0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64ba4748340f3-KINH-TẾ-THỊ-TRƯỜNG-VÀ-YÊU-CẦU-ĐỐI-VỚI-THỦ-TỤC-PHÁP-LÝ-VỀ-ĐẦU-TƯ-ĐỐI-VỚI-DOANH-NGHIỆP-TƯ-NHÂN.jpg.webp

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI THỦ TỤC PHÁP LÝ VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

2.1.   Kinh tế thị trường đầy đủ và yêu cầu đối với thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân

2.1.1.   Quan niệm về kinh tế thị trường đầy đủ

Một trong những ràng buộc đối với nước ta khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là Việt Nam việc bị coi là nền kinh tế phi thị trường (NME) trong vòng 12 năm kể từ ngày gia nhập (đến 31/12/2018). Hết thời gian bị coi là nền kinh tế phi thị trường, nền kinh tế của Việt Nam đương nhiên được coi là nền kinh tế thị trường đầy đủ. Trước thời điểm 31/12/2018, nếu Việt Nam chứng minh được với các đối tác là kinh tế hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ "phi thị trường" đối với Việt Nam. Chính vì vậy, ngay sau khi gia nhập WTO nước ta đã tăng cường cải cách, vận động các nước đối tác công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ. Tính đến hết năm 2015, Việt Nam đã được 59 quốc gia công nhận có nền kinh tế thị trường [6]. Ngoài ra, một quốc gia chưa được công nhận là có nền kinh tế thị trường đầy đủ thì không có nghĩa là tất cả các ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế của quốc gia đó đều bị coi là "phi thị trường". Nói cách khác, nhà sản xuất, nhà xuất khẩu của nước đó nếu chứng minh được rằng, mình hoạt động trong những điều kiện của nền kinh tế thị trường và không bị can thiệp quá nhiều từ Chính phủ thì nhà sản xuất, nhà xuất khẩu đó vẫn được đối xử như những doanh nghiệp khác từ các nước đã được công nhận có nền kinh tế thị trường.

Như vậy, thuật ngữ "nền kinh tế thị trường đầy đủ" chủ yếu có ý nghĩa về mặt kinh tế và chính trị hơn là về mặt khoa học, bởi khi đã được công nhận là "nền kinh tế thị trường đầy đủ" thì người ta không nói đến thuật ngữ này nữa. "Nền kinh tế thị trường đầy đủ" thực chất chỉ là danh từ dùng để ám chỉ nền kinh tế của các quốc gia đã đạt được những tiêu chí của nền kinh tế thị trường theo quy định của một tổ chức, hoặc của một nhóm nước (chẳng hạn EU) hay của quốc gia thành viên trong một hiệp định (chẳng hạn WTO) trước hoặc sau khi hết thời hạn thỏa thuận về giai đoạn bị coi là nền kinh tế phi thị trường. Nói cách khác, việc đặt ra thời điểm công nhận nền kinh tế của một quốc gia là "nền kinh tế thị trường đầy đủ" chỉ nhằm ràng buộc có điểu kiện đối với quốc gia gia nhập và xác định khoảng thời gian để quốc gia bị coi là nền kinh tế phi thị trường đó tăng cường cải cách theo hướng mở cửa thị trường. Thay vì quy định cụ thể về "nền kinh tế thị trường đầy đủ", các nước tiếp cận bằng cách đặt ra tiêu chí xác định và cách đối xử đối với các nền kinh tế bị coi là phi thị trường. Các quốc gia có các dấu hiệu phản ánh tính phi thị trường do họ quy định hoặc có tên trong danh sách các nền kinh tế phi thị trường thì không được công nhận là nền kinh tế thị trường.
Sự ra đời của thỏa thuận mang tính quốc tế về quy ước nền kinh tế phi thị trường khởi nguồn chính trong quá trình các nước ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) khắc phục hạn chế của sự thiếu quy định về xác định giá đúng ở những nước bị coi là có nền kinh tế do nhà nước kiểm soát bằng cách áp dụng một phương pháp đặc biệt (được gọi là cách tiếp cận nước thay thế) để xác định giá trị thông thường trong các cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan đến việc Ba Lan gia nhập vào năm 1967 . Dựa vào Điều khoản bổ sung thứ hai vào đoạn 1.2 của Điều VI của GATT 1947, một số thành viên của Hiệp định GATT đã cho rằng giá và chi phí sản xuất của hàng hóa tại các nền kinh tế phi thị trường được điều chỉnh bởi Chính phủ và do đó, không theo quy luật của thị trường, nên họ không chấp nhận giá hay chi phí sản xuất thực tế của hàng hóa tại quốc gia xuất khẩu như là một cơ sở thích hợp cho việc tính toán giá trị thông thường. Thay vào đó, cơ quan điều tra sẽ sử dụng giá và chi phí sản xuất của hàng hóa tại một quốc gia khác có nền kinh tế thị trường và được cho là tương tự, phù hợp để làm cơ sở tính toán cho giá thông thường . Sau đó, phương pháp tiếp cận nước thay thế được áp dụng rộng rãi không chỉ trong quan hệ giữa các nước ký kết hiệp định GATT, mà cả với các nước không phải thành viên của GATT, và đến khi ra đời WTO thì phương pháp này tiếp tục được duy trì. Tuy nhiên, Hiệp định của WTO cũng như Hiệp định về chống bán phá giá của WTO không quy định các tiêu chí cho việc xác định nền kinh tế thị trường. Các quốc gia được tự quy định về các tiêu chí của nền kinh tế thị trường trong pháp luật của quốc gia .
Liên minh châu  u và Hoa Kỳ sử dụng Quy chế nền kinh tế phi thị trường để điều chỉnh quan hệ với những nước mà họ chưa công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ. Tuy nhiên, tiêu chí để đánh giá nền kinh tế phi thị trường của Liên minh châu  u và Hoa Kỳ không giống nhau. Quy chế nền kinh tế phi thị trường được Hoa Kỳ và EU đặt ra là một quyết định mang tính chính trị hơn là trên cơ sở kinh tế 
Căn cứ vào ngữ nghĩa của khoản 771 (18) (B) của Luật Thuế 1930 sửa đổi, Bộ Thương mại Hoa Kỳ dựa vào sáu tiêu chí để xác định Việt Nam có nền kinh tế thị trường hay phi thị trường. Các tiêu chí đó bao gồm: 

(1) Mức độ mà đồng tiền của nước ngoài đó có thể chuyển đổi sang đồng tiền của các nước khác; 

(2) Mức độ mà các mức tiền công lao động ở nước ngoài đó được xác định bởi sự thương lượng tự do giữa người lao động và giới quản lý; 

(3) Mức độ mà các liên doanh hoặc các dạng đầu tư khác của các doanh nghiệp từ các nước khác được phép hoạt động ở nước ngoài đó; (4) Mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của Chính phủ đối với các phương tiện sản xuất; (5) Mức độ kiểm soát của Chính phủ đối với sự phân bổ các nguồn lực và đối với các quyết định về giá cả và sản lượng của doanh nghiệp; (6) Những yếu tố khác mà cơ quan quản lý thấy phù hợp. Trên cơ sở đó, Hoa Kỳ đưa ra những lý do không công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường [Về lý do Hoa Kỳ coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường dẫn theo 5453]
Trong quy định về chống bán phá giá của Liên minh châu  u không có định nghĩa về một nền kinh tế thị trường hay nền kinh tế phi thị trường. Tiêu chí xác định các nước không phải kinh tế thị trường để áp dụng trong điều tra chống bán phá giá được nêu tại Điều 2 (điểm 7) Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng Châu  u. Sau đó, Điều 2 (điểm 7) Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 1 Quy định của Hội đồng số 905/98 ngày 27/4/1998 sửa đổi Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng Châu  u [98]. Trong các quy định nói trên của Liên minh châu  u thường có liệt kê danh sách các nước bị coi là nền kinh tế phi thị trường. Danh sách này được Liên minh châu  u rà soát và thay đổi theo hướng loại bỏ những nước đã đáp ứng được tiêu chuẩn kinh tế thị trường theo tiêu chí đánh giá của họ. Trong Quy định của Hội đồng số 905/98 ngày 27/4/1998, Việt Nam cùng với các quốc gia khác là Albania, Armenia, Azerbaijan, Belarus, Georgia, Kazakhstan, North Korea, Kyrgyzstan, Moldova, Mongolia, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraine, Uzbekistan có tên trong danh sách các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường. Trong danh sách này, không còn Nga và Trung Quốc như trước đó. Hiện nay, tiêu chí xác định nền kinh tế phi thị trường được quy định ở Điều 2 khoản 7c Quy định của Hội đồng số 1225/2009 ngày 30/11/2009 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Liên minh Châu âu. Theo quy định này, Liên minh châu  u dựa vào các tiêu chí sau để đánh giá mức độ đáp ứng thị trường [khoản 7c điều 2 của 99]:
-  Doanh nghiệp liên quan đến các quyết định của chúng về giá cả, chi phí và đầu vào, bao gồm cả ví dụ nguyên vật liệu, chi phí công nghệ và lao động, sản lượng, người bán và các nhà đầu tư trên cơ sở các tín hiệu thị trường phản ánh cung cầu, và không có sự can thiệp của nhà nước liên quan đến các vấn đề đó. Ở đó, chi phí đầu vào quan trọng nhất chủ yếu phải dựa trên giá trị thị trường.
-   Doanh nghiệp sử dụng chế độ kế toán riêng ghi chép rõ ràng được kiểm toán độc lập theo chuẩn mực kế toán quốc tế và được áp dụng cho tất cả các ngành.
-  Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của doanh nghiệp không bị bóp méo nghiêm trọng bởi hệ thống kinh tế phi thị trường trước đó, trước hết ở phương diện khấu hao tài sản, khấu hao khác, thương mại hàng đổi hàng và thanh toán thông qua bù trừ công nợ.
-  Các doanh nghiệp đặt dưới các quy định sở hữu và phá sản bảo đảm sự an toàn pháp lý và sự bền vững đối với quản trị doanh nghiệp.
-  Chuyển đổi tiền tệ diễn ra theo giá thị trường.
Quy định của WTO về thời gian quá độ được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ không chỉ áp dụng riêng cho nước ta mà đối với nhiều quốc gia khác, trong đó có Trung Quốc, Nga và một số nước khác đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Những nước chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ sẽ gặp nhiều bất lợi trong quan hệ thương mại quốc tế, trước hết là trong các vụ kiện chống bán phá giá [54]. Hoa Kỳ và Liên minh châu  u sử dụng Quy chế nền kinh tế phi thị trường để điều tra chống bán phá giá. Ở đó, các nền kinh tế phi thị trường bị chịu thêm sự đánh giá khắt khe bởi cách tiếp cận nước thay thế thiếu tính khách quan được nước nhập khẩu sử dụng trong xác định giá thông thường trong các cuộc điều tra chống bán phá giá. Theo đó, bên khởi kiện của nước nhập khẩu có thể lựa chọn một nền kinh tế thị trường để thay thế cho nước mà họ cho là phi thị trường. Giá cả ở nước thay thế được sử dụng để đại diện cho giá trong nước của nền kinh tế phi thị trường. Trong khi đó, các yếu tố để hình thành giá ở các nước là không thể giống nhau. Sự so sánh giá trong các điều kiện không tương đương giữa các nước như vậy làm mất đi tính công bằng và chính xác của sự đánh giá. Nhiều khi còn có sự tùy tiện trong việc lựa chọn nước thay thế và so sánh các sản phẩm không giống nhau giữa các nước .
Như vậy, nền kinh tế thị trường đầy đủ trước hết phải là nền kinh tế thị trường với những thành tố cần thiết phải có của nó. Nền kinh tế thị trường đầy đủ không phải mô hình hay trình độ phát triển cao hơn của nền kinh tế thị trường đang tồn tại ở nhiều quốc gia phát triển. Ngày nay, trên cơ sở lý thuyết về kinh tế thị trường, các quốc gia vận dụng và xây dựng cho mình mô hình kinh tế thị trường thích hợp. Có nhiều sự phân nhóm khác nhau về các mô hình kinh tế thị trường. Chẳng hạn, theo tiêu chí kết hợp giữa nhà nước, thị trường và xã hội, có người khái quát các mô hình phát triển kinh tế tiêu biểu như mô hình thị trường tự do, mô hình Đông Á, mô hình tư bản nhà nước mà Trung Quốc đang thực hiện, mô hình Đông Nam Á, mô hình phúc lợi xã hội và mô hình kế hoạch hóa tập trung. Phần lớn ý kiến cho rằng, ở mức độ khái quát, trên thế giới có mô hình kinh tế thị trường tự do, mô hình kinh tế thị trường xã hội và mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường đầy đủ không phải mô hình nằm ngoài các mô hình nói trên.
Kinh tế thị trường là mô hình phát triển kinh tế được hầu hết các nền kinh tế trên thế giới hiện nay đang hướng tới và áp dụng. Khái niệm kinh tế thị trường đã được nhiều ngành khoa học, trước hết là trong kinh tế học, giải thích. Trong nhận thức người dân, đôi khi có những người không hiểu kinh tế thị trường là gì, nhưng kinh tế thị trường không còn là thuật ngữ xa lạ đối với họ. Có nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về kinh tế thị trường và trên thực tế trên thế giới có nhiều mô hình kinh tế thị trường hay biến thể khác nhau của kinh tế thị trường. Mặc dù vậy, vẫn có thể nhận ra những điểm chung mang tính phổ biến trong nhận thức về kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ. Kinh tế thị trường diễn tả một thể chế kinh tế, ở đó sản xuất và phân phối của hàng hóa và dịch vụ được giao dịch hoặc trao đổi tự do thông qua hợp đồng. Nói đến kinh tế thị trường người ta liên tưởng ngay đến thể chế kinh tế, ở đó có sự đa dạng của nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân, cùng nhiều loại hình chủ thể kinh doanh độc lập trong môi trường tự do kinh doanh và cạnh tranh. Kinh tế thị trường đầy đủ sẽ phải đáp ứng và phản ánh đầy đủ các yếu tố nói trên.
Các yếu tố cần phải có của kinh tế thị trường đầy đủ bao gồm:
-  Sự hiện diện đầy đủ và đồng bộ của tất cả các loại thị trường như thị trường hàng hóa và dịch vụ (phục vụ kinh doanh và tiêu dùng), thị trường bất động sản, thị trường sức lao động, thị trường tài chính (thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán), thị trường thị trường khoa học và công nghệ.
-  Sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân.
-  Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức kinh doanh và chủ thể kinh doanh.
-  Các nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh và công bằng.

Theo: Trương Công Đắc 
Link luận án: Tại đây

 

 

avatar
Đặng Quỳnh
966 ngày trước
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI THỦ TỤC PHÁP LÝ VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
2.1.   Kinh tế thị trường đầy đủ và yêu cầu đối với thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân2.1.1.   Quan niệm về kinh tế thị trường đầy đủMột trong những ràng buộc đối với nước ta khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là Việt Nam việc bị coi là nền kinh tế phi thị trường (NME) trong vòng 12 năm kể từ ngày gia nhập (đến 31/12/2018). Hết thời gian bị coi là nền kinh tế phi thị trường, nền kinh tế của Việt Nam đương nhiên được coi là nền kinh tế thị trường đầy đủ. Trước thời điểm 31/12/2018, nếu Việt Nam chứng minh được với các đối tác là kinh tế hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ "phi thị trường" đối với Việt Nam. Chính vì vậy, ngay sau khi gia nhập WTO nước ta đã tăng cường cải cách, vận động các nước đối tác công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ. Tính đến hết năm 2015, Việt Nam đã được 59 quốc gia công nhận có nền kinh tế thị trường [6]. Ngoài ra, một quốc gia chưa được công nhận là có nền kinh tế thị trường đầy đủ thì không có nghĩa là tất cả các ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế của quốc gia đó đều bị coi là "phi thị trường". Nói cách khác, nhà sản xuất, nhà xuất khẩu của nước đó nếu chứng minh được rằng, mình hoạt động trong những điều kiện của nền kinh tế thị trường và không bị can thiệp quá nhiều từ Chính phủ thì nhà sản xuất, nhà xuất khẩu đó vẫn được đối xử như những doanh nghiệp khác từ các nước đã được công nhận có nền kinh tế thị trường.Như vậy, thuật ngữ "nền kinh tế thị trường đầy đủ" chủ yếu có ý nghĩa về mặt kinh tế và chính trị hơn là về mặt khoa học, bởi khi đã được công nhận là "nền kinh tế thị trường đầy đủ" thì người ta không nói đến thuật ngữ này nữa. "Nền kinh tế thị trường đầy đủ" thực chất chỉ là danh từ dùng để ám chỉ nền kinh tế của các quốc gia đã đạt được những tiêu chí của nền kinh tế thị trường theo quy định của một tổ chức, hoặc của một nhóm nước (chẳng hạn EU) hay của quốc gia thành viên trong một hiệp định (chẳng hạn WTO) trước hoặc sau khi hết thời hạn thỏa thuận về giai đoạn bị coi là nền kinh tế phi thị trường. Nói cách khác, việc đặt ra thời điểm công nhận nền kinh tế của một quốc gia là "nền kinh tế thị trường đầy đủ" chỉ nhằm ràng buộc có điểu kiện đối với quốc gia gia nhập và xác định khoảng thời gian để quốc gia bị coi là nền kinh tế phi thị trường đó tăng cường cải cách theo hướng mở cửa thị trường. Thay vì quy định cụ thể về "nền kinh tế thị trường đầy đủ", các nước tiếp cận bằng cách đặt ra tiêu chí xác định và cách đối xử đối với các nền kinh tế bị coi là phi thị trường. Các quốc gia có các dấu hiệu phản ánh tính phi thị trường do họ quy định hoặc có tên trong danh sách các nền kinh tế phi thị trường thì không được công nhận là nền kinh tế thị trường.Sự ra đời của thỏa thuận mang tính quốc tế về quy ước nền kinh tế phi thị trường khởi nguồn chính trong quá trình các nước ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) khắc phục hạn chế của sự thiếu quy định về xác định giá đúng ở những nước bị coi là có nền kinh tế do nhà nước kiểm soát bằng cách áp dụng một phương pháp đặc biệt (được gọi là cách tiếp cận nước thay thế) để xác định giá trị thông thường trong các cuộc điều tra chống bán phá giá liên quan đến việc Ba Lan gia nhập vào năm 1967 . Dựa vào Điều khoản bổ sung thứ hai vào đoạn 1.2 của Điều VI của GATT 1947, một số thành viên của Hiệp định GATT đã cho rằng giá và chi phí sản xuất của hàng hóa tại các nền kinh tế phi thị trường được điều chỉnh bởi Chính phủ và do đó, không theo quy luật của thị trường, nên họ không chấp nhận giá hay chi phí sản xuất thực tế của hàng hóa tại quốc gia xuất khẩu như là một cơ sở thích hợp cho việc tính toán giá trị thông thường. Thay vào đó, cơ quan điều tra sẽ sử dụng giá và chi phí sản xuất của hàng hóa tại một quốc gia khác có nền kinh tế thị trường và được cho là tương tự, phù hợp để làm cơ sở tính toán cho giá thông thường . Sau đó, phương pháp tiếp cận nước thay thế được áp dụng rộng rãi không chỉ trong quan hệ giữa các nước ký kết hiệp định GATT, mà cả với các nước không phải thành viên của GATT, và đến khi ra đời WTO thì phương pháp này tiếp tục được duy trì. Tuy nhiên, Hiệp định của WTO cũng như Hiệp định về chống bán phá giá của WTO không quy định các tiêu chí cho việc xác định nền kinh tế thị trường. Các quốc gia được tự quy định về các tiêu chí của nền kinh tế thị trường trong pháp luật của quốc gia .Liên minh châu  u và Hoa Kỳ sử dụng Quy chế nền kinh tế phi thị trường để điều chỉnh quan hệ với những nước mà họ chưa công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ. Tuy nhiên, tiêu chí để đánh giá nền kinh tế phi thị trường của Liên minh châu  u và Hoa Kỳ không giống nhau. Quy chế nền kinh tế phi thị trường được Hoa Kỳ và EU đặt ra là một quyết định mang tính chính trị hơn là trên cơ sở kinh tế Căn cứ vào ngữ nghĩa của khoản 771 (18) (B) của Luật Thuế 1930 sửa đổi, Bộ Thương mại Hoa Kỳ dựa vào sáu tiêu chí để xác định Việt Nam có nền kinh tế thị trường hay phi thị trường. Các tiêu chí đó bao gồm: (1) Mức độ mà đồng tiền của nước ngoài đó có thể chuyển đổi sang đồng tiền của các nước khác; (2) Mức độ mà các mức tiền công lao động ở nước ngoài đó được xác định bởi sự thương lượng tự do giữa người lao động và giới quản lý; (3) Mức độ mà các liên doanh hoặc các dạng đầu tư khác của các doanh nghiệp từ các nước khác được phép hoạt động ở nước ngoài đó; (4) Mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của Chính phủ đối với các phương tiện sản xuất; (5) Mức độ kiểm soát của Chính phủ đối với sự phân bổ các nguồn lực và đối với các quyết định về giá cả và sản lượng của doanh nghiệp; (6) Những yếu tố khác mà cơ quan quản lý thấy phù hợp. Trên cơ sở đó, Hoa Kỳ đưa ra những lý do không công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường [Về lý do Hoa Kỳ coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường dẫn theo 5453]Trong quy định về chống bán phá giá của Liên minh châu  u không có định nghĩa về một nền kinh tế thị trường hay nền kinh tế phi thị trường. Tiêu chí xác định các nước không phải kinh tế thị trường để áp dụng trong điều tra chống bán phá giá được nêu tại Điều 2 (điểm 7) Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng Châu  u. Sau đó, Điều 2 (điểm 7) Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 1 Quy định của Hội đồng số 905/98 ngày 27/4/1998 sửa đổi Quy định của Hội đồng số 384/96 ngày 22/12/1995 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Cộng đồng Châu  u [98]. Trong các quy định nói trên của Liên minh châu  u thường có liệt kê danh sách các nước bị coi là nền kinh tế phi thị trường. Danh sách này được Liên minh châu  u rà soát và thay đổi theo hướng loại bỏ những nước đã đáp ứng được tiêu chuẩn kinh tế thị trường theo tiêu chí đánh giá của họ. Trong Quy định của Hội đồng số 905/98 ngày 27/4/1998, Việt Nam cùng với các quốc gia khác là Albania, Armenia, Azerbaijan, Belarus, Georgia, Kazakhstan, North Korea, Kyrgyzstan, Moldova, Mongolia, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraine, Uzbekistan có tên trong danh sách các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường. Trong danh sách này, không còn Nga và Trung Quốc như trước đó. Hiện nay, tiêu chí xác định nền kinh tế phi thị trường được quy định ở Điều 2 khoản 7c Quy định của Hội đồng số 1225/2009 ngày 30/11/2009 về việc bảo vệ chống lại hàng nhập khẩu bán phá giá từ các quốc gia không phải là thành viên của Liên minh Châu âu. Theo quy định này, Liên minh châu  u dựa vào các tiêu chí sau để đánh giá mức độ đáp ứng thị trường [khoản 7c điều 2 của 99]:-  Doanh nghiệp liên quan đến các quyết định của chúng về giá cả, chi phí và đầu vào, bao gồm cả ví dụ nguyên vật liệu, chi phí công nghệ và lao động, sản lượng, người bán và các nhà đầu tư trên cơ sở các tín hiệu thị trường phản ánh cung cầu, và không có sự can thiệp của nhà nước liên quan đến các vấn đề đó. Ở đó, chi phí đầu vào quan trọng nhất chủ yếu phải dựa trên giá trị thị trường.-   Doanh nghiệp sử dụng chế độ kế toán riêng ghi chép rõ ràng được kiểm toán độc lập theo chuẩn mực kế toán quốc tế và được áp dụng cho tất cả các ngành.-  Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của doanh nghiệp không bị bóp méo nghiêm trọng bởi hệ thống kinh tế phi thị trường trước đó, trước hết ở phương diện khấu hao tài sản, khấu hao khác, thương mại hàng đổi hàng và thanh toán thông qua bù trừ công nợ.-  Các doanh nghiệp đặt dưới các quy định sở hữu và phá sản bảo đảm sự an toàn pháp lý và sự bền vững đối với quản trị doanh nghiệp.-  Chuyển đổi tiền tệ diễn ra theo giá thị trường.Quy định của WTO về thời gian quá độ được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ không chỉ áp dụng riêng cho nước ta mà đối với nhiều quốc gia khác, trong đó có Trung Quốc, Nga và một số nước khác đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Những nước chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ sẽ gặp nhiều bất lợi trong quan hệ thương mại quốc tế, trước hết là trong các vụ kiện chống bán phá giá [54]. Hoa Kỳ và Liên minh châu  u sử dụng Quy chế nền kinh tế phi thị trường để điều tra chống bán phá giá. Ở đó, các nền kinh tế phi thị trường bị chịu thêm sự đánh giá khắt khe bởi cách tiếp cận nước thay thế thiếu tính khách quan được nước nhập khẩu sử dụng trong xác định giá thông thường trong các cuộc điều tra chống bán phá giá. Theo đó, bên khởi kiện của nước nhập khẩu có thể lựa chọn một nền kinh tế thị trường để thay thế cho nước mà họ cho là phi thị trường. Giá cả ở nước thay thế được sử dụng để đại diện cho giá trong nước của nền kinh tế phi thị trường. Trong khi đó, các yếu tố để hình thành giá ở các nước là không thể giống nhau. Sự so sánh giá trong các điều kiện không tương đương giữa các nước như vậy làm mất đi tính công bằng và chính xác của sự đánh giá. Nhiều khi còn có sự tùy tiện trong việc lựa chọn nước thay thế và so sánh các sản phẩm không giống nhau giữa các nước .Như vậy, nền kinh tế thị trường đầy đủ trước hết phải là nền kinh tế thị trường với những thành tố cần thiết phải có của nó. Nền kinh tế thị trường đầy đủ không phải mô hình hay trình độ phát triển cao hơn của nền kinh tế thị trường đang tồn tại ở nhiều quốc gia phát triển. Ngày nay, trên cơ sở lý thuyết về kinh tế thị trường, các quốc gia vận dụng và xây dựng cho mình mô hình kinh tế thị trường thích hợp. Có nhiều sự phân nhóm khác nhau về các mô hình kinh tế thị trường. Chẳng hạn, theo tiêu chí kết hợp giữa nhà nước, thị trường và xã hội, có người khái quát các mô hình phát triển kinh tế tiêu biểu như mô hình thị trường tự do, mô hình Đông Á, mô hình tư bản nhà nước mà Trung Quốc đang thực hiện, mô hình Đông Nam Á, mô hình phúc lợi xã hội và mô hình kế hoạch hóa tập trung. Phần lớn ý kiến cho rằng, ở mức độ khái quát, trên thế giới có mô hình kinh tế thị trường tự do, mô hình kinh tế thị trường xã hội và mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường đầy đủ không phải mô hình nằm ngoài các mô hình nói trên.Kinh tế thị trường là mô hình phát triển kinh tế được hầu hết các nền kinh tế trên thế giới hiện nay đang hướng tới và áp dụng. Khái niệm kinh tế thị trường đã được nhiều ngành khoa học, trước hết là trong kinh tế học, giải thích. Trong nhận thức người dân, đôi khi có những người không hiểu kinh tế thị trường là gì, nhưng kinh tế thị trường không còn là thuật ngữ xa lạ đối với họ. Có nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về kinh tế thị trường và trên thực tế trên thế giới có nhiều mô hình kinh tế thị trường hay biến thể khác nhau của kinh tế thị trường. Mặc dù vậy, vẫn có thể nhận ra những điểm chung mang tính phổ biến trong nhận thức về kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo các quy luật của thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ. Kinh tế thị trường diễn tả một thể chế kinh tế, ở đó sản xuất và phân phối của hàng hóa và dịch vụ được giao dịch hoặc trao đổi tự do thông qua hợp đồng. Nói đến kinh tế thị trường người ta liên tưởng ngay đến thể chế kinh tế, ở đó có sự đa dạng của nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân, cùng nhiều loại hình chủ thể kinh doanh độc lập trong môi trường tự do kinh doanh và cạnh tranh. Kinh tế thị trường đầy đủ sẽ phải đáp ứng và phản ánh đầy đủ các yếu tố nói trên.Các yếu tố cần phải có của kinh tế thị trường đầy đủ bao gồm:-  Sự hiện diện đầy đủ và đồng bộ của tất cả các loại thị trường như thị trường hàng hóa và dịch vụ (phục vụ kinh doanh và tiêu dùng), thị trường bất động sản, thị trường sức lao động, thị trường tài chính (thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán), thị trường thị trường khoa học và công nghệ.-  Sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân.-  Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức kinh doanh và chủ thể kinh doanh.-  Các nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh lành mạnh và công bằng.Theo: Trương Công Đắc Link luận án: Tại đây