0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64beb0c3b8f43-_-So-sánh-góp-vốn-thành-lập-công-ty-bằng-quyền-sở-hữu-trí-tuệ-với-các-hình-thức-khai-thác-thương-mại-khác-của-quyền-sở-hữu-trí-tuệ-.jpg.webp

So sánh góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ với các hình thức khai thác thương mại khác của quyền sở hữu trí tuệ


​​2.1.4.  So sánh góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ với các hình thức khai thác thương mại khác của quyền sở hữu trí tuệ

Không chỉ là một trong các hình thức góp vốn theo pháp luật doanh nghiệp, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT còn là một hoạt động khai thác thương mại quyền SHTT.

Với việc góp vốn thành lập công ty bằng hai hình thức chuyển quyền sở hữu quyền SHTT và chuyển quyền sử dụng đối tượng SHTT, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT có nhiều điểm tương đồng với các hình thức thương mại khác của quyền SHTT như chuyển nhượng quyền SHTT, chuyển quyền sử dụng đối tượng SHTT (hay còn gọi là li-xăng đối tượng SHTT), nhượng quyền thương mại. Việc nhận diện đúng hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là cơ sở để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể góp vốn cũng như tránh được các tranh chấp phát sinh.

(i)   So sánh góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ theo hình thức chuyển quyền sở hữu và chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ

Về tính chất:

Chuyển nhượng quyền SHTT là việc chủ sở hữu quyền SHTT chuyển quyền sở hữu một, một số quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc quyền SHTT của mình cho các cá nhân, tổ chức khác.

Sự tương đồng giữa hai hình thức này đó chính là khi góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT hay chuyển nhượng quyền SHTT thì quyền sở hữu quyền SHTT sẽ được chuyển sang cho bên nhận góp vốn hoặc bên nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên bản chất của chuyển nhượng quyền SHTT chính là việc chủ sở hữu bán các quyền tài sản của mình cho chủ thể khác để thu lại một khoản tiền nhất định. Trong khi đó, bản chất của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là việc chuyển giao quyền SHTT để nhận lại quyền chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu đối với công ty nhận góp vốn. Giá trị quyền SHTT mà chủ thể góp vốn tương ứng với tỷ lệ nhất định trong tổng số vốn góp của tất cả các thành viên. Chủ thể góp vốn sẽ được nhận quyền chủ sở hữu của công ty tương ứng với tỷ lệ với vốn góp và được hưởng lợi nhuận tương ứng tỷ lệ vốn góp đó. Như vậy, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT không chỉ đơn thuần là việc “trao đổi ngang giá” hay“ mua đứt bán đoạn” như chuyển nhượng quyền SHTT.

Về ưu điểm và hạn chế:

Khi sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty có nghĩa là lợi ích kinh tế của chủ sở hữu khi khai thác thương mại loại tài sản này sẽ phụ thuộc vào hoạt động của công ty. Nếu công ty hoạt động không hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của chủ thể góp vốn bằng loại tài sản này. Trong khi đó, thay vì sử dụng để góp vốn, nếu chuyển nhượng quyền SHTT thì chủ sở hữu sẽ không phải lo lắng về các hoạt động khai thác đối với loại tài sản này sau khi đã chuyển nhượng. Bên cạnh đó, trong trường hợp nếu chủ sở hữu không có dồi dào kinh phí đầu tư cho việc tạo ra các đối tượng mới thì việc sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty không phải là hình thức tối ưu. Một điểm hạn chế nữa của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT đó chính là về đối tượng quyền SHTT sử dụng để góp vốn. Ngoài một số đối tượng bị hạn chế theo quy định của pháp luật, một số trường hợp khác, do tính chất, đặc điểm và khả năng khai thác đối tượng đó nên thực tế rất hiếm có trường hợp các công ty nhận góp vốn bằng đối tượng này. Trong khi đó, đối với chuyển nhượng quyền SHTT, trừ các trường hợp hạn chế theo quy định, các đối tượng còn lại đều có chuyển nhượng một cách thuận lợi và nhu cầu nhận chuyển nhượng các đối tượng cũng lớn hơn nhiều so với nhận góp vốn.

Tuy nhiên, bên cạnh những hạn chế nói trên, không thể phủ nhận được ưu điểm của hình thức khai thác thương mại quyền SHTT này. Nếu

xét về khả năng khai thác lâu dài các đối tượng SHTT thì đây có thể xem là một hình thức đáng để các chủ thể lựa chọn. Chưa kể đến, nếu công ty nhận góp vốn khai thác có hiệu quả và tiếp tục phát triển tốt đối tượng SHTT thì giá trị quyền SHTT cũng ngày càng tăng lên.

(ii)   So sánh góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ theo hình thức chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với li –xăng đối tượng SHTT và nhượng quyền thương mại.

Về tính chất:

Li-xăng đối tượng SHTT là việc chủ sở hữu cho phép các tổ chức, cá nhân khác được phép sử dụng đối tượng SHTT thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình.

Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: (i) Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; (ii) Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh [110, điều 284].

Xét về mức độ phổ biến, hoạt động sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty không phổ biến như hoạt động li-xăng quyền SHTT hay nhượng quyền thương mại nhưng trên thực tế, những hoạt động thương mại hóa quyền SHTT này lại rất dễ bị nhầm lần. Điều này xuất phát từ điểm chung giữa các hoạt động này đó chính là việc các bên góp vốn, bên giao li – xăng và bên nhượng quyền cho phép bên nhận góp vốn, bên nhận li – xăng hay bên được nhượng quyền được sử dụng đối tượng SHTT trong một khoảng thời gian và không gian nhất định, đồng thời sẽ nhận được những lợi ích nhất định từ việc chuyển quyền đó.

Tuy nhiên, các hoạt động này cũng có sự khác biệt tương đối. Đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo hình thức chuyển quyền sử dụng, lợi ích mà bên góp vốn hướng tới là quyền sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu đối với công ty. Khi sử dụng quyền SHTT để góp vốn, quyền SHTT của chủ sở hữu sẽ bị chuyển hóa thành phần vốn góp trong công ty và chủ sở hữu sẽ được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp của mình vào công ty. Trong khi đó, mục đích của bên giao li-xăng hay bên nhượng quyền khi cho phép sử dụng đối tượng SHTT để nhận lấy một khoản tiền nhất định. Thông thường, phí li-xăng hay nhượng quyền thương mại sẽ được các bên ấn định một mức cụ thể. Tuy nhiên, nhiều trường hợp hiện nay không li-xăng theo phương pháp thông thường như vậy. Một số trường hợp các bên thỏa thuận với nhau, theo đó, bên nhận quyền được phép sử dụng quyền SHTT và bên chuyển quyền được nhận một khoản phí chuyển quyền tương ứng theo một tỷ lệ nhất định tính trên lợi nhuận của công ty. Trường hợp này, trên thực tế, nhiều chủ thể thường gọi đây là hành vi “góp vốn”, nhưng thực chất bản chất của hành vi này lại là li-xăng. Bởi lẽ, li-xăng quyền SHTT hay nhượng quyền thương mại thực chất là việc chủ sở hữu “cho thuê” các quyền SHTT của mình.

Đối với hoạt động góp vốn thành lập công ty và hoạt động nhượng quyền thương mại, ngoài sự khác biệt nói trên, một điểm không tương đồng có thể nhận thấy rất rõ giữa hai hoạt động này chính là về đối tượng. Đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại rộng hơn nhiều so với đối tượng của hoạt động góp vốn. Khi nhượng quyền thương mại, quyền sử dụng đối tượng SHTT như nhãn hiệu, bí mật kinh doanh, sáng chế… chỉ là một phần của hợp đồng nhượng quyền, kèm theo đó, bên nhượng quyền đồng thời phải chuyển giao cách thức, bí quyết tiến hành kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, thiết kế địa điểm kinh doanh…Bên cạnh đó, khi nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền còn có trách nhiệm hỗ trợ, kiểm soát đối với bên được nhượng quyền. Điều này không xảy ra trong hoạt động góp vốn, bởi lẽ, khi góp vốn bằng quyền SHTT, công ty nhận góp vốn có quyền sử dụng đối tượng SHTT theo thỏa thuận góp vốn mà không phải chịu sự kiểm soát và cũng không có quyền yêu cầu sự hỗ trợ nào từ bên góp vốn.

Về ưu điểm và hạn chế:

Đối với các quyền SHTT rất ít đối tượng có thể giữ nguyên giá trị hoặc giá trị tăng dần mà thông thường giá trị sẽ giảm dần theo thời gian bởi vì liên tục các đối tượng SHTT mới hơn, tốt hơn, hiện đại hơn sẽ được ra đời. Khi đó, những đối tượng SHTT trước đó trở nên cũ và lỗi thời, đồng nghĩa với việc giá trị quyền   SHTT với đối tượng đó sẽ bị giảm đi hoặc có thể không còn giá trị. Do đó, việc khai thác thương mại một đối tượng SHTT thông qua hình thức li – xăng đối tượng SHTT hay nhượng quyền thương mại có khi chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Như vây, lợi ích kinh tế của chủ sở hữu sẽ bị giảm sút. Tuy nhiên với việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sử dụng đối tượng SHTT, giá trị tài sản có thể giảm sút nhưng không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ thể góp vốn. Quyền lợi của chủ thể góp vốn trong trường hợp này chỉ bị ảnh hưởng bởi hoạt động của công ty. Đây là ưu điểm nhưng cũng đồng thời là hạn chế của việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT so với hình thức li – xăng đối tượng SHTT hay nhượng quyền thương mại. Bởi lẽ, trong trường hợp công ty hoạt động hoạt động hiệu quả, giá trị quyền SHTT có thể giảm sút hoặc mất đi nhưng lợi ích kinh tế của chủ thể góp vốn có thể tăng lên. Tuy nhiên, điều ngược lại có thể xảy ra, khi đó, chủ thể góp vốn sẽ không nhận được bất kỳ lợi nhuận nào từ khai thác tài sản của mình. Trong khi đó, đối với việc li –xăng đối tượng SHTT và nhượng quyền thương mại, chủ sở hữu quyền SHTT sẽ được nhận ngay một khoản tiền mà không phải phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của bên nhận li – xăng hay bên được nhượng quyền.

Theo: Nguyễn Thị Phương Thảo 

Link luận án:  Tại đây

avatar
Đặng Quỳnh
872 ngày trước
So sánh góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ với các hình thức khai thác thương mại khác của quyền sở hữu trí tuệ
​​2.1.4.  So sánh góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ với các hình thức khai thác thương mại khác của quyền sở hữu trí tuệKhông chỉ là một trong các hình thức góp vốn theo pháp luật doanh nghiệp, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT còn là một hoạt động khai thác thương mại quyền SHTT.Với việc góp vốn thành lập công ty bằng hai hình thức chuyển quyền sở hữu quyền SHTT và chuyển quyền sử dụng đối tượng SHTT, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT có nhiều điểm tương đồng với các hình thức thương mại khác của quyền SHTT như chuyển nhượng quyền SHTT, chuyển quyền sử dụng đối tượng SHTT (hay còn gọi là li-xăng đối tượng SHTT), nhượng quyền thương mại. Việc nhận diện đúng hoạt động góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là cơ sở để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể góp vốn cũng như tránh được các tranh chấp phát sinh.(i)   So sánh góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ theo hình thức chuyển quyền sở hữu và chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệVề tính chất:Chuyển nhượng quyền SHTT là việc chủ sở hữu quyền SHTT chuyển quyền sở hữu một, một số quyền nhân thân và quyền tài sản thuộc quyền SHTT của mình cho các cá nhân, tổ chức khác.Sự tương đồng giữa hai hình thức này đó chính là khi góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT hay chuyển nhượng quyền SHTT thì quyền sở hữu quyền SHTT sẽ được chuyển sang cho bên nhận góp vốn hoặc bên nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên bản chất của chuyển nhượng quyền SHTT chính là việc chủ sở hữu bán các quyền tài sản của mình cho chủ thể khác để thu lại một khoản tiền nhất định. Trong khi đó, bản chất của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là việc chuyển giao quyền SHTT để nhận lại quyền chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu đối với công ty nhận góp vốn. Giá trị quyền SHTT mà chủ thể góp vốn tương ứng với tỷ lệ nhất định trong tổng số vốn góp của tất cả các thành viên. Chủ thể góp vốn sẽ được nhận quyền chủ sở hữu của công ty tương ứng với tỷ lệ với vốn góp và được hưởng lợi nhuận tương ứng tỷ lệ vốn góp đó. Như vậy, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT không chỉ đơn thuần là việc “trao đổi ngang giá” hay“ mua đứt bán đoạn” như chuyển nhượng quyền SHTT.Về ưu điểm và hạn chế:Khi sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty có nghĩa là lợi ích kinh tế của chủ sở hữu khi khai thác thương mại loại tài sản này sẽ phụ thuộc vào hoạt động của công ty. Nếu công ty hoạt động không hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của chủ thể góp vốn bằng loại tài sản này. Trong khi đó, thay vì sử dụng để góp vốn, nếu chuyển nhượng quyền SHTT thì chủ sở hữu sẽ không phải lo lắng về các hoạt động khai thác đối với loại tài sản này sau khi đã chuyển nhượng. Bên cạnh đó, trong trường hợp nếu chủ sở hữu không có dồi dào kinh phí đầu tư cho việc tạo ra các đối tượng mới thì việc sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty không phải là hình thức tối ưu. Một điểm hạn chế nữa của góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT đó chính là về đối tượng quyền SHTT sử dụng để góp vốn. Ngoài một số đối tượng bị hạn chế theo quy định của pháp luật, một số trường hợp khác, do tính chất, đặc điểm và khả năng khai thác đối tượng đó nên thực tế rất hiếm có trường hợp các công ty nhận góp vốn bằng đối tượng này. Trong khi đó, đối với chuyển nhượng quyền SHTT, trừ các trường hợp hạn chế theo quy định, các đối tượng còn lại đều có chuyển nhượng một cách thuận lợi và nhu cầu nhận chuyển nhượng các đối tượng cũng lớn hơn nhiều so với nhận góp vốn.Tuy nhiên, bên cạnh những hạn chế nói trên, không thể phủ nhận được ưu điểm của hình thức khai thác thương mại quyền SHTT này. Nếuxét về khả năng khai thác lâu dài các đối tượng SHTT thì đây có thể xem là một hình thức đáng để các chủ thể lựa chọn. Chưa kể đến, nếu công ty nhận góp vốn khai thác có hiệu quả và tiếp tục phát triển tốt đối tượng SHTT thì giá trị quyền SHTT cũng ngày càng tăng lên.(ii)   So sánh góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ theo hình thức chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với li –xăng đối tượng SHTT và nhượng quyền thương mại.Về tính chất:Li-xăng đối tượng SHTT là việc chủ sở hữu cho phép các tổ chức, cá nhân khác được phép sử dụng đối tượng SHTT thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình.Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: (i) Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; (ii) Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh [110, điều 284].Xét về mức độ phổ biến, hoạt động sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty không phổ biến như hoạt động li-xăng quyền SHTT hay nhượng quyền thương mại nhưng trên thực tế, những hoạt động thương mại hóa quyền SHTT này lại rất dễ bị nhầm lần. Điều này xuất phát từ điểm chung giữa các hoạt động này đó chính là việc các bên góp vốn, bên giao li – xăng và bên nhượng quyền cho phép bên nhận góp vốn, bên nhận li – xăng hay bên được nhượng quyền được sử dụng đối tượng SHTT trong một khoảng thời gian và không gian nhất định, đồng thời sẽ nhận được những lợi ích nhất định từ việc chuyển quyền đó.Tuy nhiên, các hoạt động này cũng có sự khác biệt tương đối. Đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo hình thức chuyển quyền sử dụng, lợi ích mà bên góp vốn hướng tới là quyền sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu đối với công ty. Khi sử dụng quyền SHTT để góp vốn, quyền SHTT của chủ sở hữu sẽ bị chuyển hóa thành phần vốn góp trong công ty và chủ sở hữu sẽ được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp của mình vào công ty. Trong khi đó, mục đích của bên giao li-xăng hay bên nhượng quyền khi cho phép sử dụng đối tượng SHTT để nhận lấy một khoản tiền nhất định. Thông thường, phí li-xăng hay nhượng quyền thương mại sẽ được các bên ấn định một mức cụ thể. Tuy nhiên, nhiều trường hợp hiện nay không li-xăng theo phương pháp thông thường như vậy. Một số trường hợp các bên thỏa thuận với nhau, theo đó, bên nhận quyền được phép sử dụng quyền SHTT và bên chuyển quyền được nhận một khoản phí chuyển quyền tương ứng theo một tỷ lệ nhất định tính trên lợi nhuận của công ty. Trường hợp này, trên thực tế, nhiều chủ thể thường gọi đây là hành vi “góp vốn”, nhưng thực chất bản chất của hành vi này lại là li-xăng. Bởi lẽ, li-xăng quyền SHTT hay nhượng quyền thương mại thực chất là việc chủ sở hữu “cho thuê” các quyền SHTT của mình.Đối với hoạt động góp vốn thành lập công ty và hoạt động nhượng quyền thương mại, ngoài sự khác biệt nói trên, một điểm không tương đồng có thể nhận thấy rất rõ giữa hai hoạt động này chính là về đối tượng. Đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại rộng hơn nhiều so với đối tượng của hoạt động góp vốn. Khi nhượng quyền thương mại, quyền sử dụng đối tượng SHTT như nhãn hiệu, bí mật kinh doanh, sáng chế… chỉ là một phần của hợp đồng nhượng quyền, kèm theo đó, bên nhượng quyền đồng thời phải chuyển giao cách thức, bí quyết tiến hành kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, thiết kế địa điểm kinh doanh…Bên cạnh đó, khi nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền còn có trách nhiệm hỗ trợ, kiểm soát đối với bên được nhượng quyền. Điều này không xảy ra trong hoạt động góp vốn, bởi lẽ, khi góp vốn bằng quyền SHTT, công ty nhận góp vốn có quyền sử dụng đối tượng SHTT theo thỏa thuận góp vốn mà không phải chịu sự kiểm soát và cũng không có quyền yêu cầu sự hỗ trợ nào từ bên góp vốn.Về ưu điểm và hạn chế:Đối với các quyền SHTT rất ít đối tượng có thể giữ nguyên giá trị hoặc giá trị tăng dần mà thông thường giá trị sẽ giảm dần theo thời gian bởi vì liên tục các đối tượng SHTT mới hơn, tốt hơn, hiện đại hơn sẽ được ra đời. Khi đó, những đối tượng SHTT trước đó trở nên cũ và lỗi thời, đồng nghĩa với việc giá trị quyền   SHTT với đối tượng đó sẽ bị giảm đi hoặc có thể không còn giá trị. Do đó, việc khai thác thương mại một đối tượng SHTT thông qua hình thức li – xăng đối tượng SHTT hay nhượng quyền thương mại có khi chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Như vây, lợi ích kinh tế của chủ sở hữu sẽ bị giảm sút. Tuy nhiên với việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sử dụng đối tượng SHTT, giá trị tài sản có thể giảm sút nhưng không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ thể góp vốn. Quyền lợi của chủ thể góp vốn trong trường hợp này chỉ bị ảnh hưởng bởi hoạt động của công ty. Đây là ưu điểm nhưng cũng đồng thời là hạn chế của việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT so với hình thức li – xăng đối tượng SHTT hay nhượng quyền thương mại. Bởi lẽ, trong trường hợp công ty hoạt động hoạt động hiệu quả, giá trị quyền SHTT có thể giảm sút hoặc mất đi nhưng lợi ích kinh tế của chủ thể góp vốn có thể tăng lên. Tuy nhiên, điều ngược lại có thể xảy ra, khi đó, chủ thể góp vốn sẽ không nhận được bất kỳ lợi nhuận nào từ khai thác tài sản của mình. Trong khi đó, đối với việc li –xăng đối tượng SHTT và nhượng quyền thương mại, chủ sở hữu quyền SHTT sẽ được nhận ngay một khoản tiền mà không phải phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của bên nhận li – xăng hay bên được nhượng quyền.Theo: Nguyễn Thị Phương Thảo Link luận án:  Tại đây