0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64bf35a8aa34a-Nguyên-tắc-của-pháp-luật-về-chế-độ-hưu-trí.jpg.webp

Nguyên tắc của pháp luật về chế độ hưu trí

2.2.3. Nguyên tắc của pháp luật về chế độ hưu trí

2.2.3.1.   Nguyên tắc có đóng, có hưởng

Có thể nói, nguyên tắc có đóng, có hưởng thể hiện bản chất kinh tế của BHXH nói chung, CĐHT nói riêng. Nghĩa là, muốn được hưởng quyền lợi từ CĐHT thì cá nhân phải tham gia đóng góp vào quỹ hưu trí theo một tỷ lệ nhất định trong thời gian pháp luật quy định. Nói cách khác, việc tham gia đóng góp của bản thân người thụ hưởng (hoặc cùng với chủ thể khác) trong thời gian làm việc, lao động là tiền đề, điều kiện tiên quyết để họ được hưởng các chế độ của pháp luật về ASXH/BHXH (trong đó có pháp luật về CĐHT). Việc tham gia đóng góp của người tham gia là cơ sở duy nhất để họ được nhận trợ cấp tuổi già khi phát sinh sự kiện pháp lý, điều kiện được bảo vệ. Nguyên tắc này được thể hiện rõ nét trong Công ước 102 của ILO. Ngoài việc căn cứ vào độ tuổi được bảo vệ theo quy định, việc xác định mức trợ cấp chi trả cho người thụ hưởng còn dựa vào thâm niên đóng góp của họ. Theo Công ước 102, người thụ hưởng phải có 30 năm đóng góp hoặc làm việc .

Ngoài ra, một số quốc gia còn duy trì hưu trí xã hội trong hệ thống pháp luật của mình. Đó là loại hưu trí được áp dụng mà không dựa trên cơ sở đóng góp của người được thụ hưởng. Hệ thống hưu trí xã hội được áp dụng đối với người cao tuổi khi họ đạt một độ tuổi nhất định theo quy định pháp luật mỗi quốc gia. Thông thường, tuổi được hưởng hưu trí xã hội luôn cao hơn rất nhiều so với tuổi nghỉ hưu. Hệ thống hưu trí xã hội cũng góp phần hỗ trợ cho người già thông qua khoản trợ cấp nhất định. Mặc dù vậy, có thể khẳng định, việc đóng góp vào quỹ hưu trí với thâm niên tham gia nhất định là cơ sở duy nhất để người được bảo vệ hưởng trợ cấp tuổi già. Đây là một trong những khoản thu nhập chủ yếu của người được bảo vệ dùng để đảm bảo cho cuộc sống khi về già.

Cũng theo nguyên tắc có đóng, có hưởng thì mức hưởng trợ cấp tuổi già/trợ cấp hưu trí được tính trên cơ sở mức đóng góp của đối tượng tham gia trong suốt thời gian làm việc, thời gian tham gia đóng góp của họ. Nói cách khác, mức hưởng trợ cấp tuổi già tỷ lệ thuận với mức đóng của người thụ hưởng, đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng tham gia. Chính vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều quy định nguyên tắc có đóng, có hưởng của CĐHT trong hệ thống pháp luật của mình để đảm bảo quyền hưởng lương hưu (với tư cách là một nội dung của ASXH, BHXH) của người dân, NLĐ.

2.2.3.2.  Nguyên tắc bình đẳng về quyền tham gia và hưởng lợi từ chế độ hưu trí

Nguyên tắc này xuất phát từ quyền bình đẳng của cá nhân trong xã hội: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị” [47, Đ.7]. Đây là quyền lợi cao nhất mà các quốc gia thừa nhận và cam kết thực hiện đối với mọi thành viên trong xã hội. Dưới góc độ pháp lý, nguyên tắc bình đẳng được hiểu là sự bình đẳng trước pháp luật giữa các công dân trong một quốc gia, bình đẳng trong việc hưởng các quyền con người của mọi thành viên trong quốc gia.

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) đã khẳng định quyền được đảm bảo ASXH, được sống đủ tiêu chuẩn về sức khỏe, thực phẩm, quần áo, nhà ở…..của các thành viên trong xã hội là như nhau [47, Đ.22, Đ.25]. Do đó, là một bộ phận của hệ thống pháp luật quốc gia, pháp luật về ASXH (BHXH) nói chung và pháp luật về CĐHT nói riêng cũng không được thoát ly khỏi nguyên tắc bình đẳng này. Theo đó, mọi cá nhân, thành viên trong xã hội đều được quyền tham gia CĐHT và được hưởng quyền lợi từ CĐHT trong điều kiện, hoàn cảnh giống nhau.

Thêm nữa, sự bình đẳng trong việc thực hiện quyền và hưởng lợi ích từ CĐHT còn được thể hiện thông qua việc pháp luật quốc gia không phân biệt đối xử giữa các cá nhân dựa trên các đặc điểm về nhân thân: sắc tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, quốc tịch,…liên quan đến điều kiện tham gia, điều kiện đóng, điều kiện hưởng, mức hưởng,… kể cả đó là sự phân biệt về giới tính giữa lao động nữ và lao động nam. Hiện nay, sự phân biệt về giới tính trong CĐHT chủ yếu được thể hiện thông qua điều kiện nghỉ hưu với quy định về tuổi nghỉ hưu. Theo điều tra của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) do J.Tunner thực hiện (năm 2007) cho thấy: có mối liên hệ giữa bình đẳng giới với tuổi nghỉ hưu của lao động nữ. Theo đó, tuổi nghỉ hưu của lao động nữ có xu hướng thay đổi theo thời gian với việc “san lấp” sự chênh lệch về tuổi nghỉ hưu với lao động nam. Đó cũng là cách hiểu của Liên minh Châu Âu về bình đẳng giới: tuổi nghỉ hưu của nam giới và nữ giới phải bằng nhau thì mới được coi là bình đẳng giới.

Tóm lại, các thành viên trong xã hội đều bình đẳng về quyền tham gia và được hưởng lợi như nhau trong những điều kiện giống nhau theo pháp luật về CĐHT. Thực hiện tốt nguyên tắc này còn góp phần vào việc đảm bảo công bằng xã hội, khuyến khích các thành viên trong xã hội tham gia CĐHT. Do đó, hiện nay, các quốc gia (đặc biệt là các quốc gia thành viên, hoặc tham gia ký kết, phê chuẩn Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ - CEDAW) quy định khác nhau về tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ đều có xu hướng điều chỉnh để “san lấp” khoảng cách, chênh lệch về tuổi nghỉ hưu nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc này cũng như đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng tham gia.

2.1.1.3 Nguyên tắc đảm bảo nguồn quỹ hưu trí nhằm đảm bảo thu nhập, bảo vệ cuộc sống cho cá nhân, người lao động khi về hưu

Thông thường, quỹ hưu trí được hình thành trên cơ sở là các khoản đóng góp của các chủ thể có liên quan như: cá nhân, NLĐ, NSDLĐ, và Nhà nước (nếu có). Việc tham gia đóng góp để được hưởng quyền lợi từ CĐHT cũng không nằm ngoài mục đích bảo vệ cuộc sống, đảm bảo thu nhập cho người tham gia, người được bảo vệ khi họ bị mất thu nhập. Chính vì vậy, trợ cấp tuổi già góp phần vào việc trang trải các chi phí, giúp người thụ hưởng chủ động ứng phó với các rủi ro trong cuộc sống của họ. Có như vậy, pháp luật về CĐHT mới hấp dẫn, đủ sức thu hút sự tham gia của cá nhân, thành viên trong xã hội. Đặc biệt, đối với CĐHT tự nguyện, khi sự tham gia của các đối tượng phụ thuộc vào tinh thần tự nguyện thì việc đảm bảo thu nhập để duy trì cuộc sống khi về hưu còn là nền tảng, tiền đề để phát triển và mở rộng tỷ lệ tham gia, làm gia tăng diện bao phủ tham gia CĐHT. Tóm lại, việc đóng góp vào quỹ hưu trí được sử dụng để chi trả trợ cấp tuổi già cho đối tượng được bảo vệ khi đáp ứng những điều kiện theo quy định. Cũng chính vì thế, trợ cấp tuổi già là mục tiêu cao nhất, cuối cùng mà các bên hướng đến khi tham gia đóng góp vào quỹ hưu trí.

Với đặc trưng là quỹ tài chính dài hạn nên các vấn đề như: làm thế nào để đảm bảo tính bền vững của quỹ hưu trí; hay quỹ hưu trí có đủ tiềm lực, khả năng để chi trả cho người được bảo vệ hay không; khoản trợ cấp được nhận khi về hưu có đủ để trang trải, đảm bảo cuộc sống của người thụ hưởng hay không,…là những vấn đề ưu tiên hàng đầu, nhận được sự quan tâm của các quốc gia. Điều này càng mang tính cấp thiết hơn trong điều kiện các yếu tố nhân khẩu học thay đổi, sự già hóa dân số đang diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới,…đã làm ảnh hưởng đến sự bền vững về mặt tài chính của quỹ hưu trí. Do vậy, việc tiến hành tổ chức lại, cải cách hệ thống hưu trí để đảm bảo tính bền vững cho quỹ hưu trí là việc làm cần thiết được quan tâm và đặt ra. Theo đó, một trong những cách thức để cải cách hệ thống hưu trí mà các quốc gia thường áp dụng là điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu. Đây là một trong những giải pháp góp phần đảm bảo cho nguồn quỹ hưu trí được ổn định, đồng thời là phương cách để đối phó với tình trạng già hóa dân số. Bên cạnh đó, một nền kinh tế phát triển hay lạc hậu cũng có tác động, ảnh hưởng nhất định đến tính bền vững của quỹ hưu trí. Tựu trung lại, quỹ hưu trí cần được đảm bảo về mặt tài chính, đảm bảo khả năng thu - chi để thực hiện việc chi trả các quyền lợi hưu trí, góp phần đảm bảo thu nhập, bảo vệ cuộc sống cho cá nhân, NLĐ khi không còn khả năng lao động, khi hết tuổi làm việc.

Theo: Phạm Thị Thi

Link luận án:  Tại đây

avatar
Đặng Quỳnh
875 ngày trước
Nguyên tắc của pháp luật về chế độ hưu trí
2.2.3. Nguyên tắc của pháp luật về chế độ hưu trí2.2.3.1.   Nguyên tắc có đóng, có hưởngCó thể nói, nguyên tắc có đóng, có hưởng thể hiện bản chất kinh tế của BHXH nói chung, CĐHT nói riêng. Nghĩa là, muốn được hưởng quyền lợi từ CĐHT thì cá nhân phải tham gia đóng góp vào quỹ hưu trí theo một tỷ lệ nhất định trong thời gian pháp luật quy định. Nói cách khác, việc tham gia đóng góp của bản thân người thụ hưởng (hoặc cùng với chủ thể khác) trong thời gian làm việc, lao động là tiền đề, điều kiện tiên quyết để họ được hưởng các chế độ của pháp luật về ASXH/BHXH (trong đó có pháp luật về CĐHT). Việc tham gia đóng góp của người tham gia là cơ sở duy nhất để họ được nhận trợ cấp tuổi già khi phát sinh sự kiện pháp lý, điều kiện được bảo vệ. Nguyên tắc này được thể hiện rõ nét trong Công ước 102 của ILO. Ngoài việc căn cứ vào độ tuổi được bảo vệ theo quy định, việc xác định mức trợ cấp chi trả cho người thụ hưởng còn dựa vào thâm niên đóng góp của họ. Theo Công ước 102, người thụ hưởng phải có 30 năm đóng góp hoặc làm việc .Ngoài ra, một số quốc gia còn duy trì hưu trí xã hội trong hệ thống pháp luật của mình. Đó là loại hưu trí được áp dụng mà không dựa trên cơ sở đóng góp của người được thụ hưởng. Hệ thống hưu trí xã hội được áp dụng đối với người cao tuổi khi họ đạt một độ tuổi nhất định theo quy định pháp luật mỗi quốc gia. Thông thường, tuổi được hưởng hưu trí xã hội luôn cao hơn rất nhiều so với tuổi nghỉ hưu. Hệ thống hưu trí xã hội cũng góp phần hỗ trợ cho người già thông qua khoản trợ cấp nhất định. Mặc dù vậy, có thể khẳng định, việc đóng góp vào quỹ hưu trí với thâm niên tham gia nhất định là cơ sở duy nhất để người được bảo vệ hưởng trợ cấp tuổi già. Đây là một trong những khoản thu nhập chủ yếu của người được bảo vệ dùng để đảm bảo cho cuộc sống khi về già.Cũng theo nguyên tắc có đóng, có hưởng thì mức hưởng trợ cấp tuổi già/trợ cấp hưu trí được tính trên cơ sở mức đóng góp của đối tượng tham gia trong suốt thời gian làm việc, thời gian tham gia đóng góp của họ. Nói cách khác, mức hưởng trợ cấp tuổi già tỷ lệ thuận với mức đóng của người thụ hưởng, đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng tham gia. Chính vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều quy định nguyên tắc có đóng, có hưởng của CĐHT trong hệ thống pháp luật của mình để đảm bảo quyền hưởng lương hưu (với tư cách là một nội dung của ASXH, BHXH) của người dân, NLĐ.2.2.3.2.  Nguyên tắc bình đẳng về quyền tham gia và hưởng lợi từ chế độ hưu tríNguyên tắc này xuất phát từ quyền bình đẳng của cá nhân trong xã hội: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị” [47, Đ.7]. Đây là quyền lợi cao nhất mà các quốc gia thừa nhận và cam kết thực hiện đối với mọi thành viên trong xã hội. Dưới góc độ pháp lý, nguyên tắc bình đẳng được hiểu là sự bình đẳng trước pháp luật giữa các công dân trong một quốc gia, bình đẳng trong việc hưởng các quyền con người của mọi thành viên trong quốc gia.Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) đã khẳng định quyền được đảm bảo ASXH, được sống đủ tiêu chuẩn về sức khỏe, thực phẩm, quần áo, nhà ở…..của các thành viên trong xã hội là như nhau [47, Đ.22, Đ.25]. Do đó, là một bộ phận của hệ thống pháp luật quốc gia, pháp luật về ASXH (BHXH) nói chung và pháp luật về CĐHT nói riêng cũng không được thoát ly khỏi nguyên tắc bình đẳng này. Theo đó, mọi cá nhân, thành viên trong xã hội đều được quyền tham gia CĐHT và được hưởng quyền lợi từ CĐHT trong điều kiện, hoàn cảnh giống nhau.Thêm nữa, sự bình đẳng trong việc thực hiện quyền và hưởng lợi ích từ CĐHT còn được thể hiện thông qua việc pháp luật quốc gia không phân biệt đối xử giữa các cá nhân dựa trên các đặc điểm về nhân thân: sắc tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, quốc tịch,…liên quan đến điều kiện tham gia, điều kiện đóng, điều kiện hưởng, mức hưởng,… kể cả đó là sự phân biệt về giới tính giữa lao động nữ và lao động nam. Hiện nay, sự phân biệt về giới tính trong CĐHT chủ yếu được thể hiện thông qua điều kiện nghỉ hưu với quy định về tuổi nghỉ hưu. Theo điều tra của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) do J.Tunner thực hiện (năm 2007) cho thấy: có mối liên hệ giữa bình đẳng giới với tuổi nghỉ hưu của lao động nữ. Theo đó, tuổi nghỉ hưu của lao động nữ có xu hướng thay đổi theo thời gian với việc “san lấp” sự chênh lệch về tuổi nghỉ hưu với lao động nam. Đó cũng là cách hiểu của Liên minh Châu Âu về bình đẳng giới: tuổi nghỉ hưu của nam giới và nữ giới phải bằng nhau thì mới được coi là bình đẳng giới.Tóm lại, các thành viên trong xã hội đều bình đẳng về quyền tham gia và được hưởng lợi như nhau trong những điều kiện giống nhau theo pháp luật về CĐHT. Thực hiện tốt nguyên tắc này còn góp phần vào việc đảm bảo công bằng xã hội, khuyến khích các thành viên trong xã hội tham gia CĐHT. Do đó, hiện nay, các quốc gia (đặc biệt là các quốc gia thành viên, hoặc tham gia ký kết, phê chuẩn Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ - CEDAW) quy định khác nhau về tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ đều có xu hướng điều chỉnh để “san lấp” khoảng cách, chênh lệch về tuổi nghỉ hưu nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc này cũng như đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng tham gia.2.1.1.3 Nguyên tắc đảm bảo nguồn quỹ hưu trí nhằm đảm bảo thu nhập, bảo vệ cuộc sống cho cá nhân, người lao động khi về hưuThông thường, quỹ hưu trí được hình thành trên cơ sở là các khoản đóng góp của các chủ thể có liên quan như: cá nhân, NLĐ, NSDLĐ, và Nhà nước (nếu có). Việc tham gia đóng góp để được hưởng quyền lợi từ CĐHT cũng không nằm ngoài mục đích bảo vệ cuộc sống, đảm bảo thu nhập cho người tham gia, người được bảo vệ khi họ bị mất thu nhập. Chính vì vậy, trợ cấp tuổi già góp phần vào việc trang trải các chi phí, giúp người thụ hưởng chủ động ứng phó với các rủi ro trong cuộc sống của họ. Có như vậy, pháp luật về CĐHT mới hấp dẫn, đủ sức thu hút sự tham gia của cá nhân, thành viên trong xã hội. Đặc biệt, đối với CĐHT tự nguyện, khi sự tham gia của các đối tượng phụ thuộc vào tinh thần tự nguyện thì việc đảm bảo thu nhập để duy trì cuộc sống khi về hưu còn là nền tảng, tiền đề để phát triển và mở rộng tỷ lệ tham gia, làm gia tăng diện bao phủ tham gia CĐHT. Tóm lại, việc đóng góp vào quỹ hưu trí được sử dụng để chi trả trợ cấp tuổi già cho đối tượng được bảo vệ khi đáp ứng những điều kiện theo quy định. Cũng chính vì thế, trợ cấp tuổi già là mục tiêu cao nhất, cuối cùng mà các bên hướng đến khi tham gia đóng góp vào quỹ hưu trí.Với đặc trưng là quỹ tài chính dài hạn nên các vấn đề như: làm thế nào để đảm bảo tính bền vững của quỹ hưu trí; hay quỹ hưu trí có đủ tiềm lực, khả năng để chi trả cho người được bảo vệ hay không; khoản trợ cấp được nhận khi về hưu có đủ để trang trải, đảm bảo cuộc sống của người thụ hưởng hay không,…là những vấn đề ưu tiên hàng đầu, nhận được sự quan tâm của các quốc gia. Điều này càng mang tính cấp thiết hơn trong điều kiện các yếu tố nhân khẩu học thay đổi, sự già hóa dân số đang diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới,…đã làm ảnh hưởng đến sự bền vững về mặt tài chính của quỹ hưu trí. Do vậy, việc tiến hành tổ chức lại, cải cách hệ thống hưu trí để đảm bảo tính bền vững cho quỹ hưu trí là việc làm cần thiết được quan tâm và đặt ra. Theo đó, một trong những cách thức để cải cách hệ thống hưu trí mà các quốc gia thường áp dụng là điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu. Đây là một trong những giải pháp góp phần đảm bảo cho nguồn quỹ hưu trí được ổn định, đồng thời là phương cách để đối phó với tình trạng già hóa dân số. Bên cạnh đó, một nền kinh tế phát triển hay lạc hậu cũng có tác động, ảnh hưởng nhất định đến tính bền vững của quỹ hưu trí. Tựu trung lại, quỹ hưu trí cần được đảm bảo về mặt tài chính, đảm bảo khả năng thu - chi để thực hiện việc chi trả các quyền lợi hưu trí, góp phần đảm bảo thu nhập, bảo vệ cuộc sống cho cá nhân, NLĐ khi không còn khả năng lao động, khi hết tuổi làm việc.Theo: Phạm Thị ThiLink luận án:  Tại đây