0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64bf28b566ac9-Thực-trạng-pháp-luật-về-góp-vốn-thành-lập-công-ty-bằng-quyền-sở-hữu-trí-tuệ-ở-Việt-Nam-.jpg.webp

Thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

 

3.1.  Thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

3.1.1.   Quy định về hình thức góp vốn thành lập công ty bằng quyền quyền sở hữu trí tuệ

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty và cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty² [106; Điều 36]. Nội dung này tiếp tục được kế thừa tại Luật Doanh nghiệp 2020, theo đó “Việc góp vốn chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty² ( Khoản 3 Điều 35).

Điều 66 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp quy định: “Việc nhận vốn góp bằng các loại tài sản vô hình như bản quyền, quyền khai thác, sử dụng tài sản, thương hiệu, nhãn hiệu… chỉ được thực hiện khi có quy định cụ thể của pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép, trường hợp pháp luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, các giao dịch góp vốn bằng nhãn hiệu, thương hiệu được kế toán như việc đi thuê tài sản hoặc nhượng quyền thương mại, theo đó: “Đối với bên nhận vốn góp bằng thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại: Không ghi nhận giá trị thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại và ghi tăng vốn chủ sở hữu tương ứng với giá trị thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại nhận vốn góp. Khoản tiền trả cho việc sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu, tên thương mại được ghi nhận là chi phí thuê tài sản, chi phí nhượng quyền thương mại”.

Với các quy định trên cho thấy chỉ có một hình thức góp vốn bằng quyền SHTT duy nhất được ghi nhận theo pháp luật Việt Nam, đó là góp vốn theo hình thức chuyển quyền sở hữu quyền SHTT. Việc chỉ ghi nhận một hình thức góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT cho mọi đối tượng của quyền SHTT theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam không thực sự hợp lý. Quyền sử dụng đối tượng SHTT là quyền tài sản có thể định giá được và đảm bảo các điều kiện để có thể trở thành tài sản góp. Bên cạnh đó, trong hoạt động kinh doanh, rất hiếm khi một bên muốn chuyển giao quyền sở hữu quyền SHTT của mình cho bên kia; đồng thời những người muốn tiếp cận các quyền SHTT, đặc biệt là đối với đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp...thường chỉ muốn có được quyền sử dụng các đối tượng. Bởi lẽ, giá trị của quyền sử dụng đối tượng SHTT sẽ thấp hơn rất nhiều so với giá trị của quyền sở hữu; mặt khác việc nhận góp vốn theo hình thức chuyển quyền sử dụng sẽ hạn chế rủi ro từ việc tài sản góp vốn bị giảm sút giá trị hoặc không còn giá trị trong một thời gian ngắn vì đã được thay thế bởi một đối tượng SHTT khác.

Đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo hình thức chuyển quyền sử dụng, trước đây Tổng cục Thuế đã có công văn trả lời Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh số 3539/TCT - PCCS ngày 20/09/2006 về việc sử dụng giá trị thương hiệu bổ sung vốn chủ sở hữu, theo đó “các công ty không được góp vốn thành lập công ty cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng thương hiệu. Công ty TNHH XD và CBTP Kinh Đô tự xác định giá trị thương hiệu nhưng không được ghi tăng nguồn vốn chủ sở hữu”. Năm 2009, công văn số 4968/VPCP-KGVX ngày 22/7/2009 của Văn phòng Chính phủ về việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp cho phép“sử dụng nhãn hiệu để góp vốn kinh doanh, áp dụng thí điểm cho Tập đoàn Vinashin”. Sau đó, Bộ Tài chính đã có công văn hướng dẫn thực hiện thí điểm đối với tập đoàn Vinashin , ngoài ra có một văn bản pháp lý nào khác cho phép góp vốn bằng quyền sử dụng quyền SHTT nói chung và quyền sử dụng nhãn hiệu nói riêng.

3.1.2.   Quy định về chủ thể góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

3.1.2.1.   Quy định về bên góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Để góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, bên góp vốn phải thỏa mãn hai điều kiện sau:

Thứ nhất, tổ chức, cá nhân góp vốn không thuộc các trường hợp không được quyền góp vốn:

Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền công dân được pháp luật ghi nhận trong hiến pháp Việt Nam. Vì vậy, hầu hết các cá nhân, tổ chức đều có quyền góp vốn, có quyền thành lập công ty. Tuy nhiên, để đảm bảo sự bình đẳng trong hoạt động kinh doanh cũng như lợi ích chung của xã hội mà Luật Doanh nghiệp 2014 quy định các tổ chức, cá nhân sau sẽ không có quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp [106, Điều 18]: “Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để góp vốn, thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác; Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng”. Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung thêm một số trường hợp không được phép góp vốn thành lập doanh nghiệp bao gồm: người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người đang bị tạm giam ( Điều 17 ).

Việc bổ sung thêm người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về năng lực hành vi của chủ thể đối với đối tượng này. Tuy nhiên, quy định đối với trường hợp người bị truy cứu trách nhiệm hình sự và người đang bị tam giam hiện nay vẫn còn chưa rõ ràng. Luật chỉ quy định người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị tạm giam không được quyền góp vốn nhưng không có hướng dẫn cụ thể trường hợp này chỉ áp dụng khi chủ thể đó chưa cam kết góp vốn hay áp dụng cả đối với trường hợp đã cam kết góp vốn nhưng chưa đăng ký thành lập công ty. Bởi lẽ nếu áp dụng đối với cả trường hợp người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị tạm giam đã cam kết góp vốn trước thời điểm bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trước thời điểm bị tạm giam nhưng chưa đăng ký thành lập công ty thì sẽ đồng nghĩa với việc phải loại bỏ tư cách thành viên của chủ thể này trong danh sách thành viên và điều lệ công ty trước thời điểm đăng ký thành lập công ty.

Thứ hai, chủ thể góp vốn phải là chủ sở hữu hợp pháp của quyền SHTT góp vốn:

Đối với một đối tượng SHTT thường có ba chủ thể chính, đó là tác giả đối tượng SHTT, chủ sở hữu quyền SHTT và chủ thể có quyền sử dụng đối tượng SHTT. Tuy nhiên, không phải tất cả các chủ thể này đều có thể sử dụng quyền SHTT để góp vốn. Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Quyền

SHTT được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền SHTT khác theo quy định của pháp luật về SHTT. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn”. Với quy định này cho thấy, tác giả hay chủ thể có quyền sử dụng nếu không đồng thời là chủ sở hữu quyền SHTT thì không được sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty.

Dường như quy định này đã có sự thay đổi khi mà Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định “1. Tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền SHTT, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. 2. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều này mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật” (Điều 34). Với quy định này có thể hiểu này rằng không chỉ có chủ sở hữu mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn mà ngay cả các chủ thể sử dụng vẫn có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng tài sản của mình, cụ thể ở đây đối với quyền SHTT, chủ thể góp vốn bằng loại tài sản này không chỉ là chủ sở hữu mà còn có thể là chủ thể có quyền sử dụng hợp pháp theo hợp đồng li – xăng độc quyền hoặc không độc quyền, hay cũng có thể là chủ thể có quyền sử dụng trước (đối với sáng chế và kiểu dáng công nghiệp). Điều này đã có sự mâu thuẫn khi mà Luật Doanh nghiệp 2020 lại quy định “Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty…”và Việc góp vốn chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty” (Điều 35). Để có thể chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn (trừ chuyển quyền sử dụng đất) theo quy định tại Điều 35 Luật doanh nghiệp 2020, đồng nghĩa với việc chủ thể góp vốn đối với các loại tài sản phi tiền tệ nói chung và quyền SHTT nói riêng vẫn phải là chủ sở hữu hợp pháp của các tài sản góp vốn này. Vì vậy, tác giả cho rằng, thực chất nội dung quy định tại khoản 2 điều 35 Luật Doanh nghiệp 2020 không có sự thay đổi so với quy định tại khoản 2 điều 36 Luật Doanh nghiệp 2014. Điều này chỉ có thể lý giải rằng, chủ thể sử dụng hợp pháp được đề cập tới trong Điều 34 Luật doanh nghiệp 2020 chỉ áp dụng đối với tài sản là quyền sử dụng đất mà không áp dụng đối với các loại tài sản khác. Tuy nhiên, thay vì một quy định mang tính chuyên biệt cho một loại tài sản góp vốn là quyền SHTT như Luật Doanh nghiệp 2014 đã làm, Luật doanh nghiệp 2020 quy định một cách khái quát hơn và mang tính chất điều chỉnh chung đối với việc góp vốn bằng tất cả các loại tài sản. Như vậy, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành chỉ cho phép chủ sở hữu quyền SHTT được sử dụng quyền SHTT để góp vốn.

Theo pháp luật SHTT, việc xác định chủ sở hữu quyền SHTT như sau:

(i)   Đối với chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan: Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, năm 2019 quy định “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản theo quy định tại Điều 20 của Luật này” (Điều 36). Thông thường, việc phân định về tư cách các chủ thể trong quyền tác giả dựa trên yếu tố về chi phí và đầu tư tài chính để tạo ra tác phẩm. Trường hợp người trực tiếp sáng tạo tác phẩm sử dụng thời gian, cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính của mình để tạo ra tác phẩm thì họ vừa là tác giả, đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả. Còn nếu việc sáng tạo tác phẩm dựa trên nhiệm vụ được giao hay hợp đồng thuê sáng tạo tác phẩm thì người sáng tạo tác phẩm chỉ được xác định là tác giả, còn cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ hay tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng thuê sáng tạo tác phẩm với tác giả được xác định là chủ sở hữu quyền tác giả nếu các bên không có thỏa thuận khác. Bên cạnh đó, quyền tài sản thuộc quyền tác giả là một loại tài sản, có thể để lại thừa kế, có thể tặng cho cũng có thể mua bán. Vì vậy, tổ chức, cá nhân được thừa kế, tặng cho, được chuyển giao các quyền tài sản cũng là chủ sở hữu quyền tác giả. Ngoài ra, đối với các tác phẩm khuyết danh thì tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả được xác định. Đối với các trường hợp, chủ sở hữu quyền tác giả chết mà không có người thừa kế hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc tác phẩm khuyết danh chưa có tổ chức, cá nhân quản lý thì Nhà nước được xác định là chủ sở hữu.

Theo: Nguyễn Thị Phương Thảo 

Link luận án:  Tại đây

avatar
Đặng Quỳnh
961 ngày trước
Thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
 3.1.  Thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam3.1.1.   Quy định về hình thức góp vốn thành lập công ty bằng quyền quyền sở hữu trí tuệTheo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty và “cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty² [106; Điều 36]. Nội dung này tiếp tục được kế thừa tại Luật Doanh nghiệp 2020, theo đó “Việc góp vốn chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty² ( Khoản 3 Điều 35).Điều 66 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp quy định: “Việc nhận vốn góp bằng các loại tài sản vô hình như bản quyền, quyền khai thác, sử dụng tài sản, thương hiệu, nhãn hiệu… chỉ được thực hiện khi có quy định cụ thể của pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép, trường hợp pháp luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, các giao dịch góp vốn bằng nhãn hiệu, thương hiệu được kế toán như việc đi thuê tài sản hoặc nhượng quyền thương mại, theo đó: “Đối với bên nhận vốn góp bằng thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại: Không ghi nhận giá trị thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại và ghi tăng vốn chủ sở hữu tương ứng với giá trị thương hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại nhận vốn góp. Khoản tiền trả cho việc sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu, tên thương mại được ghi nhận là chi phí thuê tài sản, chi phí nhượng quyền thương mại”.Với các quy định trên cho thấy chỉ có một hình thức góp vốn bằng quyền SHTT duy nhất được ghi nhận theo pháp luật Việt Nam, đó là góp vốn theo hình thức chuyển quyền sở hữu quyền SHTT. Việc chỉ ghi nhận một hình thức góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT cho mọi đối tượng của quyền SHTT theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam không thực sự hợp lý. Quyền sử dụng đối tượng SHTT là quyền tài sản có thể định giá được và đảm bảo các điều kiện để có thể trở thành tài sản góp. Bên cạnh đó, trong hoạt động kinh doanh, rất hiếm khi một bên muốn chuyển giao quyền sở hữu quyền SHTT của mình cho bên kia; đồng thời những người muốn tiếp cận các quyền SHTT, đặc biệt là đối với đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp...thường chỉ muốn có được quyền sử dụng các đối tượng. Bởi lẽ, giá trị của quyền sử dụng đối tượng SHTT sẽ thấp hơn rất nhiều so với giá trị của quyền sở hữu; mặt khác việc nhận góp vốn theo hình thức chuyển quyền sử dụng sẽ hạn chế rủi ro từ việc tài sản góp vốn bị giảm sút giá trị hoặc không còn giá trị trong một thời gian ngắn vì đã được thay thế bởi một đối tượng SHTT khác.Đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT theo hình thức chuyển quyền sử dụng, trước đây Tổng cục Thuế đã có công văn trả lời Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh số 3539/TCT - PCCS ngày 20/09/2006 về việc sử dụng giá trị thương hiệu bổ sung vốn chủ sở hữu, theo đó “các công ty không được góp vốn thành lập công ty cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng thương hiệu. Công ty TNHH XD và CBTP Kinh Đô tự xác định giá trị thương hiệu nhưng không được ghi tăng nguồn vốn chủ sở hữu”. Năm 2009, công văn số 4968/VPCP-KGVX ngày 22/7/2009 của Văn phòng Chính phủ về việc góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp cho phép“sử dụng nhãn hiệu để góp vốn kinh doanh, áp dụng thí điểm cho Tập đoàn Vinashin”. Sau đó, Bộ Tài chính đã có công văn hướng dẫn thực hiện thí điểm đối với tập đoàn Vinashin , ngoài ra có một văn bản pháp lý nào khác cho phép góp vốn bằng quyền sử dụng quyền SHTT nói chung và quyền sử dụng nhãn hiệu nói riêng.3.1.2.   Quy định về chủ thể góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ3.1.2.1.   Quy định về bên góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệĐể góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, bên góp vốn phải thỏa mãn hai điều kiện sau:Thứ nhất, tổ chức, cá nhân góp vốn không thuộc các trường hợp không được quyền góp vốn:Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền công dân được pháp luật ghi nhận trong hiến pháp Việt Nam. Vì vậy, hầu hết các cá nhân, tổ chức đều có quyền góp vốn, có quyền thành lập công ty. Tuy nhiên, để đảm bảo sự bình đẳng trong hoạt động kinh doanh cũng như lợi ích chung của xã hội mà Luật Doanh nghiệp 2014 quy định các tổ chức, cá nhân sau sẽ không có quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp [106, Điều 18]: “Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để góp vốn, thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác; Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng”. Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp 2020 đã bổ sung thêm một số trường hợp không được phép góp vốn thành lập doanh nghiệp bao gồm: người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người đang bị tạm giam ( Điều 17 ).Việc bổ sung thêm người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về năng lực hành vi của chủ thể đối với đối tượng này. Tuy nhiên, quy định đối với trường hợp người bị truy cứu trách nhiệm hình sự và người đang bị tam giam hiện nay vẫn còn chưa rõ ràng. Luật chỉ quy định người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị tạm giam không được quyền góp vốn nhưng không có hướng dẫn cụ thể trường hợp này chỉ áp dụng khi chủ thể đó chưa cam kết góp vốn hay áp dụng cả đối với trường hợp đã cam kết góp vốn nhưng chưa đăng ký thành lập công ty. Bởi lẽ nếu áp dụng đối với cả trường hợp người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị tạm giam đã cam kết góp vốn trước thời điểm bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trước thời điểm bị tạm giam nhưng chưa đăng ký thành lập công ty thì sẽ đồng nghĩa với việc phải loại bỏ tư cách thành viên của chủ thể này trong danh sách thành viên và điều lệ công ty trước thời điểm đăng ký thành lập công ty.Thứ hai, chủ thể góp vốn phải là chủ sở hữu hợp pháp của quyền SHTT góp vốn:Đối với một đối tượng SHTT thường có ba chủ thể chính, đó là tác giả đối tượng SHTT, chủ sở hữu quyền SHTT và chủ thể có quyền sử dụng đối tượng SHTT. Tuy nhiên, không phải tất cả các chủ thể này đều có thể sử dụng quyền SHTT để góp vốn. Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “QuyềnSHTT được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền SHTT khác theo quy định của pháp luật về SHTT. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn”. Với quy định này cho thấy, tác giả hay chủ thể có quyền sử dụng nếu không đồng thời là chủ sở hữu quyền SHTT thì không được sử dụng quyền SHTT để góp vốn thành lập công ty.Dường như quy định này đã có sự thay đổi khi mà Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định “1. Tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền SHTT, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. 2. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều này mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật” (Điều 34). Với quy định này có thể hiểu này rằng không chỉ có chủ sở hữu mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn mà ngay cả các chủ thể sử dụng vẫn có quyền góp vốn bằng quyền sử dụng tài sản của mình, cụ thể ở đây đối với quyền SHTT, chủ thể góp vốn bằng loại tài sản này không chỉ là chủ sở hữu mà còn có thể là chủ thể có quyền sử dụng hợp pháp theo hợp đồng li – xăng độc quyền hoặc không độc quyền, hay cũng có thể là chủ thể có quyền sử dụng trước (đối với sáng chế và kiểu dáng công nghiệp). Điều này đã có sự mâu thuẫn khi mà Luật Doanh nghiệp 2020 lại quy định “Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty…”và “Việc góp vốn chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty” (Điều 35). Để có thể chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn (trừ chuyển quyền sử dụng đất) theo quy định tại Điều 35 Luật doanh nghiệp 2020, đồng nghĩa với việc chủ thể góp vốn đối với các loại tài sản phi tiền tệ nói chung và quyền SHTT nói riêng vẫn phải là chủ sở hữu hợp pháp của các tài sản góp vốn này. Vì vậy, tác giả cho rằng, thực chất nội dung quy định tại khoản 2 điều 35 Luật Doanh nghiệp 2020 không có sự thay đổi so với quy định tại khoản 2 điều 36 Luật Doanh nghiệp 2014. Điều này chỉ có thể lý giải rằng, chủ thể sử dụng hợp pháp được đề cập tới trong Điều 34 Luật doanh nghiệp 2020 chỉ áp dụng đối với tài sản là quyền sử dụng đất mà không áp dụng đối với các loại tài sản khác. Tuy nhiên, thay vì một quy định mang tính chuyên biệt cho một loại tài sản góp vốn là quyền SHTT như Luật Doanh nghiệp 2014 đã làm, Luật doanh nghiệp 2020 quy định một cách khái quát hơn và mang tính chất điều chỉnh chung đối với việc góp vốn bằng tất cả các loại tài sản. Như vậy, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành chỉ cho phép chủ sở hữu quyền SHTT được sử dụng quyền SHTT để góp vốn.Theo pháp luật SHTT, việc xác định chủ sở hữu quyền SHTT như sau:(i)   Đối với chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan: Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, năm 2019 quy định “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản theo quy định tại Điều 20 của Luật này” (Điều 36). Thông thường, việc phân định về tư cách các chủ thể trong quyền tác giả dựa trên yếu tố về chi phí và đầu tư tài chính để tạo ra tác phẩm. Trường hợp người trực tiếp sáng tạo tác phẩm sử dụng thời gian, cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính của mình để tạo ra tác phẩm thì họ vừa là tác giả, đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả. Còn nếu việc sáng tạo tác phẩm dựa trên nhiệm vụ được giao hay hợp đồng thuê sáng tạo tác phẩm thì người sáng tạo tác phẩm chỉ được xác định là tác giả, còn cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ hay tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng thuê sáng tạo tác phẩm với tác giả được xác định là chủ sở hữu quyền tác giả nếu các bên không có thỏa thuận khác. Bên cạnh đó, quyền tài sản thuộc quyền tác giả là một loại tài sản, có thể để lại thừa kế, có thể tặng cho cũng có thể mua bán. Vì vậy, tổ chức, cá nhân được thừa kế, tặng cho, được chuyển giao các quyền tài sản cũng là chủ sở hữu quyền tác giả. Ngoài ra, đối với các tác phẩm khuyết danh thì tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả được xác định. Đối với các trường hợp, chủ sở hữu quyền tác giả chết mà không có người thừa kế hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc tác phẩm khuyết danh chưa có tổ chức, cá nhân quản lý thì Nhà nước được xác định là chủ sở hữu.Theo: Nguyễn Thị Phương Thảo Link luận án:  Tại đây