếu con số này bị âm hoặc quá thấp thì có thể lấy con số của toàn ngành để làm suy chuẩn ra doanh nghiệp).Tóm lại, trên đây là toàn bộ phân tích về “ định giá thương hiệu là gì?” của Legalzone. Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ Legalzone để được giải đáp.
Bài viết được xem nhiều nhất
timeline_post_file60b5ae152557b-z2525705382890_4823d01a4c2e2134a94faa33ef20bc2f.jpg.webp
KHỦNG HOẢNG TRUYỀN THÔNG - ẢNH HƯỞNG – BÀI HỌC XỬ LÝ  KHỦNG HOẢNG Khủng hoảng truyền thông có thể xảy ra với các thương hiệu bất kỳ lúc nào nhất là trong thời đại mạng xã hội đang bùng nổ. Việc kiểm soát khủng hoảng cho các thương hiệu cần có những chiến lược xử lý và phương pháp giải quyết nhanh chóng. Đặc biệt để lấy lại niềm tin của khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải có động thái rõ ràng và tích cực. Bở vậy, khủng hoảng truyền thông luôn là “bóng đen” đối với các doanh nghiệp. Vậy khủng khoảng truyền thông là gì? Nó được hình thành như thế nào ? Có ảnh hưởng ra sao ?Khủng hoảng truyền thông là gì?Khủng hoảng truyền thông là cụm từ tiếng Việt được dịch ra từ chữ crisis. Theo các giáo trình, khủng hoảng truyền thông là những sự kiện xảy ra ngoài tầm kiểm soát của công ty khi có thông tin bất lợi về công ty hay sản phẩm. Sự bất lợi này đe dọa đến việc tiêu thụ sản phẩm hoặc làm giảm uy tín của công ty.Theo định nghĩa giáo khoa, “khủng hoảng truyền thông là bất kỳ một sự kiện ngoài ý muốn nào mang mối đe dọa nghiêm trọng đến uy tín của công ty hoặc niềm tin của các bên liên quan. Sự kiện có thể là một hành động vi phạm lòng tin, một sự thay đổi trong môi trường cạnh tranh, cáo buộc bởi các nhân viên hoặc những người khác, một nghị định đột ngột của chính phủ, lỗ hổng trong sản phẩm, hoặc bất kỳ tác động tiêu cực nào khác” hay nói một cách đơn giản, “khủng hoảng là bất kỳ một sự kiện nào có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của công ty đối với công chúng của nó”.Ba yếu tố chung cho một cuộc khủng hoảng: Mối đe dọa đối với tổ chứcYếu tố bất ngờThời gian quyết định ngắnVenette  lập luận rằng “khủng hoảng là một quá trình biến đổi trong đó hệ thống cũ không còn có thể được duy trì”. Do đó, yếu tố thứ tư của khủng hoảng là sự cần thiết phải thay đổi. Nếu không cần thay đổi, sự kiện có thể được mô tả chính xác hơn là sự cố hoặc sự cố.Các loại khủng hoảng truyền thôngBất kỳ một sự việc nào cũng có mối quan hệ biện chứng giữa “nguyên nhân – kết quả”. Đúng vậy, các cuộc khủng hoảng truyền thông không tự nhiên sinh ra mà nó có thể xuất phát từ các xung đột chính, cơ bản như:Xung đột lợi ích: Một nhóm các cá nhân hoặc nhóm có mâu thuẫn với các tập đoàn về những lợi ích nhất định từ đó dẫn đến các hoạt động chống phá để mang lợi ích về phe mình. Các hoạt động chủ yếu của xung đột này là tẩy chay. Xung đột này, trên thị trường khốc liệt hiện nay thì thường xuyên xảy ra.Cạnh tranh không công bằng: Công ty hoặc tổ chức đối thủ có các động thái vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nhằm chống phá, bôi nhọ, hạ nhục danh tiếng của công ty kia. Tuy các hoạt động này đã được giới hạn nhưng vẫn còn đó mà cụ thể là hành động bắt nạt trên mạng.“Một con sâu làm rầu nồi canh”: Một cá nhân đại diện trong công ty, tổ chức có hành vi phạm tội, gây rúng động trong cộng đồng, khiến cộng đồng mất niềm tin và quay lưng với tổ chức. Trường hợp này cũng rất hay xảy ra ví dụ như vụ việc của Agribank.Khủng hoảng liên đới: Đối tác của công ty mình bị vướng vào vòng lao lý, từ đấy có một số tin đồn thất thiệt trên mạng xã hội nhắm vào làm bôi nhọ danh tiếng công ty khi đánh đồng công ty với những việc làm sai trái của đối tác.Khủng hoảng tự sinh: Các hoạt động truyền thông, sản phẩm hay dịch vụ vô tình có những lỗi hoặc phốt dẫn đến sự bất bình và lan truyền rộng rãi. Đây là lý do thường xuyên và phổ biến trong các doanh nghiệp. Ví dụ: vụ chai nước có ruồi của công ty Tân Hiệp Phát.Khủng hoảng chồng khủng hoảng: Là khi công ty, tổ chức xử lý truyền thông không khéo, không có thái độ thành khẩn sửa chữa lỗi lầm dẫn đến sự phẫn nộ sâu sắc hơn từ cộng đồng. Khủng hoảng này thường xảy ra khi công ty không có một chiến lược giải quyết khủng hoảng quy củ, cẩn thận.Và kết quả của những loại xung đột cộng thêm nhiều gia vị của truyền thông đã tạo nên những cuộc khủng hoảng truyền thông. Khủng hoảng truyền thông vừa là cơ hội, cũng vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng, tính chất của cuộc khủng hoảng, có thể chia thành các loại khủng hoảng truyền thông như sau:Khủng hoảng âm ỉLà những khủng hoảng hay vấn đề một nhóm người đã có với công ty, tổ chức nhưng những vấn đề này quá nhỏ hoặc nó chưa đủ sức lan truyền rộng ra cộng đồng. Nhưng càng về lâu về dài, những vấn đề lớn dần và phát sinh khủng hoảng rộng lớn. Khi khủng hoảng phát sinh, doanh nghiệp rất khó giải quyết vì sự chậm trễ trong thay đổi không mang lại giá trị tích cực đến khách hàng. Khi phát sinh các nguy cơ âm ỉ, doanh nghiệp nên có sự đánh giá suy xét từ đó chặn đứng các nguy cơ có thể có.Khủng hoảng bất chợtLà những khủng hoảng bất chợt xuất hiện mà không có cảnh báo hay dự đoán như một chai nước bị kém chất lượng hay nhân viên phạm tội, những khủng hoảng này lỗi không hoàn toàn do công ty và cách giải quyết nên là thành thật xin lỗi, giải quyết hậu quả bằng tất cả khả năng.Khủng hoảng đa kênhKhủng hoảng đa kênh (Omni-channel) chứa nhiều khả năng gây hại nhất vì nó thu hút sự chú ý của nhiều kênh truyền thông. Nếu một thương hiệu đang đối phó với một tình huống cực đoan, chẳng hạn như cáo buộc quấy rối nơi làm việc, thu hồi sản phẩm hoặc các hành vi không phù hợp tại công ty, thì nó có thể phải đón nhận phản hồi tiêu cực trên phương tiện truyền thông xã hội và trên các phương tiện truyền thông truyền thống.Chuẩn bị đối phó bằng cách có một kế hoạch quản lý khủng hoảng mạnh mẽ thường xuyên được áp dụng và cập nhật. Trong những tình huống như thế này, một phản ứng nhanh chóng và xác thực có thể tạo ra sự khác biệt lớn. Đảm bảo rằng tất cả các tin nhắn được đăng không chỉ trên trang web của công ty mà còn trên bất kỳ kênh xã hội nào đang nhận được phản hồi tiêu cực. Và mặc dù tính nhất quán trong thông điệp của công ty là chìa khóa, từ ngữ nên được chau chuốt để thể hiện thái độ chân thành.Với các mức độ, phương thức khủng hoảng khác nhau như vậy, thì liệu khủng hoảng truyền thông  tất cả đều là xấu, hay nó chính là một bàn đạp thể hiện sự đẳng cấp, khốn khéo của con người và là cơ hội cho các doanh nghiệp chuyển mình, vươn lên?Ảnh hưởng của khủng hoảng truyền thôngNền kinh tế phát triển càng năng động, quyền con người được đề cao, sức mạnh truyền thông ngày càng lớn, tất cả đều có 2 mặt: tích cực và tiêu cực.  Khủng hoảng truyền thông là bất kì một chuyện xấu gì xảy đến với doanh nghiệp hoặc tổ chức được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội truyền thông, làm ảnh hưởng đến danh tiếng từ đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động, kinh doanh của các đối tượng bị khủng hoảng tác động đến.Khủng hoảng truyền thông thường kéo theo các cảm xúc tiêu cực không cần thiết mà hệ quả mang lại rất nặng nề:Làm lu mờ phán đoán chính xác.Tổn hại đến các đối tác của tổ chức bị khủng hoảng.Có tính lan truyền cao.Tính chính trực và danh tiếng của công ty cũng sẽ bị ảnh hưởng rõ nét phụ thuộc vào hành động của họ. Việc giải quyết kịp thời các khủng hoảng truyền thông là một bài toán khó của mọi ban ngành tổ chức. Khi gặp phải khủng hoảng, các cấp lãnh đạo, phòng ban nên có sự đối thoại nhanh chóng, rõ ràng để từ đó có thể giải quyết hiệu quả khủng hoảng, đặc biệt là khủng hoảng truyền thông xã hội. Các ngành nghề dễ bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng có thể kể đến thương mại điện tử, mạng xã hội, ngành thời trang,..Ví dụ, Những năm vừa qua, đã không ít các thương hiệu thiết sót trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông. Như sự việc đáng tiếc của hãng Boeing để xảy ra hai vụ tai nạn nghiêm trọng đối với máy bay 737 Max 8 mới của mình, hãng phải chấp nhận mất doanh thu và thu nhập trên mỗi cổ phần đã giảm hơn 40% so với năm 2018. Hay trường hợp của Taco Bell xử trí khi nhân viên làm ảnh hưởng xấu đến thương hiệu trên Facebook…Khủng hoảng truyền thông là điều mà mọi doanh nghiệp đều không muốn xảy ra. Trong việc xử lý khủng hoảng, sẽ không có một quy trình chuẩn nào cả. Vì trong quá trình diễn ra khủng hoảng, sự việc biến đổi không ngừng. Nên cái doanh nghiệp cần chính là sự chuẩn bị. Và áp dụng linh hoạt các nguyên tắc xử lý khủng hoảng truyền thông. Sao cho phù hợp với từng tình huống, diễn biến tình hình bấy giờ.Tuy nhiên, cũng không thể nói hoàn toàn, khủng hoảng truyền thông đều có tác động xấu. Bởi lẽ, khủng hoảng cũng có thể là chất xúc tác có tác dụng kích thích tính năng động sáng tạo, huy động tối đa tiềm lực trí tuệ của con người, cộng đồng và xã hội. Chỉ cần, kịp thời đưa ra nhưng giải pháp, chiến lược phù hợp để xử lý thì tất cả có thể biến thành cơ hội hành động kêu gọi một cách thông minh, thì đương nhiên sẽ biến “nguy thành an” biến “ khó khăn thành cơ hội”. Điển hình như: KFC Xử lý khủng hoảng truyền thông tốt có thể giúp bạn biến bê bối thành một chiến lược độc đáo và thu về những phản hồi tích cực.Như vậy, thực tế đã chứng minh, có nhiều doanh nghiệp đã thật sự thất bại, điêu đứng trên bờ vực phá sản,…vì khủng khoảng truyền thông, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp trở mình trên đường đua một cách ngoại mục.Các giải pháp xử lý khủng hoảng truyền thôngNhanh chóng đánh giá vấn đề gây khủng hoảngĐiều đầu tiên khi có những dấu hiệu khủng hoảng truyền thông là lập tức chúng ta phải tiếp cận và đánh giá vấn đề trong thời gian ngắn nhất. Trong đó, đặt ra các câu hỏi là một cách hiệu quả để nhìn nhận vấn đề một cách trực quan nhất.Vấn đề này có ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của tổ chức, doanh nghiệp? Nó có ảnh hưởng đến bộ máy cấp cao hay không? Mức độ nghiêm trọng của vấn đề truyền thông nằm mà doanh nghiệp bạn đang gặp phải nằm ở khoảng nào ?Phản hồi với các đối tác, khách hàngThực tế, tốc độ phản hồi khách thực sự rất quan trọng khi khủng hoảng truyền thông xảy ra. Sự im lặng và thụ động sẽ biến mọi tình huống trở nên tệ hại hơn và nhận được nhiều sự giận dữ hơn. Hãy luôn trong tư thế sẵn sàng nhận các phàn nàn từ phía các đối tác, khách hàng và phản hồi ngay lập tức. Nếu bạn chưa thể có câu trả lời ngay, hãy ước tính một khoảng thời gian về phía khách hàng để họ cảm nhận rằng chúng ta thực sự quan tâm đến vấn đề họ đang mắc phải.Có thái độ tích cực và trung thựcChúng ta không nên che giấu và không rõ ràng với truyền thông, mạng xã hội khi có khủng hoảng truyền thông xảy ra. Lên tiếng trên mạng xã hội, đưa ra thông cáo, lời xin lỗi trình bày rõ ràng vấn đề chúng ta đang mắc phải và đưa ra phương hướng giải quyết chính là phương pháp để trấn an khách hàng, đối tác đồng thời nhận được sự thông cảm của dư luận.Như CMO Will McInnes của Brandwatch từng nói: “Chiến dịch có thể sẽ sai. Các thông điệp được kiểm tra trong nhóm sẽ không hiệu quả. Nhân viên sẽ không hành động đúng. Nhưng người tiêu dùng sẽ chấp nhận lỗi lầm khi nhận được những phản hồi phù hợp.”Xây dựng quy trình bài bản đề phòng khủng hoảng truyền thôngNgười ta vẫn thường nói: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh.” Cách tốt nhất để xử lý khủng hoảng truyền thông là tiêu diệt triệt để những lối mòn có thể dẫn đến khủng hoảng truyền thông trước khi nó xảy ra. Có những cách để ngăn chặn khủng hoảng truyền thông như:Xây dựng một đội ngũ thiết kế và quản lý web chuyên nghiệp để đăng tải và cập nhập thông tin kịp thờiKiểm soát chặt chẽ những thông tin phát tán trên mạng xã hội.Cẩn thận kiểm tra tất cả những sản phẩm truyền thông (viral videos, photos…) trước khi tạo chiến dịch truyền thông.Không nên quảng cáo quá xa vời thực tế, lố lăng về chất lượng doanh nghiệp.Có rất nhiều phương pháp xử lý khủng hoảng truyền thông, sự lựa chọn phương pháp giải quyết phù hợp là rất quan trọng nó quyết định đến sự thành bại. Dưới đây là một số tài liệu cần biết về khủng hỏang truyền thông của các thương hiệu lớn và phương thức xử lý, bài học rút ra rất hữu ích: Ngày thứ 2 đen tối và cơn ác mộng của người làm truyền thông: Tải về05 ví dụ về khủng hoảng truyền thông và bài học rút ra: Tải về10 bài học điển hình về xử lý khủng hoảng truyền thông: Tải vềCơ chế lan truyền của khủng hoảng truyền thông: Tải vềDomino-s Pizza- Dội nước dập tắt khủng hoảng truyền thông, thay vì im lặng chờ chết: Tải vềKhi nhân viên làm xấu hình ảnh thương hiệu trên facebook đừng xử trí như Taco Bell: Tải vềNestle và Bài học xử lý khủng hoảng trên mạng xã hội: Tải vềSocial Listening- khủng hoảng truyền thông của Agribank ảnh hưởng như thế nào ? Tải vềSocial Listening- Vì đâu BaBy Care gặp phải khủng hoảng truyền thông: Tải về Tổng hợp các cuộc khủng hoảng truyền thông: Tải vềTrên đây là các thông tin tư vấn của Legalzone về phương án quản lý doanh nghiệp hiệu quả. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và sử dụng dịch vụ.
timeline_post_file61dd529d379fb-Thiết-kế-không-tên--18-.png.webp
Nguồn vốn xã hội hóa là gì? Đặc điểm của nguồn vốn xã hội hóa như thế nào? Cùng Legalzone tìm hiểu qua bài viết dưới đây. Khái nhiệm nguồn vốn xã hội hóaNguồn vốn xã hội hóa là gì?Nguồn vốn xã hội hóa được hiểu là những qui định phi chính thức, những chuẩn mực và các mối quan hệ lâu dài giúp thúc đẩy các hành động tập thể và cho phép mọi người thực hiện các hoạt động hợp tác kinh doanh cùng có lợi.Đặc điểm nguồn vốn xã hội hóaĐây là một loại hình vốn vậy nên có các đặc tính như:Tính sinh lợiThuộc tính sinh lợi cho biết vốn xã hội phải có khả năng sinh ra một nguồn lợi nào đó cả về mặt vật chất và tinh thần.Tính có thể hao mònTính hao mòn là thuộc tính hệ quả của tính sinh lợi, một điểm khác biệt quan trọng của vốn xã hội với các loại vốn khác là ngày càng sử dụng càng tăng.Cũng chính vì vậy mà vốn xã hội có thể bị suy giảm và triệt tiêu nếu không được sử dụng có thể bi phá hoại một cách vô tình hay cố ý khi vi phạm qui luật tồn tại và phát triển của loại hình vốn này.Tính sở hữuLà loại hình vốn nên vốn xã hội cũng sẽ thuộc sở hữu của một cộng đồng xã hội nào đó. Là một loại hình vốn nên nó có thể được đo lường, tích lũy và chuyển giao.Tính có thể đo lường tích lũy, chuyển giao.Một đặc điểm khác nữa của vốn xã hội là nó được làm tăng lên trong quá trình chuyển giao.Vốn xã hội có tính hai mặt:Nó có thể hướng đến sự phát triểnThiên về tính bảo tồn, kìm hãm sự phát triển.Vốn xã hội phải thuộc về một cộng đồng nhất định. Và là sự chia sẻ những giá trị chung, những qui tắc và ràng buộc chung của cộng đồng đó.Vai trò của vốn xã hội đối với tăng trưởng kinh tếNguồn vốn xã hội hoánguon von xa hoiNhững tác động của vốn xã hội đến tăng trưởng kinh tế cũng được xem xét từ nhiều khía cạnh.Vốn xã hội có thể tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh trực tiếp và gián tiếp khác nhau.– Kênh 1: vốn xã hội có thể thay thế các thể chế chính thức một cách hiệu quả.Vốn xã hội cho dù đó là vốn xã hội co cụm vào nhau hay vốn xã hội vươn ra ngoài bao hành sự tin tưởng lẫn nhau và các chuẩn mực phi chính thức có thể thay thế cho các thể chế chính thức để điều chỉnh các giao dịch kinh tế và do vậy giảm thiểu các chi phí -Kênh 2: vốn xã hội tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa mọi người thúc đẩy sự lưu chuyển, lan tỏa của các nguồn lực, thông tin, các ý tưởng và công nghệ.– Kênh 3: vốn xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển của các hoạt động đổi mới, sáng tạo.– Kênh 4: vốn xã hội có tác động tích cực làm gia tăng vốn con người.Tuy nhiên, không phải vốn xã hội luôn có vai trò tích cực đối với tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh những lợi ích mà vốn xã hội đem lại, sự tồn tại của vốn xã hội luôn kèm theo những chi phí mà các cá nhân và xã hội phải chi trả.Không phải trong mọi trường hợp vốn xã hội luôn ưu việt hơn các thể chế chính thức. Khi mà tiến bộ công nghệ có thể giúp giảm chi phí thiết lập, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thể chế chính thức.Sự phát triển kinh tế thường đi song song với sự cải thiện đời sống về mặt vật chất. Nhưng một vùng đất nào đó rất giàu có về vật chất thuần túy mà thiếu vắng vốn xã hội. Các nhà nghiên cứu về nguồn vốn xã hội trong tương quan kinh tế đều đồng ý với nhau rằng:Một nền kinh tế lành mạnh trong một đất nước có kỷ cương và văn hiến không thể nào thiếu vắng nguồn vốn xã hội. Kẻ thù dai dẳng nhất của quá trình tích lũy, phát triển nguồn vốn xã hội là tham nhũng. Bởi vậy, vốn xã hội và tham nhũng có mối quan hệ nghịch chiều với nhau. Nạn tham nhũng càng bành trướng, vốn xã hội càng co lại. Khi tham nhũng trở thành “đạo hành xử” hàng ngày thì cũng là lúc vốn xã hội đang trên đà phá sản.Nếu chỉ có ánh sáng mới có khả năng quét sạch hay đuổi dần bóng tối. Tương tự như thế, vốn xã hội được tích lũy càng cao, nạn tham nhũng càng có hy vọng bị đẩy lùi dần vào quá khứ.Giống và khác giữa XHH và PPPMột số điểm tương đồng Chủ trương thu hútXuất phát từ việc nguồn vốn nhà nước hạn hẹp, không bảo đảm các công trình, dịch vụ cơ bản.Về lĩnh vực:XHH bắt nguồn từ lĩnh vực y tế. Đến nay đã điều chỉnh cả lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề, thể dục thể thao, văn hoá, môi trường.Một số mô hình PPP xuất phát từ lĩnh vực kết cấu hạ tầng như nhà máy điện, cấp nước. Đến nay đã bao gồm lĩnh vực như y tế, giáo dục, thể thao, văn hoá… theo thông lệ quốc tế.Về chủ thểBên cạnh các cơ sở ngoài công lập, chủ trương XHH còn điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ sở sự nghiệp công lập với đối tác liên doanh, liên kết.Hình thức đầu tư PPP cũng có chủ thể là khu vực công và khu vực tư, thực hiện hợp đồng đối tác trong thời gian dài.       Sự tương đồng giữa 2 hình thức dẫn đến sự lúng túng khi lựa chọn giữa đầu tư XHH và đầu tư PPP.Một số điểm khác biệtnguồn vốn đầu tư công chưa xử lý quan ngại về rủi ro có thể xảy ra trong triển khai dự án. Đầu tư PPP có cơ sở là hợp đồng, xác định rõ cơ chế xử lý và giảm thiểu rủi ro. Nhưng thiếu nguồn lực nhà nước tham gia nên chưa hấp dẫn nhà đầu tư.Về mức độ cam kết, chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và nhà đầu tư:Chính sách XHH chỉ đề cập về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư. Không quy định một cách chính thức về việc chia sẻ trách nhiệm với nhà đầu tư.PPP yêu cầu sự cam kết của Nhà nước ở mức độ cao hơn. Ngoài các ưu đãi, hỗ trợ, cơ chế bảo đảm đầu tư cũng được quy định trong hợp đồng để giảm thiểu rủi ro trong quá trình đầu tư.Về minh bạch hoá:Hoạt động liên doanh liên kết, các dự án, đề án liên doanh, liên kết được minh bạch hoá theo quy chế nội bộ, chưa thực sự hướng tới sự giám sát rộng rãi và độc lập.Điều này xuất phát từ thực trạng chung là thiếu cơ chế khuyến khích sự tham gia giám sát, đánh giá của các đơn vị độc lập, người sử dụng dịch vụ.Dự án PPP được công khai hoá, minh bạch hoá từ danh mục dự án đến các bước lựa chọn nhà đầu tư tại Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và trang web của các bộ, địa phương.Về quy trình lựa chọn nhà đầu tư, đối tác tư nhân, giữa hai hình thức cũng có những khác biệt nhất định. Trên đây là một số thông tin giải đáp thắc mắc nguồn vốn xã hội hóa là gì. Hãy liên hệ với chúng tôi khi bạn cần hỗ trợ. Bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua hotline 0888889366. Hoặc fanpage Công ty Luật Legalzone.
timeline_post_file60ef9501df581-Barry-Callebaut-Offices-Chocolate-Academy-Istanbul-_-Office-Snapshots-570x570.jpg.webp
Đây là những thông tin về cơ bản nhưng hầu như không nhiều người hiểu rõ được. Dù hàng ngày đang ngồi làm những công việc tại văn phòng của mình. Điều này cũng dễ vì cơ bản thì kiến thức này cũng không có gì gọi là quan trọng lắm đối với mọi người.Tuy nhiên, Công ty Luật Legalzone cũng vẫn sẽ chia sẻ đến bạn những thông tin chi tiết nhất về khái niệm chức năng để bạn tham khảo qua và hiểu rõ hơn về hình thức này để bạn có thêm nguồn kiến thức hữu ích cho mình nhé.Khái niệm văn phòng là gì?Khái niệm văn phòng đó là được xem như một thuật ngữ để chỉ về một khu vực hoặc vị trí trong một tòa nhà gần giống vậy, đây sẽ là nơi mà mọi người sẽ cùng ngồi làm việc với nhau. Đồng thời đây cũng là một những phần quan trọng của mỗi doanh nghiệp với các loại hình văn phòng được nhắc đến như: văn phòng diện hoặc văn phòng chi nhánh của doanh nghiệp đó.Ngoài ra thì nếu chúng ta hiểu theo một nghĩa khác thì đó là một nơi làm việc của một cá nhân hoặc tập thể và được cung cấp đầy đủ các vật dụng cần thiết để nhằm đáp ứng cho nhu cầu tất yếu của công việc khi thực hiện. Đó là một trong những thông tin để giải đáp cho câu hỏi văn phòng là gì? mà bạn có thể tham khảo qua.Những chức năng chính của văn phòngVăn phòng được hình thành đối với cá nhân thì đó là lúc thực hiện trang trí, bổ sung các vật dụng cần thiết đáp ứng nhu cầu của mình. Đối với doanh nghiệp thì thực hiện những hình thức đăng ký kinh doanh và có địa chỉ cụ thể cho nơi đó.Chức năng chính của văn phòng khi nhắc đến sẽ là:+ Nơi để mọi người có thể thực hiện toàn quyền hoạt động và sử dụng để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của công việc và duy trì hoạt động tại đây.+ Nơi thực hiện các hoạt động cần thiết như: hội họp, gặp khách hàng….+ Tiếp nhận thông tin, lưu trữ hồ sơ, tiếp nhận thư từ văn bản….Đó là những chức năng mà hình thức văn phòng thường được sử dụng để đáp ứng một cách trọn vẹn nhất đến cá nhân, doanh nghiệp khi sử dụng.Có những loại hình văn phòng nào?Tuỳ vào mục đích sử dụng mà thị trường hiện tại đang có những hình thức và loại hình văn phòng như sau:+ Văn phòng làm việc truyền thốngĐổi mới loại hình văn phòng này thì có lẽ cũng đã không còn xa lạ gì đối với mọi người nữa rồi. Bạn có thể thoải mái hoạt động và phát triển tại đây và có đầy đủ cơ sở vật chất sử dụng cần thiết mà mình muốn.+ Loại hình văn phòng ảoĐối với hình thức này thì sẽ dành cho các doanh nghiệp dùng để đăng ký kinh doanh, tất cả các hoạt động nhận và gửi thư đều sẽ được thực hiện tại đây. Hoặc những vấn đề liên quan mà khi hoạt động sẽ không có sự khác biệt quá về lợi ích so với văn phòng truyền thống.+ Văn phòng chia sẻHình thức này tương tự với văn phòng ảo, tuy nhiên điểm khác ở đây là nhiều doanh nghiệp sẽ cùng sử dụng chung một văn phòng và tất nhiên là các nhân viên làm việc tại đây đều làm chung với nhau. Hình thức này giúp tiết kiệm chi phí đáng kể, nhất là đối với những doanh nghiệp mới hoạt động.Trên đây là bài viết của Công ty Luật Legalzone. Liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 0888889366 hoặc Fanpage để được tư vấn và hỗ trợ. Bạn có thể tham khảo các thủ tục pháp luật khác trên trang Thủ tục pháp luật của chúng tôi hoàn toàn miễn phí.
timeline_post_file60b997b6442b8-tra-cuu-ma-so-thue.jpg.webp
Mã số thuế doanh nghiệp và mã số thuế, mã số BHXH là một?Theo Điều 29 Luật Doanh nghiệp 2020, mã số doanh nghiệp là dãy số được tạo bởi Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, được cấp cho doanh nghiệp khi thành lập và được ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có một mã số duy nhất và không được sử dụng lại để cấp cho doanh nghiệp khác.Mã số doanh nghiệp được dùng để thực hiện nghĩa vụ về thuế, thủ tục hành chính và quyền, nghĩa vụ khác. Thêm vào đó, việc cấp mã số doanh nghiệp được thực hiện tự động theo phương thức điện tử trên Hệ thống đăng ký thuế của Tổng cục Thuế (khoản 1 Điều 2 Thông tư 127/2015/TT-BTC).Trường hợp các doanh nghiệp thành lập trước ngày 01/07/2015, có mã số doanh nghiệp và mã số thuế khác nhau không bắt buộc phải làm thủ tục thay đổi.Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 01/2021/NĐ-CP, mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp. Mã số này đồng thời là mã số thuế và mã số đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp.Như vậy, mã số doanh nghiệp chính là mã số thuế và mã số đơn vị tham gia BHXH của doanh nghiệp đó.Cách tra cứu mã số thuế doanh nghiệp đơn giảnCách tra cứu mã số thuế doanh nghiệp thứ nhấtBước 1: Truy cập vào TNCNONLINE.COM.VN chọn Tra cứu MSTTra cứu mã số thuế Bước 2: Chọn mục doanh nghiệpBước 3: Điền Chứng minh thư/Hộ chiếu của người đại diện theo pháp luật hoặc Mã số doanh nghiệp (mã số trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp).Bước 4: Điền dãy chữ và số màu đỏ trong hình chữ nhật bên dưới vào ô Xác nhận thông tin.Bước 5: Bấm vào ô Tìm kiếm.Thông tin Doanh nghiệp nộp thuế chi tiết (Ảnh minh họa)Cách tra cứu này sẽ cung cấp cả ngày cấp mã số thuế doanh nghiệp nếu bạn cần thông tin này.Cách tra cứu mã số thuế doanh nghiệp thứ haiBước 1: Truy cập vào trang của Tổng cục Thuế tại địa chỉ: http://www.gdt.gov.vn/wps/portalBước 2: Chọn Dịch vụ côngTrang chủ Tổng cục Thuế Việt Nam (Ảnh minh họa)Bước 3: Chọn Tra cứu thông tin người nộp thuếBước 4: Nhập 01 trong 04 yêu cầu: Mã số thuế/Tên tổ chức cá nhân nộp thuế/Địa chỉ trụ sở kinh doanh/Số chứng minh thư người đại diện (Không cần phải nhập đầy đủ cả 4 thông tin).Sau đó nhập Mã xác nhận (Dãy chữ số và ký tự bên cạnh ô Mã xác nhận)Bước 5: Nhấn vào Tra cứu, chờ và nhận kết quảBước 6: Bấm vào tên doanh nghiệp để xem thông tin chi tiếtCả hai cách tra cứu mã số thuế doanh nghiệp trên đây đều rất đơn giản, dễ làm, chỉ cần vài cú nhấp chuột là bạn đã có đầy đủ các thông tin thuế của doanh nghiệp mình cần.Nếu có vướng mắc về các quy định liên quan đến luật doanh nghiệp, bạn đọc vui lòng liên hệ Legalzone  để được hỗ trợ chi tiết.
timeline_post_file60ab4d3e15f73-quang-cao-tren-bao-dien-tu.jpg.webp
Quảng cáo trên báo điện tửThứ hai, 24/5/2021, 00:54 (GMT+7)Đã lưu“Không cho phép thời gian chờ tắt hoặc mở quảng cáo vượt quá 1,5 giây” trên báo điện tử là quy định hiệu lực từ 1/6 tới.Quy định này, tại Nghị định 38/2021 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá và quảng cáo, có vẻ hợp lý với bạn đọc, nhưng chưa hợp lý với doanh nghiệp.Họ sẽ chuyển quảng cáo từ báo chí sang nền tảng như YouTube. Vì ở đây, quảng cáo của họ được kéo dài 5 giây hoặc hơn, thậm chí có thể "bắt" người dùng xem hết với những video quảng cáo ngắn. Hay với các nền tảng OTT hoặc game, quảng cáo đang không bị các quy định pháp lý theo luật Việt Nam khống chế.Người bị thiệt là báo chí và nhà quảng cáo, doanh nghiệp trong nước. Người hưởng lợi là các ông lớn như Google, Facebook, nhà phát hành game và ứng dụng OTT.Tổng doanh thu của báo điện tử Việt Nam mỗi năm chỉ trên 4.000 tỷ đồng, trong khi tổng chi phí quảng cáo trực tuyến khoảng 14.500 tỷ đồng. Phần chênh lệch hơn 10.000 tỷ đồng đang rơi vào túi "người ngoài" là các tập đoàn xuyên biên giới. Quy định pháp lý như Nghị định 38 mới đây càng khiến miếng bánh đã bé dễ bị chia thêm cho các ông lớn hơn.Tôi bắt đầu nghiên cứu cơ chế thu hút quảng cáo trên báo chí năm 1994, khi còn làm việc tại một số tòa soạn báo. Như một quy luật, các nhà quảng cáo sẵn lòng bỏ tiền vào nơi họ tin rằng có lượng bạn đọc nhất định thuộc phân khúc họ muốn tiếp cận. Họ sẽ trả tiền cao hơn nữa, nếu được đảm bảo xuất hiện ở trang báo có nội dung quan trọng, hấp dẫn mà bạn đọc của họ không bao giờ bỏ qua. Ví dụ, trang 3, trang 5 hoặc trang đầu của những chuyên mục quan trọng như "tài chính - ngân hàng", "thời sự", "pháp lý"...Tôi cũng đã áp dụng cơ chế tương tự để bán quảng cáo trên một số tạp chí của mình sau đó. Các thương hiệu xa xỉ từng giành giật nhau những vị trí tốt nhất mà họ tin rằng bạn đọc - người có khả năng chi trả cho sản phẩm của họ - sẽ nhìn thấy đầu tiên. Nếu không, ít nhất họ cũng muốn quảng cáo của mình nằm bên tay phải của những "bài đinh" nửa đầu cuốn tạp chí.Không chỉ trên báo in, thời kỳ đầu của báo điện tử, khoảng 15 năm trước, việc chiếm được vị trí trên đầu hoặc có logo trên trang chủ rất quan trọng, vì người đọc kiểu gì cũng phải đi qua "mặt tiền" để vào "nhà" đọc tin. Sau này, bạn đọc trải nghiệm nội dung theo link bài báo được gợi ý, chia sẻ trên mạng xã hội. Người đọc "đi" thẳng vào bài viết qua link, không nhất thiết phải qua trang chủ.Dĩ nhiên, nhà quảng cáo khôn khéo sẽ chọn xuất hiện ở ngay bài báo, với nhiều hình thức sáng tạo, dựa trên thuật toán xác định người đang đọc có phải đối tượng mình muốn tiếp cận không. Lý do rất đơn giản và tất yếu: quảng cáo phải xuất hiện ở đâu khách hàng của họ có thể nhìn thấy, khi lật trang báo hoặc lướt web theo dòng chảy nội dung.Nhưng từ ngày Nghị định 38 hiệu lực tới đây, các hành vi tưởng như hiển nhiên này bị coi là vi phạm Luật Quảng cáo, sẽ bị phạt rất nặng. Trên báo in, quảng cáo không được phép xuất hiện ở trang nội dung, đồng thời quảng cáo theo ngữ cảnh trên báo điện tử bị cấm. "Được nằm cạnh nội dung" - yếu tố tiên quyết để nhà quảng cáo bắt tay với báo chí - bị khóa lại.Thực ra, quảng cáo xen với nội dung đã bị cấm từ Luật Quảng cáo 2012. Ngay khi nó ra đời, các nhà chuyên môn đã chỉ ra những bất cập và lạc hậu của nhiều điều khoản trong luật, không theo kịp sự biến chuyển vũ bão của công nghệ truyền thông.Trên thế giới, với báo chí miễn phí tương tự như ở Việt Nam, quảng cáo được phép xen kẽ với bài nội dung và tuỳ biến dựa theo đối tượng đọc báo. Người ta sáng tạo nhiều cách để tránh gây phản cảm cho bạn đọc. Ví dụ như các video, box hình ảnh tĩnh và động, lời gợi ý thân thiện ngay trên thân bài viết. Các bài viết hay phụ trương doanh nghiệp trả tiền được ghi rõ "nội dung được tài trợ". Người đọc hoàn toàn thoải mái trong việc nhấp chuột vào hay bỏ qua. Nếu không muốn bị quảng cáo làm phiền, bạn có thể đặt báo in hay trả tiền mua nội dung báo online theo tháng, quý hoặc năm.Tôi nhận ra rằng, trong nỗ lực bảo vệ quyền của bạn đọc, các nhà lập pháp nước ta đã quên mất quyền của người bỏ tiền quảng cáo, quyền của doanh nghiệp - người mang lại nguồn thu chính cho báo chí, và là một phần của thị trường truyền thông. Họ bị tước bỏ dần các công cụ tiếp cận khách hàng thông qua sản phẩm truyền thông chính thống. Quyền được phát triển mạnh mẽ của báo chí - những người phục vụ nhu cầu thông tin cho xã hội - đang bị gạt sang bên lề.Báo in đang khó khăn, bạn đọc mỗi ngày một rời xa. Mô hình thu phí người đọc mới chỉ manh nha ở một, hai báo điện tử. Cho tới bây giờ, quảng cáo vẫn là nguồn thu gần như duy nhất đối với hầu hết cơ quan báo chí, để báo chí có thể tiếp tục miễn phí cho bạn đọc.Các doanh nghiệp đương nhiên vẫn phải bán hàng. Họ, dù không muốn, sẽ buộc phải chuyển dịch ngân sách quảng cáo lẽ ra dành cho báo chí sang các kênh khác. Doanh thu của báo điện tử hiện chỉ chiếm 20% - 25% tổng thị trường quảng cáo trực tuyến, với sự siết chặt này, sẽ càng thêm khó.Thay đổi trên thực ra còn bất lợi cho nhà nước. Việc quảng bá sản phẩm khó khăn hơn sẽ cản trở sự phát triển chung của kinh tế - xã hội. Báo chí vốn là kênh uy tín để doanh nghiệp tiếp cận khách hàng. Đặc biệt, trong đại dịch Covid-19, các doanh nghiệp, vì giãn cách, có nhu cầu sử dụng kênh báo chí nhiều hơn để tiếp cận công chúng. Những rào cản mới sẽ khiến việc quảng bá sản phẩm, dịch vụ khó khăn hơn. Nhà quảng cáo không được sử dụng kênh báo chí hiệu quả sẽ chuyển sang các nền tảng khác mà việc thu thuế hiện là vấn đề nan giải với chính phủ.Bộ Thông tin - Truyền thông cũng thấy rõ thị phần quảng cáo trực tuyến trong nước ngày càng bị co hẹp bởi sự cạnh tranh bất bình đẳng, không chung một luật chơi với các nền tảng xuyên biên giới. Cơ quan này đang nỗ lực nhiều cách để cải thiện sự công bằng trên bức tranh quảng cáo số Việt Nam. Trong bối cảnh đó, việc Nghị định 38 ra đời với một số quy định bóp nghẹt quảng cáo trên báo chí vô hình trung càng tạo thêm lợi thế cho các Big Tech.Trong câu chuyện này, chính độc giả cũng bị ảnh hưởng. Họ có thể phải chấp nhận quảng cáo kém tin cậy bởi mạng xã hội không chịu trách nhiệm về sự chính xác của thông tin được quảng cáo như báo chí chính thống. Và điều quan trọng nữa, động lực phát triển một trong những ngành kinh tế sáng tạo: ngành xuất bản và nội dung số, sẽ bị suy giảm đáng kể.Người đọc có quyền chặn quảng cáo, nếu muốn. Họ có thể từ chối đọc, xem một kênh báo chí quá nhiều quảng cáo. Họ cũng có cả quyền không trả tiền cho người làm nội dung nếu không thích. Nhưng báo chí và doanh nghiệp thì không được pháp luật bảo hộ những quyền tương tự.Với Nghị định trên, tôi không bình luận về mức độ và hình thức xử phạt, vì nó được đặt ra với mục tiêu ngăn chặn vi phạm. Nhưng tôi chắc chắn việc áp dụng sẽ là bước lùi trong tiến trình đổi mới sáng tạo truyền thông theo xu hướng chung của thế giới.Lê Quốc Vinh
timeline_post_file60decbef97581-giay-khai-sinh.jpg.webp
Hiện nay, vấn đề bị sai thông tin trên giấy khai sinh rất nhiều khách hàng đang gặp phải và gửi câu hỏi về cho Legalzone. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giải đáp về "thay đổi thông tin trên giấy khai sinh"Giấy khai sinh là gì?Giấy khai sinh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh; nội dung Giấy khai sinh bao gồm các thông tin cơ bản về cá nhân theo quy định.Thứ nhất, về điều kiện thay đổi, cải chính giấy khai sinh:– Đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi): việc thay đổi họ, chữ đệm, tên phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện trong Tờ khai. Bởi lẽ, đây là đối tượng chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Với người từ đủ 9 tuổi trở lên thì việc thay đổi phải được sự đồng ý của người đó.– Chỉ được thực hiện việc cải chính hộ tịch này khi có căn cứ để cho rằng sự sai sót thông tin trên giấy khai sinh là do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc người yêu cầu đăng ký hộ tịch.Thứ hai, về thẩm quyền thay đổi, cải chính thông tin trên giấy khai sinh:Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch 2014 ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2014:Việc chỉnh sửa, cải chính thông tin của cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch (như giấy khai sinh)Chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.Việc cải chính hộ tịch nói chung và cải chính thông tin trên giấy khai sinh nói chung sau khi đáp ứng các điều kiện luật định để cải chính còn phải thực hiện đúng thẩm quyền.Thẩm quyền cải chính thông tin trên giấy khai sinh cũng giống thẩm quyền cải chính hộ tịch được quy định tại Điều 7 Luật hộ tịch 2014. Theo đó, thẩm quyền thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện tùy theo độ tuổi của người có thông tin cần cải chính. Cụ thể được quy định như sau:Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền cải chính đối với người chưa đủ 14 tuổi ở trong nước;Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền cải chính đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên ở trong nước;Đối với người Việt Nam định cự ở nước ngoài thì thẩm quyền thuộc về cơ quan đại diện.Như vậy, nếu có nhu cầu cải chính thông tin thì tùy vào từng trường hợp thì bạn phải nộp hồ sơ cải chính đúng thẩm quyền để có thể được giải quyết.Thứ ba, thủ tục tay đổi, cải chính thông tin trên giấy khai sinh: Về hồ sơ thay đổi thông tin trên giấy khai sinh:Người yêu cầu cải chính thông tin trên giấy khai sinh chuẩn bị hồ sơ cải chính bao gồm:– Tờ khai theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư 15/2015/TT-BTP;– Bản chính giấy khai sinh;– Một số giấy tờ làm căn cứ để thay đổi thông tin như: Sổ hộ khẩu, Hộ chiếu,…Về trình tự, thủ tục thay đổi thông tin trên giấy khai sinh:Thủ tục cải chính hộ tịch được thực hiện theo quy định tại  Điều 28 Luật hộ tịch 2014. Cụ thể như sau:Nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền.Thời hạn:Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ.công chức tư pháp – hộ tịch sẽ ghi nội dung thay đổi, cải chính vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch nếu thấy việc cải chính thông tin trên giấy khai sinh đáp ứng đủ điều kiện:Có cơ sởĐủ điều kiệnĐúng thẩm quyềnPhù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan,Công chức tư pháp-hộ tịch báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.Trường hợp phức tạp, cần phải xác minh thêmThời hạn giải quyết được kéo dài thêm nhưng không quá 03 ngày làm việc.Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.Trên đây là bài viết của Legalzone về thủ tục cải chính, thay đổi thông tin trên giấy khai sinh. Liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết. Hotline 0888889366. Hoặc bạn có thể gửi tin nhắn cho chúng tôi qua Fanpage Công ty Luật Legalzone.
timeline_post_file60c02a54a3e5f-vay-dai-han-la-gi.jpg.webp
Ngày 29/7/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 20/CT-TTg về việc lập kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 – 2025.Theo đó, căn cứ vào các nguyên tắc, mục tiêu, định hướng đầu tư công giai đoạn 2021 – 2025, các Bộ, ngành và địa phương lựa chọn danh mục và bố trí vốn kế hoạch đầu tư trung hạn của từng nguồn vốn trong từng ngành, lĩnh vực theo thứ tự ưu tiên.Vậy vốn trung hạn là gì? Legalzone  sẽ giải đáp trong bài viết dưới đâyNguồn vốn đầu tư trung hạnđầu tư trung hạn là gì? Bao gồm những nguồn vốn nào?Theo quy định hiện hành tại Nghị định 77/2015/NĐ-CP thì các nguồn vốn đầu tư công trung hạn và ngắn hạn bao gồm:Vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước, bao gồm: vốn đầu tư của ngân sách trung ương cho Bộ, ngành trung ương; vốn bổ sung có mục tiêu của ngân sách trung ương cho địa phương; vốn đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương.Vốn đầu tư nguồn công trái quốc gia là khoản vốn do Nhà nước vay trực tiếp của người dân bằng một chứng chỉ có kỳ hạn để đầu tư cho các mục tiêu phát triển của đất nước.Vốn đầu tư nguồn trái phiếu Chính phủ là khoản vốn trái phiếu Chính phủ do Bộ Tài chính phát hành để thực hiện một số chương trình, dự án quan trọng trong phạm vi cả nước.Vốn đầu tư nguồn trái phiếu chính quyền địa phương là khoản vốn trái phiếu có kỳ hạn từ 01 năm trở lên, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành hoặc ủy quyền phát hành để đầu tư một số dự án quan trọng của địa phương.Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, gồm: vốn viện trợ không hoàn lại, vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của Chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia.Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là các khoản vốn do Ngân hàng phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay để đầu tư các dự án thuộc đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư và tín dụng chính sách xã hội.Vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, gồm:Vốn đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết đến trước thời điểm Luật ngân sách nhà nước sửa đổi năm 2015 có hiệu lực;Khoản phí, lệ phí được để lại đầu tư của Bộ, ngành trung ương và địa phương;Tiền lãi dầu khí của nước chủ nhà từ hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí (PSC), lợi nhuận được chia từ liên doanh dầu khí và tiền đọc tài liệu dầu khí;Nguồn thu của đơn vị sự nghiệp công lập để lại cho đầu tư;Vốn đầu tư từ nguồn thu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước được thu lại hoặc trích lại để đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thuộc nhiệm vụ ngân sách nhà nước của Bộ, ngành trung ương và địa phương;Nguồn thu của tổ chức tài chính, bảo hiểm xã hội được trích lại để đầu tư dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của Bộ, ngành trung ương và địa phương;Nguồn thu từ chuyển mục đích, chuyển quyền sử dụng đất của Bộ, ngành trung ương và địa phương chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước để đầu tư dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội.Khoản vốn vay của chính quyền cấp tỉnh được hoàn trả bằng nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương và thu hồi vốn từ các dự án đầu tư bằng các khoản vốn vay này, bao gồm:Khoản huy động vốn trong nước của chính quyền cấp tỉnh theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vay từ nguồn vốn nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước và huy động từ các nguồn vốn vay trong nước khác để đầu tư kết cấu hạ tầng;Vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài do Chính phủ cho vay lại.Thứ tự ưu tiên bố trí vốn kế hoạch đầu tư trung hạnVốn trung hạn là gì? Thứ tự ưu tiên bố trí vốn kế hoạch đầu tư trung hạn là gì– Dự án đã hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn;– Vốn đối ứng cho dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đai của các nhà tài trợ nước ngoài;– Vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo phương thức đối tác công tư;– Dự án chuyển tiếp thực hiện theo tiến độ được phê duyệt;– Dự án dự kiến hoàn thành trong kỳ kế hoạch;– Các dự án khởi công mới nếu có các điều kiện: Chương trình, dự án cần thiết, có đủ điều kiện được bố trí vốn kế hoạch; Sau khi đã bố trí đủ vốn để thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản;Bảo đảm bố trí đủ vốn để hoàn thành chương trình, dự án theo tiến độ đầu tư đã được phê duyệt.Ngoài ra, còn cần phải tiếp tục ưu tiên các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho các vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng thường xuyên bị thiên tai, bão lũ…Đặc biệt, không bố trí vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách Nhà nước vào các lĩnh vực, dự án mà các thành phần kinh tế khác có thể đầu tư.Các nguồn vốn đầu tư công trung hạn và ngắn hạn bao gồm những nguồn vốn theo quy định tại Điều 3 Nghị định 77/2015/NĐ-CP kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm.Nguyên tắc bố trí vốn đầu tư công trung hạnTheo quy định hiện hành tại Nghị định 77/2015/NĐ-CP thì nguyên tắc bố trí vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm cho chương trình, dự ánCác nguyên tắc quy định tại Điều 54 của Luật Đầu tư công.Bố trí đủ vốn chuẩn bị đầu tư trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm cho các dự án do cấp mình quản lý để:Lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư;Lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án đầu tư công.Việc bố trí vốn kế hoạch cho chương trình, dự án khởi công mới theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 77/2015/NĐ-CP và các nguyên tắc sau đây:Chương trình, dự án có đủ điều kiện được bố trí vốn kế hoạch theo quy định tại Điều 10 và Điều 27 của Nghị định 77/2015/NĐ-CP;Sau khi đã bố trí vốn hoàn trả các khoản ứng trước vốn đầu tư công (nếu có).Nguyên tắc bố trí vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm cho chương trình, dự án được quy định tại Điều 6 Nghị định 77/2015/NĐ-CP kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm.Trên đây là một số thông tin giải đáp cho thắc mắc vốn trung hạn là gì. Hãy liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất