0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64bf36815cc03-Tiêu-chí-xác-định-mức-độ-hoàn-thiện-pháp-luật-về-chế-độ-hưu-trí.jpg.webp

Tiêu chí xác định mức độ hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí

2.3. Tiêu chí xác định mức độ hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí

2.3.1. Tính toàn diện

Đây là tiêu chí cơ bản đầu tiên được sử dụng để đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về CĐHT nói riêng. Theo đó, để đảm bảo tính toàn diện thì pháp luật về CĐHT phải điều chỉnh, bao quát được toàn bộ các quan hệ xã hội phát sinh từ thực tiễn cuộc sống cũng như dự liệu được các vấn đề phát sinh từ quan hệ hưu trí như: quy định về quyền và nghĩa vụ của đối tượng tham gia; quy định về mức đóng góp, điều kiện hưởng, mức hưởng, thủ tục hưởng,…; quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật; có chính sách mở rộng diện bao phủ của CĐHT nói riêng, BHXH nói chung;… Nói cách khác, cần đảm bảo là không có một quan hệ xã hội nào liên quan đến hoạt động hưu trí nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật về CĐHT. Do vậy, để đảm bảo tính toàn diện thì pháp luật về CĐHT phải có đầy đủ các chế định pháp luật cũng như chứa đựng các QPPL để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội phát sinh từ quan hệ hưu trí.

2.3.2. Tính đồng bộ, thống nhất

Một hệ thống pháp luật đồng bộ thể hiện được tính nhất quán, thống nhất của chính hệ thống pháp luật đó. Do vậy, để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật thì cần phải xem xét đến các QPPL, bộ phận, chế định, quy định của hệ thống pháp luật đó có tự mâu thuẫn hay chồng chéo với nhau hay không . Trên cơ sở đó, tính đồng bộ và thống nhất của pháp luật về CĐHT cần đảm bảo các yêu cầu sau:

Một là, pháp luật về CĐHT phải đảm bảo tính nhất quán với toàn hệ thống pháp luật nói chung. Theo đó, có sự thống nhất giữa Luật BHXH với Hiến pháp; thống nhất giữa các văn bản Luật với nhau (giữa Luật BHXH năm 2014, BLLĐ năm 2019, Luật Việc làm năm 2013,…); thống nhất giữa các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định,…) với Luật BHXH năm 2014. Thậm chí, ngay cả đối với các quy định trong cùng một văn bản QPPL cũng không được mâu thuẫn, chồng chéo với nhau. Để đảm bảo được yêu cầu này đòi hỏi văn bản QPPL do cơ quan cấp dưới ban hành phải thống nhất, phù hợp với tinh thần và văn phong của văn bản QPPL do cấp trên ban hành.

Hai là, trong xu thế hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã trao cho Việt Nam những cơ hội lẫn thách thức trong vấn đề phát triển kinh tế, vấn đề về việc làm, trao đổi lao động,… Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về CĐHT còn phải xem xét đến tính tương đồng, hạn chế sự khác biệt với thông lệ quốc tế và các quốc gia trên thế giới trong việc ghi nhận tôn trọng các quyền con người trong lĩnh vực lao động, xây dựng cơ chế thực hiện, mở rộng hoạt động giao lưu, trao đổi lao động, cách thức tham gia, đóng góp vào quỹ hưu trí, về tuổi nghỉ hưu,… Qua đó, tạo điều kiện cho cá nhân, NLĐ và các chủ thể liên quan thực hiện các quyền pháp lý của mình cũng như có điều kiện để sử dụng, hưởng lợi các quyền lợi của con người.

2.3.3. Tính công bằng, bình đẳng

Pháp luật về CĐHT phải được xây dựng, ban hành không dựa trên sự phân biệt về địa vị kinh tế, xã hội, giới tính, thành phần tôn giáo,… Yêu cầu về tính công bằng, bình đẳng của pháp luật về CĐHT được thể hiện ở nhiều khía cạnh, phương diện, nội dung khác nhau. Đó có thể là sự bình đẳng về khả năng tiếp cận quyền được tham gia CĐHT của các cá nhân, NLĐ; bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; bình đẳng về mức hưởng, các loại quyền lợi được hưởng khi tham gia CĐHT theo các loại hình BHXB (bắt buộc và tự nguyện); và nhận được sự hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức liên quan trong quá trình thực hiện pháp luật;…. Nói cách khác, để đảm bảo tính công bằng, bình đẳng thì pháp luật về CĐHT không có sự phân biệt nào giữa các đối tượng, nhóm đối tượng tham gia các loại hình CĐHT của BHXH (bắt buộc và tự nguyện) hoặc cùng tham gia trong một loại hình CĐHT.

2.3.4. Tính phù hợp, khả thi

Thông qua các QPPL, pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống hàng ngày, nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự mà nhà nước mong muốn thiết lập. Do đó, nhằm tạo điều kiện để nhà nước thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình thì nội dung của hệ thống pháp luật phải tương quan, và phản ánh được trình độ phát triển của nền kinh tế, điều kiện xã hội, sức khỏe của người dân... Theo đó, hệ thống pháp luật không thể phát triển cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội . Có thể, một hệ thống pháp luật được xây dựng thống nhất, đồng bộ, không có sự chồng chéo, mâu thuẫn nhưng lại không phù hợp với trình độ phát triển của đất nước thì đó cũng chỉ là “hệ thống pháp luật ảo”, khó áp dụng vào trong cuộc sống, không mang tính khả thi. Nói cách khác, Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới có trách nhiệm chuyển quyền hưởng ASXH đã ghi nhận trong hệ thống pháp luật sang trạng thái có tính chất khả khi, chứ không để dưới dạng là “tuyên ngôn chính trị” .

Bên cạnh đó, khi ban hành pháp luật về CĐHT thì cũng cần cần xem xét đến các điều kiện khác của đất nước như: khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, trình độ đội ngũ cán bộ, trình độ văn hóa của người dân,… Bởi lẽ, đây là một trong những điều kiện quan trọng của việc áp dụng, thực hiện hiệu quả pháp luật về CĐHT vào cuộc sống. Như vậy, sự phù hợp của hệ thống văn bản QPPL về CĐHT với sự phát triển của đất nước, với quy luật kinh tế thị trường là điều kiện tiên quyết, quan trọng để đảm bảo cho hệ thống pháp luật có thể được thực thi, thực hiện có hiệu quả trong cuộc sống.

2.3.5. Tính công khai, minh bạch

Trong một xã hội ngày càng dân chủ, văn minh thì yêu cầu về tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về CĐHT nói riêng là yếu tố then chốt, quan trọng “để xây dựng quy tắc pháp quyền và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” .

Trước hết, tính công khai của pháp luật về CĐHT được thể hiện ở chỗ, mọi chủ thể (cá nhân, NLĐ, cơ quan, tổ chức, pháp nhân) đều có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận nội dung các quy định, chế định của pháp luật về CĐHT. Việc công khai này được thực hiện theo nhiều phương cách khác nhau: tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thông qua các phương tiện như: ti vi, báo, đài,…

Bên cạnh đó, tính công khai còn được thể hiện qua việc: khi có dự thảo luật, quy định pháp luật (mới hoặc sửa đổi, bổ sung) liên quan đến CĐHT thì cần công bố rộng rãi, tổ chức lấy ý kiến góp ý của NLĐ, người dân, chuyên gia, nhà khoa học đối với dự thảo trước khi được thông qua; cần công khai tổ chức phản biện xã hội đối với các dự thảo,…. Hoặc khi một văn bản luật hoặc dự thảo được thông qua thì cần công khai để công chúng tiếp cận, cũng như cần có thời gian hợp lý để thích nghi với quy định mới, tránh tình trạng “gây sốc” đối với các chủ thể liên quan, người dân gây ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về CĐHT.

Ngoài ra, để đảm bảo tính công khai, minh bạch thì về hình thức, pháp luật về CĐHT cần sử dụng ngôn từ trong sáng, rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu, đơn nghĩa, giúp các chủ thể có thể dễ dàng tiếp cận, nắm bắt được nội dung pháp luật, hiểu rõ các quy định pháp luật; quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình để thực hiện pháp luật hiệu quả. Trường hợp, nếu văn bản Luật chưa quy định rõ ràng thì cần phải kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành để quy định pháp luật về CĐHT sớm được áp dụng hiệu quả vào trong cuộc sống.

Như vậy, pháp luật về CĐHT cần phải công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho người dân dễ tiếp cận. Qua đó, tạo niềm tin cho người dân và góp phần nâng cao ý thức pháp luật của quần chúng nhân dân.

2.3.6. Tính ổn định

Tính ổn định của pháp luật về CĐHT thể hiện ở sự không thay đổi về mặt nội dung pháp luật trong một khoảng thời gian nhất định. Nói cách khác, để đảm bảo tính ổn định thì quy định pháp luật về CĐHT khi được ban hành không được thay đổi quá nhanh chóng; hay không rơi vào tình trạng quy định không phù hợp hoặc có lỗi dẫn đến việc không thể thực hiện mà phải có quy định sửa đổi, bổ sung thì quy định đó mới có hiệu lực thi hành, mới áp dụng được vào cuộc sống.

Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự xã hội, góp phần đảm bảo an ninh xã hội. Nếu pháp luật về CĐHT thường xuyên bị thay đổi sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng, thực hiện pháp luật trong cuộc sống; ảnh hưởng xấu đến sự ổn định tương đối của các quan hệ xã hội; thậm chí còn làm mất lòng tin của người dân đối với pháp luật. Do đó, nếu pháp luật về CĐHT mang tính ổn định sẽ đảm bảo sự ổn định trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, góp phần tạo điều kiện cho xã hội phát triển ổn định và bền vững.

Theo: Phạm Thị Thi

Link luận án:  Tại đây

avatar
Đặng Quỳnh
961 ngày trước
Tiêu chí xác định mức độ hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí
2.3. Tiêu chí xác định mức độ hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí2.3.1. Tính toàn diệnĐây là tiêu chí cơ bản đầu tiên được sử dụng để đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về CĐHT nói riêng. Theo đó, để đảm bảo tính toàn diện thì pháp luật về CĐHT phải điều chỉnh, bao quát được toàn bộ các quan hệ xã hội phát sinh từ thực tiễn cuộc sống cũng như dự liệu được các vấn đề phát sinh từ quan hệ hưu trí như: quy định về quyền và nghĩa vụ của đối tượng tham gia; quy định về mức đóng góp, điều kiện hưởng, mức hưởng, thủ tục hưởng,…; quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật; có chính sách mở rộng diện bao phủ của CĐHT nói riêng, BHXH nói chung;… Nói cách khác, cần đảm bảo là không có một quan hệ xã hội nào liên quan đến hoạt động hưu trí nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật về CĐHT. Do vậy, để đảm bảo tính toàn diện thì pháp luật về CĐHT phải có đầy đủ các chế định pháp luật cũng như chứa đựng các QPPL để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội phát sinh từ quan hệ hưu trí.2.3.2. Tính đồng bộ, thống nhấtMột hệ thống pháp luật đồng bộ thể hiện được tính nhất quán, thống nhất của chính hệ thống pháp luật đó. Do vậy, để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật thì cần phải xem xét đến các QPPL, bộ phận, chế định, quy định của hệ thống pháp luật đó có tự mâu thuẫn hay chồng chéo với nhau hay không . Trên cơ sở đó, tính đồng bộ và thống nhất của pháp luật về CĐHT cần đảm bảo các yêu cầu sau:Một là, pháp luật về CĐHT phải đảm bảo tính nhất quán với toàn hệ thống pháp luật nói chung. Theo đó, có sự thống nhất giữa Luật BHXH với Hiến pháp; thống nhất giữa các văn bản Luật với nhau (giữa Luật BHXH năm 2014, BLLĐ năm 2019, Luật Việc làm năm 2013,…); thống nhất giữa các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định,…) với Luật BHXH năm 2014. Thậm chí, ngay cả đối với các quy định trong cùng một văn bản QPPL cũng không được mâu thuẫn, chồng chéo với nhau. Để đảm bảo được yêu cầu này đòi hỏi văn bản QPPL do cơ quan cấp dưới ban hành phải thống nhất, phù hợp với tinh thần và văn phong của văn bản QPPL do cấp trên ban hành.Hai là, trong xu thế hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã trao cho Việt Nam những cơ hội lẫn thách thức trong vấn đề phát triển kinh tế, vấn đề về việc làm, trao đổi lao động,… Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về CĐHT còn phải xem xét đến tính tương đồng, hạn chế sự khác biệt với thông lệ quốc tế và các quốc gia trên thế giới trong việc ghi nhận tôn trọng các quyền con người trong lĩnh vực lao động, xây dựng cơ chế thực hiện, mở rộng hoạt động giao lưu, trao đổi lao động, cách thức tham gia, đóng góp vào quỹ hưu trí, về tuổi nghỉ hưu,… Qua đó, tạo điều kiện cho cá nhân, NLĐ và các chủ thể liên quan thực hiện các quyền pháp lý của mình cũng như có điều kiện để sử dụng, hưởng lợi các quyền lợi của con người.2.3.3. Tính công bằng, bình đẳngPháp luật về CĐHT phải được xây dựng, ban hành không dựa trên sự phân biệt về địa vị kinh tế, xã hội, giới tính, thành phần tôn giáo,… Yêu cầu về tính công bằng, bình đẳng của pháp luật về CĐHT được thể hiện ở nhiều khía cạnh, phương diện, nội dung khác nhau. Đó có thể là sự bình đẳng về khả năng tiếp cận quyền được tham gia CĐHT của các cá nhân, NLĐ; bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; bình đẳng về mức hưởng, các loại quyền lợi được hưởng khi tham gia CĐHT theo các loại hình BHXB (bắt buộc và tự nguyện); và nhận được sự hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức liên quan trong quá trình thực hiện pháp luật;…. Nói cách khác, để đảm bảo tính công bằng, bình đẳng thì pháp luật về CĐHT không có sự phân biệt nào giữa các đối tượng, nhóm đối tượng tham gia các loại hình CĐHT của BHXH (bắt buộc và tự nguyện) hoặc cùng tham gia trong một loại hình CĐHT.2.3.4. Tính phù hợp, khả thiThông qua các QPPL, pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống hàng ngày, nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự mà nhà nước mong muốn thiết lập. Do đó, nhằm tạo điều kiện để nhà nước thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình thì nội dung của hệ thống pháp luật phải tương quan, và phản ánh được trình độ phát triển của nền kinh tế, điều kiện xã hội, sức khỏe của người dân... Theo đó, hệ thống pháp luật không thể phát triển cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội . Có thể, một hệ thống pháp luật được xây dựng thống nhất, đồng bộ, không có sự chồng chéo, mâu thuẫn nhưng lại không phù hợp với trình độ phát triển của đất nước thì đó cũng chỉ là “hệ thống pháp luật ảo”, khó áp dụng vào trong cuộc sống, không mang tính khả thi. Nói cách khác, Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới có trách nhiệm chuyển quyền hưởng ASXH đã ghi nhận trong hệ thống pháp luật sang trạng thái có tính chất khả khi, chứ không để dưới dạng là “tuyên ngôn chính trị” .Bên cạnh đó, khi ban hành pháp luật về CĐHT thì cũng cần cần xem xét đến các điều kiện khác của đất nước như: khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, trình độ đội ngũ cán bộ, trình độ văn hóa của người dân,… Bởi lẽ, đây là một trong những điều kiện quan trọng của việc áp dụng, thực hiện hiệu quả pháp luật về CĐHT vào cuộc sống. Như vậy, sự phù hợp của hệ thống văn bản QPPL về CĐHT với sự phát triển của đất nước, với quy luật kinh tế thị trường là điều kiện tiên quyết, quan trọng để đảm bảo cho hệ thống pháp luật có thể được thực thi, thực hiện có hiệu quả trong cuộc sống.2.3.5. Tính công khai, minh bạchTrong một xã hội ngày càng dân chủ, văn minh thì yêu cầu về tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về CĐHT nói riêng là yếu tố then chốt, quan trọng “để xây dựng quy tắc pháp quyền và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” .Trước hết, tính công khai của pháp luật về CĐHT được thể hiện ở chỗ, mọi chủ thể (cá nhân, NLĐ, cơ quan, tổ chức, pháp nhân) đều có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận nội dung các quy định, chế định của pháp luật về CĐHT. Việc công khai này được thực hiện theo nhiều phương cách khác nhau: tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thông qua các phương tiện như: ti vi, báo, đài,…Bên cạnh đó, tính công khai còn được thể hiện qua việc: khi có dự thảo luật, quy định pháp luật (mới hoặc sửa đổi, bổ sung) liên quan đến CĐHT thì cần công bố rộng rãi, tổ chức lấy ý kiến góp ý của NLĐ, người dân, chuyên gia, nhà khoa học đối với dự thảo trước khi được thông qua; cần công khai tổ chức phản biện xã hội đối với các dự thảo,…. Hoặc khi một văn bản luật hoặc dự thảo được thông qua thì cần công khai để công chúng tiếp cận, cũng như cần có thời gian hợp lý để thích nghi với quy định mới, tránh tình trạng “gây sốc” đối với các chủ thể liên quan, người dân gây ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về CĐHT.Ngoài ra, để đảm bảo tính công khai, minh bạch thì về hình thức, pháp luật về CĐHT cần sử dụng ngôn từ trong sáng, rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu, đơn nghĩa, giúp các chủ thể có thể dễ dàng tiếp cận, nắm bắt được nội dung pháp luật, hiểu rõ các quy định pháp luật; quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình để thực hiện pháp luật hiệu quả. Trường hợp, nếu văn bản Luật chưa quy định rõ ràng thì cần phải kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành để quy định pháp luật về CĐHT sớm được áp dụng hiệu quả vào trong cuộc sống.Như vậy, pháp luật về CĐHT cần phải công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho người dân dễ tiếp cận. Qua đó, tạo niềm tin cho người dân và góp phần nâng cao ý thức pháp luật của quần chúng nhân dân.2.3.6. Tính ổn địnhTính ổn định của pháp luật về CĐHT thể hiện ở sự không thay đổi về mặt nội dung pháp luật trong một khoảng thời gian nhất định. Nói cách khác, để đảm bảo tính ổn định thì quy định pháp luật về CĐHT khi được ban hành không được thay đổi quá nhanh chóng; hay không rơi vào tình trạng quy định không phù hợp hoặc có lỗi dẫn đến việc không thể thực hiện mà phải có quy định sửa đổi, bổ sung thì quy định đó mới có hiệu lực thi hành, mới áp dụng được vào cuộc sống.Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự xã hội, góp phần đảm bảo an ninh xã hội. Nếu pháp luật về CĐHT thường xuyên bị thay đổi sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng, thực hiện pháp luật trong cuộc sống; ảnh hưởng xấu đến sự ổn định tương đối của các quan hệ xã hội; thậm chí còn làm mất lòng tin của người dân đối với pháp luật. Do đó, nếu pháp luật về CĐHT mang tính ổn định sẽ đảm bảo sự ổn định trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, góp phần tạo điều kiện cho xã hội phát triển ổn định và bền vững.Theo: Phạm Thị ThiLink luận án:  Tại đây