Giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hòa giải trực tuyến và tăng cường áp dụng hòa giải trực tuyến tại Việt Nam
4.2. Giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hòa giải trực tuyến và tăng cường áp dụng hòa giải trực tuyến tại Việt Nam
Chúng ta không nghi ngờ về tiềm năng của HGTT, tuy nhiên, khi đánh giá về tính khả thi và hiệu quả của HGTT, sẽ dẫn đến kết quả khác nhau giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Sự thành công của HGTT sẽ phụ thuộc vào một số điều, chẳng hạn như tăng cường cơ sở hạ tầng và tăng cường sự tiếp cận với Internet, giáo dục người dân để việc tiếp cận này là có ý nghĩa, và thúc đẩy để tận dụng những lợi ích của HGTT và từ đó người dân có niềm tin vào khả năng của HGTT trong việc cung cấp một dịch vụ giải quyết tranh chấp. Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu liệu có thể áp dụng và thúc đẩy HGTT tại Việt Nam không? Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước cũng như thực trạng tại Việt Nam, thì có thể khẳng định rằng, Việt Nam có thể áp dụng HGTT và việc áp dụng HGTT tại Việt Nam có ý nghĩa lớn trong đời sống xã hội nhưng để việc giải quyết này được thực hiện một cách có hiệu quả, chất lượng cao và việc giải quyết dễ thi hành được trong cuộc sống.
4.2.1. Giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật hòa giải trực tuyến
- Hoàn thiện pháp luật về hòa giải thương mại: để phát triển HGTT trước hết phải hoàn thiện pháp luật về hòa giải thương mại trong đó cần nâng tầm hòa giải thương mại thành một đạo luật độc lập để mở rộng phạm vi của hòa giải. Hiện nay, phương thức hòa giải đang được qui định ở rất nhiều Luật như Luật hòa giải ở cơ sở, Luật hòa giải đối thoại tại tòa án hay các trong luật chuyên ngành cụ thể như Luật Lao động, Luật giao dịch điện tử, cho thấy Việt Nam có sự quan tâm rất lớn về phương thức hòa giải, tuy nhiên đối với hòa giải thương mại thì bị bó hẹp bởi khuôn khổ nghị định thuộc Luật Thương mại, vì vậy cần xây dựng một đạo luật độc lập để có thể áp dụng hòa giải cho tất cả các lĩnh vực, nhằm khắc phục những khoảng trống về hòa giải đang bị bỏ lỡ, ví dụ như hòa giải của sàn TMĐT đối với các bên trong giao dịch TMĐT. Quan điểm này của tác giả cũng tương đồng với quan điểm của các chuyên gia, trung tâm hòa giải thương mại tham gia trong cuộc trả lời phỏng vấn mà tác giả thực hiện (Phụ lục 2). Bên cạnh đó cũng vần nghiên cứu sửa đổi Luật Thương mại năm 2005 theo hướng mở rộng khái niệm “hoạt động thương mại” phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, qua đó, mở rộng phạm vi giải quyết tranh chấp của hòa giải thương mại trực tuyến.
Thứ hai, với đặc điểm dựa trên ý chí của các bên, do đó khi triển khai hòa giải thời gian có thể bị kéo dài nhưng không đi được đến kết quả cuối cùng và ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện do đó không thu hút được sự quan tâm của doanh nghiệp, vì vậy cần qui định tạm ngừng tính thời hiệu khởi kiện như theo Luật mẫu UNCITRAL về hòa giải thương mại quốc tế khuyến nghị, đồng thời xây dựng qui chế về trách nhiệm bảo mật khi tham gia hòa giải. Trong đó qui định rõ về nghĩa vụ giữ bí mật của các bên cả trong quá trình hòa giải và sau hòa giải, về “các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải”. Theo Hướng dẫn triển khai và sử dụng Luật mẫu UNCITRAL về Hòa giải thương mại quốc tế 2002, những thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải không chỉ là các thông tin được cung cấp trong quá trình hòa giải mà còn bao gồm cả thông tin về diễn biến và kết quả của quá trình hòa giải, cũng như các nội dung liên quan đến hòa giải được xử lý trước khi ký thỏa thuận hòa giải, chẳng hạn như: các cuộc thảo luận liên quan đến cơ hội hòa giải, các điều khoản của thỏa thuận hòa giải, sự lựa chọn hòa giải viên, đề nghị hòa giải và việc chấp nhận hay từ chối đề nghị hòa giải. Như vậy, Việt Nam cần đưa ra quy định liệt kê rõ các loại thông tin,tài liệu các bên có nghĩa vụ bảo mật bao gồm toàn bộ các trao đổi, tài liệu phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp (kể cả trước, trong và sau quá trình giải quyết tranh chấp), thông tin từ các cuộc họp, các đề xuất trao đổi, giải pháp của bất kỳ bên nào để giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, cần bổ sung các qui định về đào tạo, bồi dưỡng hòa giải viên. Hòa giải viên không giống như trọng tài viên hay thẩm phán, những người dựa trên qui định pháp luật để GQTC, để đạt được kết quả hòa giải thành một vụ việc, hòa giải viên không chỉ phải là người hiểu luật mà còn cần nắm bắt được tâm lý của các bên, các kỹ năng tiếp cận, kiểm soát cảm xúc, khai thác thông tin, vì vậy tiêu chuẩn của hòa giải viên cần phải được qui định chặt chẽ hơn so với hiện nay.
- Hoàn thiện pháp luật về giao dịch điện tử: HGTT là sự kết hợp giữa hòa giải và trực tuyến, vì vậy pháp luật về giao dịch điện tử sẽ là nền tảng để hoàn thiện pháp luật HGTT. Do đó, cần bổ sung những qui định cụ thể hướng dẫn việc giao kết hợp đồng điện tử, đây là tiền đề cho sự phòng ngừa những tranh chấp có thể xảy ra trong giao dịch TMĐT, cụ thể Luật GDĐT năm 2005 quy định tại chương VII về GQTC và xử lý vi phạm tại Điều 50,51 và 53 tuy nhiên mới chỉ quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến các GDĐT chưa có quy định cụ thể về GQTC phát sinh từ, hoặc liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng TMĐT. Quy định rõ ràng cần được bổ sung để các tổ chức, các nhận tham gia vào hợp đồng TMĐT tránh được những rủi ro về mặt pháp lý đồng thời có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bổ sung các quy định về việc thu thập, lưu giữ chứng cứ điện tử để bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động TMĐT.
- Xây dựng các qui định về HGTT: mặc dù HGTT vẫn đang được triển khai tại Việt Nam tuy nhiên việc thiếu vắng những qui định minh thị về HGTT sẽ làm cho các bên e ngại trong việc lựa chọn phương thức này cũng như tăng thêm thủ tục, qui trình xác nhận tham gia bằng trực tuyến của các bên. Do đó, cần có qui định cụ thể về phương thức này để tạo niềm tin cho các bên cũng như cơ sở pháp lý để HGTT phát triển. Với đề xuất đưa hòa giải thương mại thành một đạo luật độc lập, trong đó nên xây dựng một chương về HGTT. Trong chương về HGTT thì cần có qui định về thỏa thuận HGTT, quyền riêng tư, bí mật, hòa giải viên và các bên trong HGTT, qui trình HGTT, tổ chức quản lý và nhiệm vụ của trung tâm HGTT, chứng cứ trong HGTT, công nhận và cho thi hành quyết định của HGTT. Cụ thể, cần đảm bảo rằng thỏa thuận hòa giải trực tuyến có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý và có hiệu lực thi hành, đồng thời thỏa thuận này đáp ứng các yêu cầu đối với hợp đồng điện tử theo luật hiện hành. Điều này có thể bao gồm việc đảm bảo rằng các bên đã đồng ý với các điều khoản của thỏa thuận, rằng thỏa thuận rõ ràng và không mơ hồ, và rằng các bên đã có cơ hội xem xét và hiểu các điều khoản của thỏa thuận.
Đối với quyền riêng tư, bí mật, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hòa giải trực tuyến vì thông tin cá nhân và thông tin nhạy cảm có thể được chia sẻ giữa các bên và hòa giải viên. Pháp luật HGTT phải qui định nhằm đảm bảo rằng các nền tảng GQTC tuân thủ tất cả các luật hiện hành về quyền riêng tư dữ liệu, bao gồm cả những luật liên quan đến bảo vệ dữ liệu, lưu giữ dữ liệu và bảo mật dữ liệu. Điều này có thể bao gồm việc triển khai các biện pháp để bảo vệ dữ liệu, chẳng hạn như sử dụng mã hóa, đảm bảo lưu trữ dữ liệu an toàn và hạn chế quyền truy cập vào dữ liệu..
Cũng cần lưu ý về vấn đề phân biết đối xử, cần có qui định đảm bảo rằng nền tảng HGTT có thể truy cập được đối với tất cả các bên, bao gồm cả những người khuyết tật. Đảm bảo rằng nền tảng được thiết kế thân thiện với người dùng và hỗ trợ kỹ thuật luôn sẵn sàng cho những ai cần. Ngoài ra, pháp luật HGTT cần đảm bảo rằng nền tảng GQTC này phải tuân thủ tất cả các luật bảo vệ người tiêu dùng hiện hành, bao gồm cả những luật liên quan đến quảng cáo, tiếp thị và quyền của người tiêu dùng. Điều này có thể bao gồm việc cung cấp thông tin rõ ràng và chính xác về các dịch vụ được cung cấp, đảm bảo rằng phí dịch vụ là minh bạch và hợp lý, đồng thời cung cấp thông tin rõ ràng và dễ tiếp cận về quyền và nghĩa vụ của các bên.
- Xây dựng các tiêu chuẩn về hòa giải viên tham gia HGTT: kỹ năng khi giải quyết bằng trực tuyến sẽ khác với kỹ năng hòa giải trực tiếp, cần bổ sung các qui định về yêu cầu đối với hòa giải viên tham gia HGTT phải có các kỹ năng công nghệ thông tin và kỹ năng, trình độ hòa giải bằng trực tuyến. Yêu cầu này có thể thực hiện thông qua việc qui định số giờ đào tạo và nội dung đào tạo đối với hòa giải viên hoặc phát triển một quy trình để kiểm tra và lựa chọn những người hòa giải đủ điều kiện, đồng thời đảm bảo rằng nền tảng của bạn cung cấp đầy đủ đào tạo và hỗ trợ cho những người HGTT
- Xây dựng tiêu chuẩn của các trung tâm HGTT: Tại Việt Nam, một số trung tâm hòa giải đã triển khai HGTT như Trung tâm hòa giải thương mại quốc tế Việt Nam (VICMC), trung tâm hòa giải Việt Nam (VMC), Trung tâm trọng tài quốc tế Hà Nội (HIAC), tuy nhiên việc thiếu vắng các qui định về tiêu chuẩn liên quan đến qui trình bảo mật thông tin khi áp dụng HGTT, đặc biệt qui định trách nhiệm cụ thể của các trung tâm trong việc bảo mật thông tin trong quá trình HGTT
- Xây dựng qui định chứng nhận các website cung cấp dịch vụ HGTT: với xu hướng phát triển của hòa giải, đã có rất nhiều trung tâm hòa giải được thành lập, cũng như các website của các công ty, sàn thương mại điện tử cũng có các chức năng HGTT. Tuy nhiên, cần phải có cơ chế giám sát và đánh giá hoạt động của các website cung cấp các dịch vụ HGTT để bảo vệ người tiêu dung.
- Xây dựng hệ thống trực tuyến về công nhận và thi hành quyết định hòa giải thành: HGTT được áp dụng nhưng quá trình công nhận và thi hành quyết định HGTT sẽ gặp khó khăn vì thiếu vắng qui định về hệ thống trực tuyến về công nhận và cho thi hành quyết định hòa giải thành ví dụ thủ tục nộp trực tuyến biên bản hòa giải thành, xác nhận chữ ký điện tử của các bên, cách tính phí và phương thức nộp phí của tòa qua internet, cũng như phát sinh những chi phí không cần thiết cho các bên tranh chấp, nhất là những trường hợp đương sự có sự xa cách về địa lý. Do đó, để HGTT thực sự trở thành một chu trình trực tuyến khép kín, các qui định về công nhận và thi hành quyết định HGTT cần ban hành, ví dụ xây dựng hệ thống tòa án điện tử. Tuy nhiên, để thực hiện được điều này cần phải bảo đảm được những yếu tố về CNTT và truyền thông cũng như nguồn nhân lực, mà cụ thể là đội ngũ cán bộ, công chức tòa án. Ngoài ra cần phải xây dựng được quy trình, trình tự tố tụng cho việc giải quyết trực tuyến bởi việc giải quyết trực tuyến có nhiều điểm khác so với phương thức giải quyết truyền thống.
- Pháp luật tố tụng dân sự cũng cần quy định về thủ tục rút gọn thời gian giải quyết đối với các vụ án kinh doanh thương mại có sử dụng một phần hay toàn bộ bằng phương tiện điện tử để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Đồng thời BLTTDS phải bổ sung các quy định về thu thập chứng cứ điện tử để đảm bảo tính xác thực, tính hợp pháp để chứng minh cho các yêu cầu của các đương sự trong quá trình GQTC.
- Việt Nam cũng cần tích cực thúc đẩy quá trình tham gia các điều ước quốc tế về hòa giải thương mại và các điều quốc tế khác: Công ước Singapore về hòa giải, nhằm tiến tới công nhận và cho thi hành các quyết định hòa giải sẽ xuyên biên giới cũng sẽ là tiền đề cho HGTT phát triển trên thế giới, vì vậy Việt Nam cần nhanh chóng đánh giá tác động của công ước này và sớm gia nhập công ước. Ngoài ra, cần quan tâm và xem xét gia nhập Công ước về việc sử dụng thông tin điện tử trong hợp đồng quốc tế (United Nations Convention on the Use of Electronic Communications in International Contracts), được Hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào ngày 25 tháng 11 năm 2005 nhằm mục đích cung cấp giải pháp cho các vấn đề phát sinh từ việc sử dụng thông tin điện tử trong giao dịch, ký kết hợp đồng thương mại quốc tế, buôn bán quốc tế thông qua công nghệ mới như thư điện tử, trao đổi dữ liệu điện tử và sử dụng mạng Internet.
Công ước áp dụng cho các hợp đồng quốc tế mà các bên tham gia có trụ sở ở hai nước khác nhau, nhưng không nhất thiết cả hai quốc gia này đều là thành viên của Công ước. Công ước về sử dụng thông tin điện tử trong hợp đồng quốc tế có những nội dung cơ bản: (i) Công ước khẳng định giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử; (ii) Công ước đưa ra quy định giải quyết lỗi phát sinh khi được nhập vào hệ thống trong quá trình giao dịch điện tử; (iii) Công ước đưa ra yêu cầu về hình thức của hợp đồng TMĐT; (iv) Quy định thời điểm và địa điểm gửi, nhận thông tin điện tử. Nói tóm lại, về nội dung, Công ước về sử dụng thông tin điện tử trong hợp đồng quốc tế đã đưa ra các tiêu chuẩn để đảm bảo giá trị pháp lý ngang nhau giữa văn bản giấy và văn bản điện tử trong các giao dịch quốc tế. Công ước được đánh giá là một công cụ pháp lý quan trọng nhằm tăng cường buôn bán quốc tế trên cơ sở tận dụng ưu thế mạng Internet toàn cầu. Việc gia nhập Công ước này cũng sẽ giúp loại bỏ sự e ngại về tính hợp pháp của dữ liệu điện tử giữa các giao dịch xuyên biên giới.
4.2.2. Giải pháp tăng cường áp dụng hòa giải trực tuyến
4.2.2.1. Giải pháp đối với doanh nghiệp
Để việc HGTT đạt hiệu quả cao, bên cạnh những kiến nghị và giải pháp từ phía cơ quan nhà nước cần có những giải pháp từ chính những doanh nghiệp. Như đã phân tích khi phát sinh các tranh chấp trực tuyến liên quan đến doanh nghiệp thì thông thường các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến những vụ việc có giá trị kinh tế cao. Đối với những vụ việc liên quan đến người tiêu dùng có giá trị thấp thì doanh nghiệp thường ít quan tâm hơn, do tốn kém nhiều về thời gian cũng như chi phí khi tham gia việc giải quyết, chính điều này đã phần nào làm mất hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng.
- Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp TMĐT về vai trò của HGTT trong việc tạo lợi thế cho doanh nghiệp: giải pháp đầu tiên đặt ra đối với doanh nghiệp là cần nâng cao nhận thức về vai trò của HGTT. Đây là điều cần thiết bởi doanh nghiệp cần phải có trách nhiệm trong việc xử lý các tranh chấp, khiếu nại của mình hoặc tích cực, chủ động hợp tác với bên bán và bên mua để giải quyết vấn đề nhằm xây dựng niềm tin cho khách hàng, từ đó gia tăng giao dịch trực tuyến với doanh nghiệp. Đồng thời, cho doanh nghiệp thấy được những lợi ích của việc HGTT từ đó sẽ lựa chọn phương thức GQTC phù hợp, điều này không chỉ tạo ấn tượng đối với người tiêu dùng, góp phần xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp mà còn giúp người tiêu dùng có thể tháo gỡ được những vướng mắc với doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp cần thay đổi nhận thức, coi HGTT như là một khâu trong chiến lược marketing sản phẩm hay chăm sóc khách hàng để tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp .
Theo: Hà Công Anh Bảo
Link luận án: Tại đây